Nghệ sĩ MINH TIẾN: TÀI KHÔNG ĐỢI TUỔI
- Thứ hai - 07/10/2013 09:45
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Trên sân khấu cải lương ngày trước, những nghệ sĩ nhí có tài ca diễn, được khán giả yêu thích thường được gọi là thần đồng, như dự báo tương lai sáng lạn… Nhưng hầu hết những thần đồng ấy chỉ hay khi còn ở tuổi thiếu nhi, đến tuổi thanh niên tưởng như tài năng sẽ phát triển hơn hóa ra lại tịt ngòi, thậm chí mau chóng chìm vào quên lãng, vì chẳng có duyên nghề, rất ít trong số đó thành công khi là người lớn. Trong số ít thần đồng nên danh, nên phận, trở thành nghệ sĩ có tên tuổi có thần đồng Quốc Tiến…
Tên
thật
là
Dương
Quốc
Hoa,
sanh
năm
1960
(Canh
Tý)
quê
cha
đất
tổ
ở
huyện
Lai
Vung,
tỉnh
Đồng
Tháp,
là
con
trai
duy
nhất
trong
gia
đình,
có
hai
chị
và
một
em
gái,
người
chị
lớn
ở
nhà
giữ
đất
hương
hỏa,
người
chị
kế
là
nghệ
sĩ
Phượng
Mai
(diễn
viên
đoàn
Trung
Hiếu,
không
phải
nghệ
sĩ
Phượng
Mai
hải
ngoại).
Em
gái
Út
là
NSUT
Phượng
Hằng.
Từ
nhỏ,
năm
1959
vừa
tròn
hai
tuổi,
đã
theo
cha
mẹ
sống
trong
đoàn
hát,
đó
là
đoàn
Huy
Hoàng
Cửu
Long
–
Ba
Xây.
Đến
năm
1963
thì
về
đoàn
Tinh
Hoa.
Năm
sáu
tuổi
đã
bước
lên
sân
khấu
nhưng
chưa
có
lương
hàng
đêm.
Hồi
nhỏ
rất
mê
giọng
ca
Minh
Cảnh,
Quốc
Tiến
có
làn
hơi
rất
tốt
nên
được
tác
giả
Điêu
Huyền
rất
thương,
thường
lấy
đờn
violon
dạy
Tiến
ca.
Lại
có
nhạc
sĩ
Hai
Phết
đờn
sến,
đờn
kìm
của
đoàn
Tinh
Hoa,
rảnh
rỗi
hay
dợt
bài
bản,
vọng
cổ.
Ngay
từ
nhỏ,
Tiến
đã
ca
rất
vững
vàng,
nhớ
lần
đầu
tiên
bước
lên
sân
khấu,
được
chị
Bích
Thủy
(vợ
nghệ
sĩ
Hữu
Tài)
và
NSUT
Hữu
Lộc
(lúc
đó
là
đào,
kép
chánh
của
đoàn
Tinh
Hoa)
làm
mặt
cho.
Thấy
con
nít
đi
theo
đoàn
hát
không
được
học
chữ,
anh
Bé
Ba
(hiện
nay
là
trụ
trì
chùa
Phật
Cô
Đơn,
pháp
danh
Thầy
Minh
Tài)
đã
bỏ
công
ra
dạy
cho
lớp
con
nít
ở
trong
đoàn,
nhờ
vậy
mà
Tiến
không
bị
dốt
chữ.
Nhớ
lại
Tiến
rất
biết
ơn
và
thương
mến
những
người
thầy
đầu
tiên
ấy.
Năm
Quốc
Tiến
đúng
tám
tuổi
đã
hát
được
nhiều
vai
kép
con
quan
trọng
nên
được
bà
bầu
Mười
Cơ
cho
hưởng
lương
hằng
đêm,
vậy
là
chánh
thức
kể
từ
đó,
Quốc
Tiến
trở
thành
một
nghệ
sĩ
chuyên
nghiệp.
