BÀ BẦU KIM CHƯỞNG ĐỆ NHẤT ANH HÙNG LƯU DIỄN
- Thứ tư - 27/12/2017 12:19
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
KC
Cô
Kim
Chưởng
tên
thật
là
Cao
Thị
Chưởng,
sinh
năm
1929,
tại
Cồn
Ông,
xã
Trường
Long
Hòa,
huyện
Cầu
Ngang,
tỉnh
Trà
Vinh,
là
con
áp
út
trong
gia
đình
có
7
anh
chị
em.
Khi
cô
Chưởng
lên
tám
tuổi,
ba
của
cô
là
ông
Cả
ở
Cồn
Ông,
Ba
Động
qua
đời.
Vì
cha
cô
bịnh
lâu
mới
mất,
gia
sản
tiêu
tan
lần
hồi
theo
tiền
thuốc
thang
chữa
trị
nên
khi
ba
của
cô
mất,
chôn
cất
xong
là
má
cô
rời
bỏ
làng
quê,
dẫn
cô
về
thị
xã
Trà
Vinh,
sống
bằng
nghề
mua
gánh
bán
bưng.
Cô Kim Chưởng phải thức khuya dậy sớm giúp mẹ gói bánh tét, bánh ú đem ra chợ bán, gia đình bữa đói bữa no. Trong lúc đi bán bánh ở chợ, cô nghe máy hát hát những bài ca vọng cổ, cô học theo để ca nghêu ngao những khi buồn. Anh Hai của cô nghe cô ca, bèn nói với mẹ là giọng ca của con Chưởng nghe ngọt lắm, xin mẹ cho cô đi theo gánh hát, học hát. Mẹ cô Chưởng không muốn xa con, do dự mãi, đến khi thấy là bà không đủ sức nuôi dưỡng và giúp cho con có một nghề để sinh sống nên bà mới bằng lòng cho cô Chưởng theo đoàn hát.
Anh của cô Chưởng quen anh Tư Sum nên nhờ Tư Sum giới thiệu cho cô Chưởng theo gánh hát để học hát. Anh Tư Sum là anh chị bự, một võ sĩ có hạng được bầu gánh hát mướn gát cửa để ngăn ngừa bọn du đảng quấy phá. Vì địa vị của Tư Sum trong gánh hát thấp kém nên cô Chưởng được Tư Sum giới thiệu vào thì cũng chỉ được làm người ở đợ không lương, giúp việc vặt cho ông bà bầu và đào kép chánh.

Công
việc
của
cô
Chưởng
làm
trong
gánh
hát
là
buổi
sáng
phụ
bếp
nấu
cơm
hội
cho
nghệ
sĩ,
giặt
đồ
của
ông
bà
bầu
và
buổi
tối
bán
nước
sâm
của
bà
tẩm
khậu
nấu,
mỗi
tối
được
bà
tẩm
khậu
cho
vài
đồng
bạc
tiêu
xài.
Cô
Chưởng
còn
giặt
đồ,
đấm
bóp
cho
cô
Mỹ
Giàu,
đào
chánh
để
được
Mỹ
Giàu
dạy
cho
ca
các
bản
cổ
nhạc
nhỏ.
Hằng
đêm,
khi
đoàn
đang
hát
thì
cô
Chưởng
ngồi
một
góc
rạp
xem
và
học
nhẩm
theo
cách
ca
của
cô
đào
chánh
Mỹ
Giàu.
Khi
màn
bỏ
xuống
thì
cô
bưng
nước
sâm
đi
bán.
Mỗi
đêm
học
hát
như
vậy,
cô
Chưởng
thuộc
nhiều
vai
tuồng
của
cô
Mỹ
Giàu,
thần
tượng
của
cô.
Cô Chưởng theo các cô vũ nữ trong đoàn học múa, siêng năng học kỏi nhưng chưa được lên sân khấu lần nào. Nhưng rồi có dịp may, một cô vũ nữ bịnh bất ngờ, cô Chưởng được ông bầu cho lên múa thế. Cô Chưởng được người giúp đánh phấn thoa son, mặc y phục vũ nữ, cô múa rất đẹp và rất đúng như cô đã được ông thầy dạy vũ dạy trức tiếp. Đêm đó là đêm hạnh phúc nhứt của cô, vừa được múa hát trên sân khấu, vừa được hưởng lương của một người vũ nữ.
Năm
sau,
anh
rể
của
cô
gởi
cho
cô
theo
đoàn
hát
Tân
Thiếu
Niên
của
ông
bầu
Ba
Đô.
