THƯƠNG HOÀI CÂU VỌNG CỔ
- Chủ nhật - 08/12/2013 09:28
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Bửu kiếm sắc phong lên đàng.
Vào ra luống trông tin chàng,
Ðêm năm canh mơ màng.
Em luống trông tin chàng,
Ôi, gan vàng quặn đau.
Ðuờng dầu xa ong buớm,
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang.
Còn đêm luống trông tin bạn,
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu.
Vọng
phu
vọng,
luống
trông
tin
chàng,
Lòng
xin
chớ
phụ
phàng.
Chàng
hỡi
chàng
có
hay,
Ðêm
thiếp
nằm
luống
những
sầu
tây.
Biết
bao
thuở
đó
đây
xum
vầy,
Duyên
sắt
cầm
đừng
lạt
phai.
Thiếp
cung
nguyện
cho
chàng,
Nguyện
cho
chàng
hai
chữ
bình
an.
Mau
trở
lại
gia
đàng,
Cho
én
nhạn
hiệp
đôi.”
Ðó
là
biên
bản
lời
nguyên
thủy
cùa
bài
(Ðêm
nghe
tiếng
trống
nhớ
chồng)
của
ông
Cao
Văn
Lầu
(1892-1976)
tức
Sáu
Lầu,
bài
hát
tiền
thân
của
bản
Vọng
Cổ
ngày
nay.
Tuy
cải
lương
tuy
đã
có
trước
khi
bài
Vọng
Cổ
ra
đời
nhưng
nhờ
bài
hát
nầy
mà
nó
đã
biến
thể,
thu
hút
giới
thưởng
ngoạn
nhanh
chóng
và
đông
đảo
hơn.
Một
tuồng
cải
lương,
về
kỷ
thuật,
là
một
tổng
hợp
của
nhiều
bài
bản
cổ
nhạc
dựa
theo
nội
dung
cốt
truyện.
Tuy
nhiên,
dù
vở
tuồng
thuộc
bất
cứ
thể
loại
nào:
bi
thảm,
hài
hước,
xã
hội,
dã
sử
hay
hương
xa,
nó
đều
phải
có
ít
nhất
một
bài
Vọng
Cổ
ở
mỗi
màn.
Bắt
buộc
không
thể
thiếu.
Nếu
do
đào
kép
nổi
tiếng
thủ
diễn
thì
họ
phải
hát
Vọng
Cổ
vài
lần
(thường
là
lúc
chia
tay
và
khi
tái
ngộ).
Thật
cũng
không
ngoa
nếu
nói
cải
lương
nhờ
Vọng
Cổ
mà
đi
sâu
vào
dân
chúng,
từ
giai
cấp
trí
thức
đến
tầng
lớp
bình
dân,
và
Vọng
Cổ
cũng
nhờ
cải
lương
mà
có
một
địa
vị
bất
tử
trong
lòng
người
dân
từ
Bắc
vô
Nam.
Cổ
nhạc
Nam
phần
có
rất
nhiều
bài
bản:
Xàng
Xê,
Nam
Ai,
Văn
Thiên
Tường,
Nam
Xuân,
Sương
Chiều,
Tú
Anh,
v.v.
nhưng
nổi
tiếng
nhất
vẫn
là
bài
Vọng
Cổ.
Về
sau
chữ
Vọng
Cổ
gần
như
đồng
hóa
và
thay
thế
cho
chữ
Cổ
nhạc
Nam
phần.
“Nghe
Vọng
Cổ,”
“ca
Vọng
Cổ,”
“Làm
vài
câu
Vọng
Cổ
nghe
chơi!”
trở
thành
ngôn
ngữ
thông
dụng
cho
cách
thưởng
thức
một
bộ
môn
nghệ
thuật
đại
chúng
của
dân
miền
Nam.
Tuy
nói
là
“nghe
chơi”
nhưng
phải
nhìn
khán
giả
miền
Nam
khi
họ
nghe
ca
Vọng
Cổ,
dù
ở
các
đám
tiệc,
buổi
đờn
tài
tử
hay
trong
rạp
hát,
mới
thấy
sự
trân
trọng
của
họ
đối
với
bài
hát
và
người
trình
diễn.
Không
ai
bảo
ai,
tất
cả
đều
im
lặng
khi
câu
rao
bắt
đầu.
Họ
chờ
đợi
nhưng
cổ
võ
người
nghệ
sĩ
trong
im
lặng,
háo
hức.