Vốn
lanh
lợi
nên
Quốc
Tiến
hát
rất
nhiều
loại
vai,
nổi
tiếng
với
biệt
danh
“thần
đồng
Quốc
Tiến”.
Trong
đoàn
Tinh
Hoa
có
hề
chánh
Văn
Đỏ,
ca
rất
giống
danh
hài
Văn
Hường,
khán
giả
rất
thích
anh
hát.
Năm
1971,
khi
đoàn
Tinh
Hoa
đang
lưu
diễn
tại
miền
Trung,
Văn
Đỏ
bị
bắt
quân
dịch,
đoàn
không
có
người
hát
thay,
Quốc
Tiến
đã
tình
nguyện
hát
thế
vai
anh
hề
chánh,
phải
vẽ
râu,
hóa
trang
cho
già
đi
để
che
lấp
mặt
mũi
con
nít.
Ở
trong
đoàn
nhiều
năm
nên
vai
nào
cũng
thuộc,
có
thể
nói
Tiến
thuộc
hết
các
tuồng
của
đoàn
từ
lời
ca,
câu
thoại,
diễn
xuất
của
các
nghệ
sĩ,
nên
thiếu
vai
nào
Tiến
đều
hát
thay
tròn
vai
đó.
Đặc
biệt
khi
hát
thay
Văn
Đỏ,
Quốc
Tiến
đã
làm
cho
cả
đoàn
Tinh
Hoa
thời
ấy
bất
ngờ,
còn
nhỏ
mà
diễn
như
người
lớn,
chọc
cho
khán
giả
cười
nghiêng
ngã,
khi
vô
vọng
cổ
được
vỗ
tay
tán
thưởng
rần
rần.
Con
nít
theo
đoàn
hát
thường
rất
ma
lanh,
tiền
hát
được
ngoài
phần
đưa
cho
cha
mẹ,
số
còn
lại
Tiến
dành
dụm
làm
vốn
cho
vay
tiền
góp.
Mười
hai
tuổi
là
chủ
nợ
của
nhiều
người
lớn
trong
đoàn,
nhờ
dễ
thương,
đâu
ra
đó
nên
rất
được
người
lớn
tín
nhiệm.
Có
thể
nói
từ
8
tuổi
trở
đi
Tiến
đã
biết
tự
làm
ra
tiền.
ĐỔI
NGHỆ
DANH
MINH
TIẾN
Lúc
nhỏ
Tiến
hay
chơi
chung
với
Chí
Tâm,
lúc
này
Chí
Tâm
đang
hát
kép
con
cho
đoàn
Tinh
Hoa.
Thích
giọng
ca
Chí
Tâm
nên
cũng
bắt
chước
ca
cho
giống.
Khoảng
13
-14
tuổi
nghe
Minh
Vương
ca,
thích
quá
lại
bắt
chước
Minh
Vương.
Ông
Mười
Quang
(tác
giả
Trần
Nhật
Quang
ông
bầu
đoàn
Tinh
Hoa)
nghe,
khen
Tiến
ca
hay
mới
đổi
Quốc
Tiến
thành
Minh
Tiến
cho
sáng
hơn,
vì
lúc
đó
Minh
Vương
vừa
nổi
lên,
là
ngôi
sao
mới
rất
được
khán
giả
yêu
thích.
Suốt
quãng
đời
tuổi
thơ
của
mình
Minh
Tiến
có
nhiều
kỷ
niệm
sâu
sắc
với
đoàn
Tinh
Hoa,
những
cô
chú,
anh
chị
nghệ
sĩ,
công
nhân
trong
đoàn
như
những
người
thân
trong
gia
đình
đã
thương
yêu,
dạy
dỗ
cho
Minh
Tiến
rất
nhiều.
