NSƯT Minh Thành: 'Sân khấu cải lương bất lực trước đời sống hiện đại'
- Thứ năm - 18/01/2018 16:26
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
MT
Nghệ
sĩ
Minh
Thành
là
một
trong
số
ít
diễn
viên
cải
lương
miền
Bắc
nổi
tiếng.
Giữa
những
năm
80
của
thế
kỷ
trước,
Minh
Thành
sóng
đôi
Thanh
Thanh
Hiền
trở
thành
cặp
nghệ
sĩ
của
Nhà
hát
Cải
lương
Việt
Nam
tạo
dấu
ấn
đậm
nét
trong
lòng
công
chúng
qua
những
tác
phẩm
như
Đôi
dòng
sữa
mẹ,
Biển
tình
cay
đắng,
Khi
thành
phố
lên
đèn,
Chuyện
tình
hai
kẻ
thù...
Khán
giả
mê
nghệ
thuật
dân
tộc
đặt
cho
ông
danh
hiệu
"Hoàng
tử
cải
lương
đất
Bắc".
Về
hưu
chừng
bốn
năm,
điều
khiến
nghệ
sĩ
đau
đáu
là
phần
đông
khán
giả
đương
thời
ít
quan
tâm
đến
loại
nghệ
thuật
ca
kịch
dân
tộc,
trong
đó
có
cải
lương.
Bộ
môn
truyền
thống
ấy
ngày
một
vắng
người
xem
và
loay
hoay
tìm
đường
khởi
sắc.
-
Sau
khi
về
hưu,
cuộc
sống
hiện
tại
của
ông
như
thế
nào?
-
Bốn
năm
nay,
tuy
không
còn
tham
gia
diễn
xuất,
tôi
vẫn
theo
dõi
tình
hình
phát
triển
của
nhà
hát
và
thường
xuyên
cùng
đồng
nghiệp
giao
lưu
văn
nghệ.
Hàng
ngày,
ngoài
công
việc
đưa
đón
cháu
nội
đi
học,
tôi
có
thú
vui
chăm
sóc
cây
cảnh
và
nuôi
chim.
Đấy
là
cách
để
tuổi
già
bớt
nhàm
chán
và
tinh
thần
được
thư
thái.
Con
trai
út
sắp
lấy
vợ
nữa
nên
gia
đình
tôi
phấn
khởi
chào
đón
thành
viên
mới.

Nghệ
sĩ
Ưu
tú
Minh
Thành
hơn
40
năm
gắn
bó
với
sân
khấu
cải
lương.
-
Hơn
40
năm
gắn
bó
với
sân
khấu
cải
lương,
ông
nhìn
nhận
ra
sao
về
sự
phát
triển
của
loại
hình
nghệ
truyền
thống
này
hiện
nay?
-
Thời
kỳ
hoàng
kim
của
sân
khấu
cải
lương
đã
qua
nhưng
cách
không
xa
thời
nay
là
bao.
Hiện
nay,
sân
khấu
cải
lương
Bắc
thiếu
sức
hút
và
không
nhận
được
nhiều
sự
đón
nhận,
quan
tâm
của
công
chúng.
Tuy
nhiên,
sân
khấu
truyền
thống
vắng
khách
là
điều
không
thể
tránh
trong
đời
sống
hiện
đại,
không
thể
trách
khán
giả.
Người
xem
bây
giờ
có
nhiều
loại
hình
giải
trí
để
lựa
chọn.
Sân
khấu
cải
lương
bất
lực
nên
không
theo
kịp.
Đời
sống
của
nghệ
sĩ
khó
khăn
cũng
là
nguyên
nhân
dẫn
đến
thực
trạng
mai
một
của
loại
hình
nghệ
thuật
truyền
thống
này.
Trải
qua
những
năm
tháng
thoái
trào
của
sân
khấu
cải
lương,
tôi
chứng
kiến
nhiều
nghệ
sĩ
trẻ
của
Nhà
hát
phải
bươn
chải
làm
thêm
để
"lấy
ngắn
nuôi
dài".
Lương
không
đủ
chi
trả
sinh
hoạt
phí,
diễn
viên
chuyển
sang
hát
nhạc
nhẹ,
làm
MC
đám
cưới.