Người
hát
cũng
đáp
lễ
bằng
để
hết
tâm
hồn
vào
câu
ca
vì
một
câu
ca
vô
hồn
sẽ
hiện
rõ
không
thể
dấu
diếm,
và
đó
là
điều
khinh
thường
người
thưởng
ngoạn.
Câu
xề
vừa
xuống
là
tiếng
vỗ
tay
vang
rền,
từ
em
bé
được
cha
mẹ
dẫn
đi
xem
hát
lần
đầu
đến
cụ
bà
hom
hem
ngồi
bên
đứa
cháu,
từ
ông
bà
sang
trọng
ngồi
ở
hàng
ghế
thượng
hạng
gần
sân
khấu
cho
đến
người
đàn
bà
nhà
quê
ngồi
cuối
rạp
ở
hạng
cá
kèo.
Tất
cả
đều
vỗ
tay.
Tất
cả
đều
bình
đẳng.
Không
kẻ
lớn
người
nhỏ,
không
kẻ
giàu
người
nghèo.
Chỉ
có
người
thưởng
thức
một
bài
hát
hay.
Sau
hơn
80
năm
bài
Vọng
Cổ
vẫn
là
vị
hoàng
đế
không
ngai
của
âm
nhạc
miền
Nam.
Trong
một
buổi
trình
diễn
cổ
nhạc
Nam
phần,
dù
là
nguyên
trọn
hay
trích
đoạn
vỡ
hát
cải
lương
hoặc
đờn
ca
tài
tử,
bài
Vọng
Cổ
luôn
luôn
có
mặt
và
luôn
luôn
là
bài
hát
chánh.
Bài
Vọng
Cổ
là
một
bài
hát
đặt
biệt
của
miền
Nam,
không
thể
lầm
lẫn.
Nó
là
biểu
tượng
đặc
biệt
của
dân
miền
Nam.
Không
to
lớn
dữ
dội
như
sông
Hồng,
không
thơ
mộng,
văn
vẽ
như
sông
Hương
nhưng
như
giòng
Cửu
Long
với
nhánh
sông
Tiền,
sông
Hậu
chảy
thấm
vào
đất
đai,
bồi
bổ
đồng
ruộng,
chảy
thấm
vào
lòng
người
lúc
nào
không
biết.
Bản
Vọng
Cổ
thấm
vào
tâm
hồn
mộc
mạc,
chất
phác
của
người
dân
vùng
đồng
bằng
sông
Cửu
Long
nói
riêng
và
của
cả
miền
Nam
nói
chung.
Nhập
vào
từ
lúc
còn
ngậm
bầu
vú
mẹ,
nhập
vào
từ
lúc
chập
chửng
bước
đi
cho
mãi
đến
khi
đặt
chân
vào
cuộc
đời
đầy
tranh
đua,
phiền
toái.
Có
phải
ông
Sáu
Lầu
là
người
đã
đặt
ra
bài
Dạ
cổ
hoài
lang?
Theo
truyền
thuyết,
ông
Sáu
Lầu
cưới
vợ
đã
lâu,
gia
đình
đầm
ấm
nhưng
không
có
được
một
mụn
con.
Cha
mẹ
ông
buộc
ông
phải
cưới
vợ
khác
để
ông
bà
có
cháu
nối
dõi
tông
đường.
Ông
Sáu
buồn
rầu,
không
biết
xử
sao
cho
vẹn
cả
đôi
bên
hiếu
và
tình.
Sống
xa
người
vợ
thương
yêu
nhưng
nào
đâu
quên
bỏ
được.
Tuy
xa
mặt
nhưng
lòng
không
cách,
tình
yêu
càng
làm
nỗi
nhớ
thương
tăng
thêm
dào
dạt.
Lòng
tâm
sự
của
người
chồng
gởi
cả
vào
bản
nhạc
mới
được
đặt
ra,
đó
chính
là
bài
Dạ
cổ
hoài
lang
bất
hủ.
Tuy
bị
cấm
cản,
ông
vẫn
lén
lút
lui
tới
với
vợ.
Sau
đó
bà
có
mang,
vợ
chồng
lại
xum
họp.
Sở
dĩ
tôi
chỉ
gọi
là
bản
nhạc
mà
không
gọi
là
bài
ca
hay
bài
hát
vì
hiện
nay
có
một
số
nghi
vấn
về
lời
của
bài
Dạ
cổ
hoài
lang.
Có
những
người
cho
rằng
lời
bài
hát
do
ông
Trần
Xuân
Thơ
đặt
ra,
hay
do
một
nhóm
tài
tử
Sài
Gòn
đặt
ra.