Minh
Tiến
nhớ
Đắc
Thành,
Vũ
Huy
Long
(Mộng
Long),
Dương
Chí
Dũng,
Hữu
Lợi,
Minh
Đông,
Minh
Minh
Cảnh,
Tuyết
Mai,
Ngọc
Thanh,
Liên
Chi,
Trang
Kim
Nguyệt,
Bích
Thủy,
Hữu
Lộc,
Hữu
Tài,
Hữu
Huỳnh,
Thanh
Hoàng,
Thanh
Muôn,
hè
Nheo,
hề
Dừa,
hề
Văn
Đỏ…
Nhiều
thế
hệ
nghệ
sĩ
thay
nhau
diễn
cho
đoàn
Tinh
Hoa.
Giờ
đây
người
mất,
người
già,
người
còn
gặp
lại,
người
chẳng
biết
nơi
đâu,
họ
là
những
người
thầy,
đồng
nghiệp
lớn
tuổi,
từ
họ
Minh
Tiến
đã
học
rất
nhiều
từ
cuộc
đời
đến
sân
khấu.
Những
năm
tháng
bôn
ba
với
sự
nghiệp
không
có
thời
gian
trở
về
quá
khứ,
đến
khi
lắng
lòng
thì
bao
nhiêu
chuyện
ngày
xưa
bỗng
hiện
ra,
nhớ
mà
tuôn
trào
nước
mắt…
Minh
Tiến
hát
thêm
vài
năm
nữa,
đến
1975,
vừa
tròn
16
tuổi
bị
bể
hơi
không
ca
được.
Lúc
này
đất
nước
mới
hòa
bình
thống
nhất,
các
đoàn
tư
nhân
thành
đoàn
tập
thể,
hay
giải
tán
nhập
vào
các
đoàn
quốc
daonh,
đoàn
Tinh
Hoa
ngưng
hoạt
động,
nghệ
sĩ
tứ
tán.
Minh
Tiến
và
một
số
người
về
đoàn
Văn
Công
Giải
Phóng
Khu
Đông
Nam
Bộ
thuộc
tỉnh
Đồng
Nai.
Vì
không
thể
ca
vọng
cổ,
Minh
Tiến
hát
dàn
bao.
Dần
dần
qua
cơn
bể
tiếng,
làn
hơi
mới
của
một
chàng
trai
15,
16
tuổi,
trong
vang,
khỏe
khoắn
được
hình
thành,
Minh
Tiến
về
hát
chánh
cho
đoàn
Miền
Tây
tỉnh
Hậu
Giang.
Giọng
con
nít
không
còn,
Minh
Tiến
bắt
đầu
chuyển
qua
giọng
Chí
Tâm,
Hùng
Cường,
Thanh
Tuấn.
Bao
lần
sang
lọc,
cuối
cùng
cách
ca
của
Thanh
Tuấn
phù
hợp
nhất
với
chất
giọng
của
Minh
Tiến,
và
đã
được
định
hình
từ
năm
1977
cho
đến
ngày
nay.
Chuyện
nghệ
sĩ
trẻ
học
và
bắt
chước
theo
cách
ca
của
thần
tượng
là
chuyện
bình
thường
trên
sân
khấu
cải
lương,
khởi
đầu
ai
cũng
cần
có
một
cái
chuẩn
để
học
theo,
khi
đã
chín
chắn,
đủ
lực
rồi
mới
sáng
tạo
tìm
ra
con
đường
khác
mà
đi,
tạo
nét
riêng
cho
mình.
Minh
Tiến
ca
rất
phong
phú,
hấp
dẫn
người
nghe
nhờ
đã
học,
rút
ra
được
những
tuyệt
chiêu
của
thần
tượng
biến
hóa
ra
thành
của
mình.