Cô
làm
em
nuôi
của
đào
chánh
Ba
Quyên
và
làm
tỳ
nữ
trong
các
tuồng
của
thầy
Ba
Đô.
Làm
em
nuôi
giống
như
ở
đợ,
phải
giặt
quần
áo,
dọn
dẹp
tủ
làm
tuồng
trước
và
sau
khi
hát
cho
chị
nuôi,
có
nhiều
đêm
phải
đấm
bóp
cho
chị
nuôi
để
được
chị
nuôi
dạy
cho
hát
vài
ba
câu
hát.
Cô
Chưởng
còn
âm
thầm
tự
học,
ca
nhái
theo
mỗi
khi
cô
núp
bên
cánh
gà
xem
cô
Quyên
hát.
Nhiều
tháng
trôi
qua,
cô
Chưởng
thuộc
nhiều
vai
tuồng
hát
của
cô
Ba
Quyên,
cô
Chưởng
được
ông
thầy
đờn
đờn
cho
cô
ca
thử,
ông
bầu
Ba
Đô
nghe
qua
thích
lắm.
Cô
Chưởng
tự
học
thêm
bằng
cách
núp
bên
cánh
gà
xem
các
nghệ
sĩ
hát,
cô
chú
ý
các
vai
đào
mùi,
đào
độc,
cả
vai
mụ,
cách
hát
ra
sao,
bộ
đi,
cách
đứng,
đưa
tay
múa
như
thế
nào.
Ban
ngày
cô
ra
sau
rạp
hát
hay
lựa
chỗ
vắng
người,
hát
lại
cho
thuộc,
tập
múa
lại
cho
quen
các
động
tác
đã
học
lóm
được
của
các
diễn
viên
trong
đoàn.
Sáu
tháng
sau,
trong
dịp
Tết
cô
đào
chánh
Ba
Quyên
bỏ
đoàn
bất
ngờ,
đi
hát
cho
gánh
khác.
Đêm
đó
bán
vé
hát
complet
mà
gần
đến
giờ
mở
màn
ông
bầu
Ba
Đô
mới
biết
là
cô
đào
chánh
Ba
Quyên
đã
chở
rương
tráp
đi
mất.
Không
thể
nghỉ
hát
hoàn
tiền
cho
khán
giả
vì
ông
đã
dùng
tiền
bán
vé
hát
đó
để
phát
trước
cho
nghệ
sĩ
trong
dịp
Tết,
ông
phải
kiếm
người
thế
tuồng
cô
đào
chánh.
Các
cô
đào
kia
không
người
nào
thuộc
tuồng
và
không
ai
dám
thế
vai
cô
Ba
Quyên.
Khi
ông
hỏi
đến
cô
Chưởng
thì
cô
nói
cô
thuộc
tuồng
nhưng
không
biết
hát
thế
cô
Quyên
được
không?
Ông
Ba
Đô
nói:
Mầy
thuộc
là
được
rồi,
cứ
ra
hát
giống
như
nó.
Tao
ở
trong
cánh
gà,
nhắc
lớp
hát
cho
mầy.
Cứ
bình
tĩnh,
tao
làm
mặt
cho
mày…(tức
là
đánh
phấn
tô
son
hóa
trang
cho
nhân
vật)
Đêm
đó
cô
Chưởng
thế
tuồng
cho
cô
đào
chánh
Ba
Quyên,
cô
hát
như
một
cô
đào
chánh
chánh
hiệu.
Cả
gánh
hát
đều
mừng
vì
đêm
đó
mùng
1
Tết,
đoàn
khỏi
phải
trả
vé
và
cô
Chưởng
hát
thế
vai
mà
được
khán
giả
nhiệt
liệt
ngợi
khen.
Từ
hôm
đó
cô
Chưởng
trở
thành
đào
chánh,
cô
hát
thế
tất
cả
những
vai
của
cô
Quyên,
hát
hay
hơn,
ca
hay
hơn
cô
đào
chánh
cũ.
Năm
đó
cô
Chưởng
mới
được
13
tuổi,
là
đào
chánh
trẻ
nhứt,
đẹp
nhứt,
ca
hay
nhứt.
ông
thầy
Ba
Đô
đặt
nghệ
danh
cho
cô
là
Kim
Chưởng.
Ông
Ba
Đô
nói:
Theo
chữ
nho
Chưởng
là
trồng,
Kim
là
vàng,
Kim
Chưởng
là
trồng
vàng.