Có
người
lại
xác
định
là
ông
Sáu
Lầu
đã
sáng
tác
cả
nhạc
lẫn
lời.
Dù
sao
đi
nữa
mọi
người
đều
đồng
ý
là
ông
Sáu
Lầu
là
cha
đẻ
của
bài
nhạc
vô
địch
đó.
Bài
Dạ
cổ
hoài
lang
sau
chuyển
thành
Vọng
Cổ
hoài
lang
(Trông
tình
xưa
nhớ
đến
chồng)
và
cuối
cùng
là
Vọng
Cổ
như
ta
biết
ngày
nay.
Theo
cá
nhân
tôi,
nếu
truyền
thuyết
về
hoàn
cảnh
sáng
tác
của
ông
Sáu
Lầu
là
đúng
thì
có
lẽ
ông
chỉ
đặt
ra
bài
nhạc,
còn
lời
ca
là
của
một
nguồn
gốc
khác
chưa
được
xác
định
chắc
chắn.
Tại
sao?
Đọc
lời
ca
của
bài
Dạ
cổ
hoài
lang
ta
thấy
rõ
ràng
đó
là
lời
than
thở
nhớ
thương
của
một
người
vợ
có
chồng
đi
chinh
chiến
nơi
phương
xa.
Nàng
mong
chồng
bình
an
trong
chiến
trận,
nhớ
lời
ước
hẹn,
tình
nghĩa
phu
thê
mà
sớm
quay
về
gia
trung.
Đây
không
phải
là
lời
thương
yêu
ai
oán
của
một
người
chồng,
vì
hoàn
cảnh,
đang
phải
sống
xa
lìa
người
vợ
thủy
chung.
Dù
có
ngụy
trang
thế
nào
đi
nữa,
ông
Sáu
Lầu
cũng
không
thể
đặt
ra
lời
cho
một
người
đàn
bà
nhớ
chồng
để
gởi
gắm
tâm
sự
nhớ
vợ
của
ông.
Rất
phản
tự
nhiên.
Văn
chương
của
lời
ca
cũng
tương
hợp
với
các
loại
truyện
thơ
như
Thoại
Khanh
Châu
Tuấn,
Lâm
Sanh
Xuân
Nương
của
đất
Nam
Bộ
thời
ấy
hoặc
các
truyện
Tàu
như
Tam
quốc
chí,
Nhạc
Phi,
Thuyết
Đường
do
ông
Nguyễn
Chánh
Sắc
dịch.
Ngoài
ra,
tất
cả
các
bản
nhạc
xưa
đều
được
sáng
tác
nguyên
thủy
cho
nhạc
khí,
không
lời
hát
và
có
lẽ
nhờ
đó
mà
chúng
đuợc
phổ
biến
rộng
rải
và
lưu
truyền
cho
đến
ngày
nay.
Chúng
không
bị
bó
buộc
tình
cảm
để
chỉ
được
trình
diễn
hay
thưởng
thức
trong
một
hoàn
cảnh
nhất
định
như
các
bài
hát
có
lời.
Bài
Vọng
Cổ
có
một
nét
đặc
biệt
mà
gần
như
không
một
bài
hát
nào
khác
được
thừa
hưởng.
Đó
là
tính
đa
dạng,
biến
thái
của
bài
hát
theo
lời
ca
.
Cũng
cùng
điệu
nhạc,
điệu
đàn
nhưng
bài
Vọng
Cổ
thay
đổi
hẳn
bản
chất
tùy
theo
lời
đặt
ra.
Buồn
thương
sầu
thảm
như
Lan
và
Điệp,
Lương
Sơn
Bá,
Chúc
Anh
Đài.
Não
nề
ai
oán
như
Sầu
vương
ý
nhạc,
Hạng
Võ
biệt
Ngu
Cơ.
Khuyên
dạy
êm
đềm
như
Tu
là
cội
phúc,
Nỗi
mừng
ngày
cưới.
Kể
truyện
tích
xưa
như
Đội
gạo
đường
xa,
Lưu
Bình
Dương
Lễ.
Vui
đùa,
dí
dỏm
như
Tư
Ếch
đi
Sài
Gòn,
Tựa
tuồng
sân
khấu.