TÁI
HỢP
VỚI
ĐOÀN
TINH
HOA
(VŨNG
TÀU)
Ông Mười Quang và bà Mười Cơ lập lại đoàn Tinh Hoa, mời Minh Tiến trở lại hát chánh cho đoàn, đăng ký ở Vũng Tàu. Năm đó Minh Tiến vừa 18 tuổi, phải hát với những nghệ sĩ đàn chị như Diệu Hiền, Loan Thảo, Diệp Tuyết Anh, để xứng đào, một lần nữa trên sấn khấu Tinh Hoa, Minh Tiến phải vẽ râu để hát kép chánh. Sau này các đàn chị ra đi, cộng tác với đoàn khác, một số diễn viên trẻ như Hồng Nhung, Hạnh Nga được mời về cho hợp lứa với Minh Tiến. Những vở cải lương: Phạm Công Cúc Hoa (2 hồi) được diễn liên tiếp 2 đêm, Ngai vàng và nữ tướng, Lá sầu riêng, Đẹp mối tình xưa… trở thành những vở có số doanh thu cao nhất của đoàn, các sân bãi có sức chứa 5, 7 ngàn người đều đầy kín, bộ 3 Minh Tiến, Hồng Nhung, Hạnh Nga được khán giả các nơi đoàn Tinh Hoa Vũng Tà diễn qua coi là trở thành thần tượng, những nghệ sĩ trẻ được yêu mến nhất thời đó. Mười chín tuổi Minh Tiến trở thành ngôi sao trẻ nhất, rất ăn khách, đã biết đi xe hơi, đưa gia đình thoát ra khỏi cảnh nghèo khó, bao nhiêu năm cha mẹ, chị em là những người làm công, nghệ sĩ có vị trí rất khiêm tốn trong đoàn, sao với một số kép chánh đồng thời, trang lứa, Minh Tiến ở thời điểm đó là người có tiếng tăm vượt trội hơn, làm nhiều tiền hơn. Người ta thường nói thời hoàng kim của cải lương hát cái gì cũng đông. Thật ra không phải vậy, có nhiều đoàn, nhiều nghệ sĩ, khán giả có nhiều chọn lựa, số đoàn hát có lượng khán giả đông hàng ngàn người không nhiều, chỉ đếm trên đầu ngón tay, vẫn còn rất nhiều đoàn thua lỗ, không bán vé được. Thời nào cũng phải hay, phải chất lượng mới thu hút được khán giả. Thời vàng son của mình ở đoàn Tinh Hoa, Minh Tiến từng vượt mặt nhiều đàn anh tên tuổi, nhiều đoàn lớn khác khi đụng với Tinh Hoa, đều không doanh thu bằng. Khán giả rất tinh tường khi bỏ tiền ra mua vé vào xem hát…
DUYÊN
NỢ
VỚI
TÂY
NINH
Giữa
lúc
Minh
Tiến
và
đoàn
Tinh
Hoa
tưởng
như
một
đại
gia
đình
thì
biến
cố
xảy
ra…
Vì
bất
đồng
quan
điểm
với
bà
bầu
Mười
Cơ
mà
cả
nhà
Minh
Tiến
từ
cha
mẹ
anh
chị
em
đã
rời
khỏi
đoàn
Tinh
Hoa,
tìm
một
chân
trời
khác
để
sống.
Sự
chia
ly
của
hai
gia
đình
mấy
mươi
năm
tình
nghĩa
là
điều
đáng
tiếc.
Sau
này,
khi
đoàn
Tinh
Hoa
không
còn,
bà
Mười
Cơ
ghé
thăm
gia
đình
ba
má
của
Minh
Tiến,
tình
nghĩa
của
họ
vẫn
như
xưa,
có
gì
chăng
nữa
thì
hai
gia
đình
đã
như
ruột
thịt,
đã
cùng
chia
ngọt
sẻ
bùi,
gian
lao
cực
khổ,
suốt
từ
thời
kỳ
chiến
tranh
cho
tới
hòa
bình.
Từ
thuở
Minh
Tiến,
Phượng
Hằng,
Kim
Thoa
còn
là
những
đứa
trẻ
hồn
nhiên,
vô
tư.
Khi
trưởng
thành,
Minh
Tiến
biết
mình
phải
làm
gì,
dẫu
sao
địa
vị
của
hai
nhà
thời
đó
khác
nhau,
một
bên
là
bầu
chủ,
một
bên
là
người
làm
công,
tình
cảm
có
đậm
đà
như
thế
nào
chăng
nữa
vẫn
không
tránh
khỏi
chút
tự
ti,
mặc
cảm,
sự
ngăn
cách
vô
hình
ấy
đã
đẩy
Minh
Tiến
một
đi
không
bao
giờ
trở
lại
đoàn
Tinh
Hoa,
dù
cho
tới
bây
giờ
kỷ
niệm
với
đoàn
Tinh
Hoa
là
một
phần
đời
trong
trái
tim
của
Minh
Tiến
và
gia
đình.