Chính
điều
này
dẫn
đến
tình
trạng
không
ít
nghệ
sĩ
xao
lãng
nghề
tổ,
chất
giọng
bị
pha
tạp.
-
Những
kỷ
niệm
nào
đáng
nhớ
trong
ông
về
thời
hoàng
kim
của
sân
khấu
cải
lương?
-
Thời
hoàng
kim
của
sân
khấu
cải
lương
là
những
năm
80
đến
nửa
cuối
thập
niên
90
của
thế
kỷ
trước.
Tại
Hà
Nội,
rạp
Hồng
Hà
-
địa
điểm
hoạt
động
chính
của
Nhà
hát
Cải
lương
Trung
ương
(nay
là
Nhà
hát
Cải
lương
Việt
Nam)
-
liên
tục
sáng
đèn.
Thời
ấy
không
có
sự
bùng
nổ
các
loại
hình
giải
trí
mới
lạ
như
hiện
nay.
Khán
giả
thưởng
thức
cải
lương
qua
đài
cassette
và
tập
trung
tại
các
tụ
điểm
sinh
hoạt
văn
nghệ.
Tôi
nhớ
có
những
ngày
đoàn
phải
tăng
ca
diễn
ba
suất
một
vở.
Giờ
giải
lao,
giữ
nguyên
lớp
hóa
trang
trên
mặt,
diễn
viên
ăn
lót
dạ
rồi
vội
vàng
di
chuyển
từ
rạp
Hồng
Hà
sang
Cung
Văn
hóa
Hữu
nghị
Việt
Xô
rồi
Nhà
hát
Lớn
Hà
Nội
để
phục
vụ
khán
giả.
Tối
về,
ai
nấy
đều
mệt
lả.
Nhiều
hôm,
tôi
không
thể
ăn
được,
chỉ
húp
cháo
tẩm
bổ.
Vở
Khi
thành
phố
lên
đèn
diễn
tại
Hải
Phòng
mười
đêm
liên
tục,
Đôi
dòng
sữa
mẹ
diễn
một
ngày
ba
suất,
giấy
đăng
ký
nhận
vé
xem
Biển
tình
cay
đắng
-
chuyển
thể
từ
tiểu
thuyết
Mùa
tôm
(Ấn
Độ)
-
xếp
hàng
chồng
nên
Nhà
hát
chỉ
duyệt
mỗi
khán
giả
nhận
từ
hai
đến
ba
vé.
Sau
đêm
diễn
ở
Nhà
hát
Nhân
dân
Sơn
Tây,
đoàn
phải
dùng
bao
tải
để
đựng
tiền
thưởng
từ
khán
giả
-
loạt
tờ
200
đồng.
Những
chuyến
lưu
diễn
liên
tỉnh,
đoàn
phải
dựng
sân
khấu
ngoài
trời
mới
thỏa
mãn
nhu
cầu
của
người
dân
địa
phương.
Giữa
những
năm
1980,
chúng
tôi
diễn
ở
Nhà
hát
Nhân
dân
tỉnh
Thanh
Hóa.
Đêm
ấy
ước
chừng
một
vạn
khán
giả.
Khi
đoàn
diễn
trên
Yên
Bái,
trẻ
con
địa
phương
đến
từ
ba
giờ
chiều,
trải
chiếu
xếp
chỗ
ngồi.
Người
dân
kéo
đến
xem
ngày
một
đông
đến
nỗi
xô
đổ
cửa
nhà
văn
hóa.
Mỗi
khi
dời
điểm
diễn,
dàn
diễn
viên
chưa
khi
nào
về
tay
không
bởi
chúng
tôi
được
người
dân
biếu
gà,
tặng
buồng
cau,
nải
chuối
làm
quà.

Cặp
nghệ
sĩ
Thanh
Thanh
Hiền
(trái)
-
Minh
Thành
trong "Chuyện tình hai kẻ thù" năm 1994.
trong "Chuyện tình hai kẻ thù" năm 1994.
-
Ông
và
NSƯT
Thanh
Thanh
Hiền
từng
sóng
đôi
trong
nhiều
vở
diễn
và
là
cặp
nghệ
sĩ
nổi
tiếng
một
thời
của
Nhà
hát
Cải
lương
Việt
Nam.