Không
thể
dùng
Lý
con
sáo
để
nói
những
lời
hý
lộng
mà
chỉ
có
thể
than
thở
như
cô
Lan
trong
Tình
Lan
và
Điệp
của
soạn
giả
Viễn
Châu
(đừng
lầm
với
bài
Lan
và
Điệp
cũng
của
ông
Viễn
Châu):
“Hoa
bay
theo
gió
cuốn
rụng
đầy
sân
rêu,
Nhìn
hoa
tàn
rụng
rơi,
Lan
bâng
khuâng
tê
tái
tâm
hồn
Bởi
bao
cay
đắng
dập
dồn,
Tình
đầu
vừa
tan
theo
khói
sương,
Lan
khóc
than
trong
tháng
năm
sầu
thương.
Mùi
thiền
đành
quen
câu
muối
dưa,
Mong
lãng
quên
khổ
đau
ngày
xưa.”
Bản
Vọng
Cổ
ca
đủ
6
câu
phải
mất
khoảng
6
phút,
gần
gấp
đôi
một
bản
tân
nhạc,
có
thể
kể
đầy
đủ
một
câu
truyện,
một
sự
tích.
Vì
vậy
Vọng
Cổ
là
một
phương
tiện
rất
tốt
để
truyền
bá
kiến
thức
văn
hóa
cho
đại
chúng
nhất
là
với
tầng
lớp
dân
quê
ít
học.
Đất
rộng,
người
thưa.
Vất
vả,
cô
đơn
là
những
nỗi
khó
khăn
mà
lớp
người
tiền
phong
xuôi
Nam
khai
phá
đất
đai,
mở
mang
xứ
sở
phải
chịu
đựng:
“Má
ơi,
đừng
gả
con
xa
Chim
kêu,
vượn
hú
biết
nhà
má
đâu”
Nhờ
Vọng
Cổ
mà
người
bình
dân
miền
Nam
biết
được
các
tích
truyện
đầy
luân
lý
như
Lâm
Sanh
Xuân
Nương,
Phạm
Công
Cúc
Hoa,
Thạch
Sanh
Lý
Thông,
Tử
Lộ
v.v.
hay
những
điển
tích
truyện
Tàu
như
Triệu
Tử
Long
triệt
giang,
Đơn
Hùng
Tín,
Đắc
Kỷ
Trụ
Vương,
Lữ
Bố
hí
Điêu
Thuyền,
Chung
Vô
Diệm.
Không
có
lối
giáo
dục
nào
hay
hơn.
Trước
là
truyện
thơ,
sau
là
Vọng
Cổ
đã
tạo
cho
người
miền
Nam
một
nếp
sống
và
nhân
sinh
quan
khác
hơn
dân
các
miền
khác.
Tinh
thần
phóng
khoáng
của
những
bậc
tiền
bối
đi
trước
đã
được
các
tích
Cậu
Hai
Miêng,
Đào
Viên
kết
nghĩa,
Đơn
Hùng
Tín,
v.v.
vung
bồi,
như
phù
sa
làm
phì
nhiêu
thêm
đất
vườn
vùng
đồng
bằng
sông
Cửu,
và
truyền
dạy
đến
lớp
hậu
sinh
ngày
nay.
Nó
tạo
ra
những
phong
cách
“tứ
hải
giai
huynh
đệ”,
“anh
hùng
tử,
khí
hùng
bất
tử”
mà
đến
nay
người
miền
Nam
vẫn
còn
tự
hào.
Rảo
bước
vào
các
làng
quê
miền
Nam,
người
khách
lạ
luôn
luôn
nghe
tiếng
ca
Vọng
Cổ
văng
vẳng
vọng
ra
từ
một
ngôi
nhà
nào
đó
trong
xóm.
Có
thể
là
giọng
ca
của
Minh
Cảnh,
Lệ
Thủy,
hay
Hữu
Phước,
Ngọc
Giàu.
Có
thể
là
bài
Vọng
Cổ
xưa
như
Người
mẹ
mùa
ly
loạn,
Gánh
nước
đêm
trăng,
có
thể
là
một
tân
cổ
giao
duyên
như
Chàng
là
ai,
có
thể
là
giọng
ca
hài
hước
của
Văn
Hường
trong
Vợ
tôi
tôi
sợ.
Nhưng
âm
vang
của
bài
Vọng
Cổ
luôn
luôn
ôm
ấp,
quấn
quít
tâm
hồn
người
dân
hiền
lành,
mộc
mạc
từ
mấy
mươi
năm
trước
cho
đến
bây
giờ.
Và
sẽ
còn
mãi
về
sau,
thương
hoài
câu
Vọng
Cổ.