Năm
1982,
Minh
Tiến
chính
thức
rời
khỏi
đoàn
Tinh
Hoa.
Là
một
nghệ
sĩ
trẻ
đang
thu
hút
khách
nên
Minh
Tiến
không
khó
chọn
cho
mình
một
bến
đỗ
mới.
Đoàn
cải
lương
Phước
Chung
với
thành
phần
nghệ
sĩ
Phượng
Nhung,
Phương
Loan,
Kim
Hương,
Phương
Trúc
Bình,
Công
Tài,
Hoàng
Minh
Vương
đã
mời
Minh
Tiến
về
hát
kép
chánh.
Ở
TP.HCM
một
thời
gian,
Minh
Tiến
quyết
định
đi
lưu
diễn
ở
tình
bởi
thời
đó
thu
nhập
của
một
diễn
viên
chính
ở
thành
phố
rất
thấp
so
với
hát
ở
tỉnh.
Nghĩ
mình
còn
trả,
có
thể
quay
trở
lại
thành
phố
tạo
danh,
khi
có
đủ
điều
kiện
kinh
thế
để
trang
trải
cho
gia
đình,
một
lần
nữa
Minh
Tiến
lại
ra
đi…
Đoàn
cải
lương
Tiếng
Hát
Tây
Ninh
của
bầu
Minh
Phục,
Võ
Ngọc
Phi
đã
rước
Minh
Tiến
về
hát
chánh
với
dàn
nghệ
sĩ
rất
trẻ
gồm
có
Phương
Hồng
Thủy,
Phượng
Hằng,
Thái
Kim
Hằng,
Ngọc
Minh…
Người
dân
Tây
Ninh
rất
yêu
mến
Minh
Tiến
từ
thời
còn
diễn
cho
đoàn
Tinh
Hoa,
biết
Minh
Tiến
về
đăng
ký
tại
địa
phương
nhà,
họ
càng
yêu
mến
nhiều
hơn
và
những
đêm
diễn
của
đoàn
Tiếng
Hát
Tây
Ninh
luôn
chật
cứng
khán
giả.
Hai
tâm
hồn
trẻ
gặp
nhau,
một
người
là
con
gái
cưng
của
ông
bà
bầu,
cùng
là
bạn
diễn
chính
với
nhau
hàng
đêm,
một
người
là
kép
chánh,
một
ngôi
sao
trẻ,
rất
trẻ
đang
được
khán
giả
hâm
mộ,
tình
yêu
trên
sân
khấu
đã
đưa
họ
đến
gần
nhau,
không
lâu
sau
đó,
Minh
Tiến
chính
thức
thành
hôn
với
cô
đào
Ngọc
Minh
trở
thành
con
rể
trong
gia
đình
Minh
Phục
–
Bầu
Phi.
Cuộc
tình
của
hai
người
đã
bền
vững
cho
tới
hôm
nay,
các
con
lớn
đều
học
hết
đại
học,
con
gái
lớn
đã
lập
gia
đình
và
đôi
nghệ
sĩ
Minh
Tiến,
Ngọc
Minh
đã
trở
thành
ông
bà
ngoại.
Đôi
vợ
chồng
Minh
Tiến,
Ngọc
Minh
cũng
là
trường
hợp
hiếm
trong
giới
nghệ
sĩ.