Ông
nhớ
kỷ
niệm
gì
về
bạn
diễn
của
mình?
-
Tôi
gặp
Thanh
Thanh
Hiền
lần
đầu
vào
năm
1980
khi
diễn
ở
rạp
Quyết
Tiến
(Thái
Nguyên).
Khi
đó,
Hiền
chưa
theo
học
tại
Nhà
hát
Cải
lương
Trung
ương.
Sau
này,
Hiền
thi
đỗ
và
sinh
hoạt
chuyên
môn
tại
đoàn
một
của
Nhà
hát.
Lần
đầu
chúng
tôi
song
ca
trong
nhạc
phẩm
Cô
gái
tưới
đậu
ở
tình
thế
bất
đắc
dĩ.
Ngày
đó,
Thanh
Thanh
Hiền
chừng
15
tuổi,
thuộc
lớp
diễn
viên
trẻ.
Trong
lần
biểu
diễn
tại
Hữu
Lũng
(Lạng
Sơn),
diễn
viên
đóng
cặp
cùng
tôi
nghỉ
đột
xuất.
Theo
sự
điều
động,
tôi
sang
đoàn
một
để
hòa
giọng
cùng
Thanh
Thanh
Hiền
trong
tiết
mục
văn
nghệ.
Diễn
với
Hiền
quả
thực
tôi
rất
lo
vì
cả
hai
chưa
hát
chung
bao
giờ.
Hai
chú
cháu
ngồi
trên
xe
ôtô
tranh
thủ
tập
thoại
một
lần
rồi
lên
sân
khấu
diễn
luôn.
Đến
giờ,
tôi
vẫn
còn
cảm
giác
rợn
người
vì
bất
ngờ
trước
khả
năng
ứng
biến,
ăn
khớp
trong
từng
động
tác
của
Thanh
Thanh
Hiền.
Từ
đấy,
chúng
tôi
bắt
cặp
trong
các
vở
Đôi
dòng
sữa
mẹ,
Biển
tình
cay
đắng,
Chuyện
tình
hai
kẻ
thù...
Chúng
tôi
diễn
ăn
ý
đến
mức
khán
giả
gọi
điện
đến
Đài
tiếng
nói
Việt
Nam
hỏi
tôi
và
Thanh
Thanh
Hiền
có
phải
vợ
chồng
ngoài
đời.
Về
sau,
tôi
phải
đính
chính
chúng
tôi
là
bạn
ca,
đời
thường
xưng
hô
chú
cháu.
Tôi
hay
đùa
với
bà
xã
rằng
cuộc
đời
tôi
có
hai
người
vợ.
Thanh
Thanh
Hiền
không
chỉ
là
vợ
trên
sân
khấu
mà
còn
là
bạn
ăn
ý
cả
trong
lối
sống.
Trong
sự
nghiệp,
tôi
đã
đóng
cặp
với
rất
nhiều
nữ
nghệ
sĩ
nhưng
chưa
ai
đủ
khả
năng
thay
thế
được
Thanh
Thanh
Hiền.
-
Ông
nghĩ
gì
về
sự
phát
triển
của
sân
khấu
cải
lương
trong
tương
lai?
-
Sân
khấu
cải
lương
khó
trở
lại
thời
kỳ
đỉnh
cao
nhưng
tôi
tin
nó
sẽ
không
bao
giờ
mất
đi.
Như
bao
đồng
nghiệp,
tôi
hy
vọng
nhà
nước
có
chính
sách
chăm
lo
đời
sống
nghệ
sĩ,
đặc
biệt
là
diễn
viên
ngành
ca
kịch
dân
tộc.
Tôi
nghĩ:
"Có
bột
mới
gột
nên
hồ",
đời
sống
diễn
viên
chưa
đảm
bảo
thì
sao
họ
có
thể
chuyên
tâm
với
nghề.
Bên
cạnh
đó,
đội
ngũ
sáng
tác
cũng
cần
phải
được
đào
tạo
bài
bản,
chuyên
sâu
nhằm
tạo
ra
những
tác
phẩm
hay,
phục
vụ
thị
hiếu
khán
giả
đương
đại.
Trọng
Trường /
vnexpress.net