Từ
khi
có
chồng
sanh
con,
ngoài
việc
hát
đào
chánh
trên
sân
khấu,
thời
gian
còn
lại
Ngọc
Minh
dành
chăm
sóc
cho
chồng
con,
không
giống
với
những
người
vợ
nghệ
sĩ
khác
thường
hay
ghen
chồng
với
những
đối
tượng
phụ
nữ
khác,
chị
luôn
biết
kìm
chế,
thông
cảm
cho
chồng
là
nghệ
sĩ
tên
tuổi
được
nhiều
người
ái
mộ,
tất
nhiên
có
nhiều
mối
quan
hệ
bên
ngoài
nên
anh
khá
được
tự
do
trong
sinh
hoạt.
Với
Minh
Tiến,
anh
luôn
xác
định
gia
đình
là
chỗ
dựa
vững
chắc,
bình
an
nhất
cho
cuộc
đời
mình
nên
dù
có
“hoa
lá
cành”
thế
nào
thì
vợ
con
vẫn
là
số
một,
hai
người
đã
biết
nhường
nhịn
nhau,
biết
dừng
lại
ở
những
chừng
mực
nhất
định
nên
suốt
mấy
mươi
năm
qua,
trải
bao
cuộc
biến
động
trong
công
chuyện
làm
ăn,
họ
vẫn
như
hình
với
bóng,
tình
nghĩa
ngày
càng
thắm
đượm
hơn
theo
với
thời
gian,
thuyền
tình
Minh
Tiến
đã
neo
đậu
mãi
nơi
bến
Ngọc
Minh.
Đoàn
Tiếng
Hát
Tây
Ninh
trở
thành
gia
đình
lớn,
tên
tuổi
Minh
Tiến
gắn
liền
với
một
số
kịch
bản
ăn
khách,
tiểu
biểu
là
vở:
Học
Trò
Quan
Ngự
Y
của
Thể
Hà
Vân.
LẦN
THỨ
HAI
TRỞ
VỀ
THÀNH
PHỐ
Năm
1985,
gia
đình
bên
vợ
Minh
Tiến
sau
mấy
mươi
năm
vất
vả
với
nghiệp
làm
bầu
cải
lương,
đã
chuyển
hướng
làm
kinh
tế,
ông
Minh
Phục
và
bà
bẩu
Phi
quyết
định
giải
thể
đoàn
Tiếng
Hát
Tây
Ninh.
Thật
ra,
khi
ở
đoàn
Tiếng
Hát
Tây
Ninh,
Minh
Tiến
làm
ra
tiền
nhưng
sự
nghiệp
không
có
gì
sáng
chói.
Sự
thay
đổi
này
vừa
có
lợi
cho
Minh
Tiến
đang
độ
chín
của
nghề
nghiệp
vừa
đúng
với
định
hướng
của
gia
đình
bên
vợ.
Minh
Tiến
về
đầu
quân
cho
đoàn
cải
lương
Sài
Gòn
2,
lúc
này
đang
cần
bổ
sung
lực
lượng
trẻ
thay
thế
cho
những
ngôi
sao
lớn
phải
ra
đi,
cùng
lúc
có
mối
quan
hệ
tốt
với
nhà
hát
Trần
Hữu
Trang
nên
mỗi
tuần
Minh
Tiến
diễn
cho
mỗi
đoàn
ba
buổi
hát.
Ở
đoàn
Sài
Gòn
2,
Minh
Tiến
hát
chánh
ở
những
vở:
Tiếng
hò
sông
Hậu,
Ánh
lửa
rừng
khuya,
Khách
sạn
Hào
Hoa,
Tìm
lại
cuộc
đời…
Ở
đoàn
2
Nhà
hát
Trần
Hữu
Trang,
Minh
Tiến
cùng
với
Thanh
Thanh
Tâm,
Thanh
Cúc
diễn
trong
các
vở:
Nước
mắt
bạo
lực,
Bàn
thờ
tổ
một
cô
đào…
Đặc
biệt
trong
vở
Bàn
thờ
tổ
một
cô
đào
khi
danh
hài
Bảo
Quốc
rời
đoàn
2
Nhà
hát
Trần
Hữu
Trang,
không
có
người
thay
thế
vai
Xuyên,
lãnh
đạo
đoàn
và
lãnh
đạo
nhà
hát
đã
quyết
định
mời
Minh
Tiến
hát
thay
Bảo
Quốc.
Tại
sao
có
sự
lựa
chọn
này,
bởi
trong
quá
trình
cộng
tác
với
nhà
hát,
anh
em
trong
đoàn
phát
hiện
Minh
Tiến
rất
có
duyên
ở
những
lớp
hài
nên
đã
đề
cử.
Đương
là
kép
mùi,
không
ai
dại
gì
chuyển
qua
hát
hài,
lại
thế
vai
một
Đệ
Nhất
Danh
Hài
đang
ăn
khách,
phần
thua
chắc
chắn
sẽ
về
mình,
nhưng
Minh
Tiến
nghĩ
khác,
trước
nhất
anh
tin
vào
khả
năng
của
mình,
thứ
hai
diễn
để
giúp
đoàn,
phần
được
sẽ
nhiều
hơn
mất,
bởi
không
ai
đi
so
sánh
một
anh
kép
trẻ
với
một
danh
hài.
Không
ngờ
vai
diễn
này
lại
rất
thành
công,
bởi
nó
chính
là
khoảng
đời
Minh
Tiến
hồi
nhỏ
sống
ở
đoàn
Tinh
Hoa,
một
sự
trùng
hợp
ngẫu
nhiên
mà
thú
vị,
vai
diễn
trên
sân
khấu
lại
chính
là
cuộc
đời
thật
mình
đã
trải
qua
nên
Minh
Tiến
vào
vai
rất
ngọt.
Sau
đó
vở
Bàn
thờ
tổ
một
cô
đào
được
quay
phim
nhựa,
Minh
Tiến
được
mời
đóng
luôn
vai
Xuyên.
Mọi
người
cứ
tưởng
thêm
một
phát
hiện
mới
về
Minh
Tiến,
có
biết
đâu
Minh
Tiến
đã
biết
hát
khi
còn
là
con
nít.
Sau
này,
Minh
Tiến
về
cộng
tác
cho
đoàn
Huỳnh
Long,
đoàn
Sài
Gòn
1,về
Hội
Sân
Khấu
tham
gia
vở
Ai
giết
nàng
Kiều
với
Phương
Hồng
Thủy
được
Huy
chương
vàng
qua
vai
Thổ
quan
trong
Liên
Hoan
Sân
Khấu
Thể
Nghiệm
toàn
quốc.
Năm
1992,
Minh
Tiến
về
cộng
tác
với
đoàn
cải
lương
Trung
Hiếu,
đồng
thời
hợp
tác
cùng
tác
giả
Huỳnh
Minh
Nhị,
thực
hiện
một
số
vở
cải
lương
nổi
tiếng
như
Vụ
án
Mã
Ngưu,
Xin
một
lần
yêu
nhau,
Đường
gươm
Nguyên
Bá,
Võ
Đông
Sơ
Bạch
Thu
Hà,
Ăn
khế
trả
vàng…
và
hơn
năm
mươi
vở
khác.
LÂN
CUỐI
CÒN
NẶNG
NGHIỆP
LÀM
BẦU
Năm
1993,
Minh
Tiến
lâm
bệnh
nặng,
điều
trị
bằng
tây
y
gần
một
năm
vẫn
không
hết,
sau
đó
được
giới
thiệu
qua
bệnh
viện
Y
Học
Dân
Tộc,
không
ngờ
những
bác
sĩ
và
điều
dưỡng
viên
ở
đây
đã
trị
dứt
căn
bệnh
lạ
của
Minh
Tiến.
Năm
1996,
Minh
Tiến
lập
đoàn
Phi
Long
cùng
với
vợ
là
Ngọc
Minh,
tiếp
tục
dẫn
đoàn
đi
lưu
diễn,
được
một
năm
thì
Minh
Tiến
lại
lâm
bệnh
một
lần
nữa,
dẹp
đoàn
hát
trở
lại
với
cuộc
sống
đời
thường.
NÊM
TRẢI
NHIỀU
VINH
NHỤC
THĂNG
TRẦM
Sau
khi
giải
thế
đoàn
Phi
Long
năm
1997,
Minh
Tiến
về
nhà
với
hai
bàn
tay
trắng,
bao
nhiêu
tiền
bạc
dành
dụm
bị
căn
bệnh
kéo
dài
gần
ba
năm
tiêu
hết,
số
ít
còn
lại
cũng
đi
theo
cái
nghiệp
làm
bầu
lần
cuối
vỏn
vẹn
chỉ
một
năm.
Cải
lương
ngày
càng
khó
hát
hơn,
các
con
ngày
càng
lớn
đang
sức
ăn
sức
học,
Minh
Tiến
lại
không
muốn
nhờ
vả
bên
vợ
hay
bên
gia
đình
chị
em
gái,
lúc
bấy
giờ
đều
rất
khá
giả.
Hiểu
chồng,
nên
Ngọc
Minh
không
hề
than
van
khi
gia
đình
lâm
vào
cảnh
khổ,
về
mướn
một
căn
nhà
nhỏ
ở
phường
Tân
Hưng,
Quận
7,
TP.HCM,
mùa
mưa
nước
ngập
quá
gối,
có
đêm
vợ
chồng,
con
cái
kê
ghế
ngồi
chồm
hổm,
thức
suốt
đêm
chờ
nước
rút.
Gặp
người
chủ
nhà
tốt
bụng,
bán
trả
góp
cho
miếng
đất
nhỏ,
anh
em
bè
bạn
góp
lại,
người
cho
xi
măng,
người
tặng
mái
lợp,
sắt
thép…
với
số
tiền
đi
hát
hàng
đêm
ở
khắp
mọi
nơi,
từ
đám
cưới,
đám
giỗ
đến
quán
nghệ
sĩ
mà
Minh
Tiến
gọi
là
tiền
đi
hát
rong
được
người
vợ
Ngọc
Minh
tằn
tiện,
dành
dùm
đủ
đế
cất
một
căn
nhà
nho
nhỏ
cho
gia
đình.
Đã
từng
có
nhà
lầu,
đã
từng
có
xe
hơi,
từng
làm
bầu
chủ
ở
cái
tuổi
chưa
tới
ba
mươi…
từng
mang
bệnh
nan
y
tưởng
như
không
qua
khỏi
suốt
hai
năm
dài,
cả
gia
đình
vợ
con
có
lúc
nheo
nhóc…
vậy
mà
tự
thân
mình,
với
giọng
ca
của
mình,
Minh
Tiến
đã
đi
hát
khắp
mọi
nơi.
Tiếng
hát
được
mọi
người
thương
mến,
tiếng
hát
thắt
chặt
nghĩa
bạn
bè
tri
âm
đồng
điệu.
Tất
cả
bằng
tiếng
hát,
Minh
Tiến
đã
mua
được
nhà
cửa
khang
trang,
lo
cho
các
con
ăn
học,
ba
đứa
lớn
đã
học
xong
đại
học.
Nhìn
lại
quãng
đời
đã
qua
của
mình,
nhiều
khi
Minh
Tiến
không
nghĩ
đó
là
sự
thật,
nó
giống
như
một
giấc
mơ
với
đủ
cung
bậc
tình
cảm,
ngọt
ngào,
cay
đắng,
vinh
quang,
tủi
nhục…
Bây
giờ
Minh
Tiến
vẫn
tiếp
tục
đi
hát
rong
để
trả
ơn
Tổ
nghiệp
và
cuộc
đời
đã
cho
những
gì
Minh
Tiến
đang
có.
Một
đời
người
tưởng
như
rất
dài
mà
nhanh
như
chớp
mắt.
Với
kinh
nghiệm
cuộc
đời
mình,
Minh
Tiến
dạy
con
ăn
ở
hiền
lành
tử
tế,
như
lời
nhắc
mình,
cố
sao
giữ
được
chút
tâm
lành,
nhìn
đời
với
ánh
mắt
lạc
quan,
thân
ái…
Việt
Khang