Ông
Ba
Đô
dạy
thêm
cho
cô
Kim
Chưởng
về
nghệ
thuật
diễn
xuất
và
ca
cổ
nhạc:
ba
Nam
sáu
Bắc.
Nghề
nghiệp
Kim
Chưởng
ngày
càng
vững
vàng,
cho
đến
năm
1943,
ông
Ba
Đô
giải
tán
gánh
hát
Tân
Thiếu
Niên,
Kim
Chưởng
được
đoàn
Văn
Hí
Ban
mời
cộng
tác.
Cô
Kim
Chưởng
còn
cộng
tác
với
đoàn
hát
Tân
Xuân
của
bầu
Tư
Hélène
(bà
ngoại
của
nghệ
sĩ
Thanh
Hằng,
Thanh
Ngân),
đoàn
hát
Tân
Tiến
của
cô
Giáo
Lựu,
đoàn
Tương
Lai
của
Bầu
Sinh
và
đoàn
Bầu
Bòn
(năm
1948).
Cô Kim Chưởng được ông Bầu Bòn chỉ dạy thêm về diễn xuất. Năm 1949, cô Kim Chưởng kết hôn với anh Hai Thâu (tên thật là Nguyễn văn Sen) con trai của ông Bầu Bòn. Vợ chồng cô Kim Chưởng chung sống 50 năm, có được 3 trai, hai gái. Ba con trai của cô hiện định cư tại Đức và Mỹ, hai cô con gái là giáo sư Đại Học Anh Văn tại Saigon. Chồng của cô Kim Chưởng mất năm 1999 tại Saigon.
Thời
gian
hát
cho
gánh
Bầu
Bòn,
ngoài
việc
được
học
thêm
về
diễn
xuất,
cô
Kim
Chưởng
giúp
cho
cha
chồng
trong
việc
chăm
sóc
sân
khấu
(mà
sau
này
người
ta
gọi
với
danh
từ
Đài
Trưởng).
Cô
cũng
học
cách
quản
lý
gánh
hát
từ
việc
tổ
chức
phòng
bán
vé
hát
đến
việc
quảng
cáo,
chọn
bãi
bến
mới
cho
đoàn
diễn,
cô
biết
những
việc
làm
của
người
quản
lý
của
gánh
hát.
Điều
này
giúp
cho
cô
rất
nhiều
khi
cô
là
bầu
gánh
hát
liên
tục
trong
20
năm
(từ
năm
1955
đến
năm
1975).
Cô
Kim
Chưởng
cộng
tác
với
đoàn
hát
Phụng
Hảo
năm
1951
và
năm
1953
cô
hát
cho
đoàn
Thanh
Minh
Bầu
Nghĩa,
cùng
đứng
chung
sân
khấu
với
danh
ca
Út
Trà
Ôn,
Năm
Nghĩa,
Phước
Trọng,
các
nữ
danh
ca
Kim
Anh,
Thúy
Nga.
Năm 1955, cô Kim Chưởng cùng với các nghệ sĩ Út Trà Ôn, Thanh Tao, Thúy Nga, Phước Trọng rời đoàn Thanh Minh, họ chung vốn thành lập đoàn Kim Thanh – Út Trà Ôn.
Đoàn hát Kim Thanh – Út Trà Ôn chỉ trong vòng 6 tháng là thu đủ vốn, trả hết nợ nầng, hai năm sau (1957) dứt hợp đồng, bốn nghệ sĩ chủ bầu gánh Kim Thanh – Út Trà Ôn tách ra lập thành bốn đoàn hát. Út Trà Ôn hợp tác với kép độc Hoàng Giang lập thành gánh hát Thống Nhứt – Út Trà Ôn. Kim Chưởng kết hợp với danh ca Thanh Hương lập gánh hát Kim Chưởng – Thanh Hương. Thúy Nga – Phước Trọng lập gánh hát Thúy Nga và Thanh Tao lập gánh hát Thanh Tao.
Nghệ sĩ Kim Chưởng có giọng ca trong trẻo, khoẻ khoắn, có lối diễn xuất sống động, nóng sân khấu do ảnh hưởng của lối hát bội pha cải lương mà cô được cha chồng là ông Bầu Bòn truyền dạy. Nữ nghệ sĩ Kim Chưởng đem áp dụng kinh nghiệm bản thân ngay khi mới được làm bầu gánh hát. Cô nói: Khán giả đi xem hát là muốn giải trí. Họ thích nghe ca cổ nhạc, thích xem nghệ sĩ múa, hát, mặc trang phục đẹp, cốt chuyện tuồng thì đủ hỉ, nộ, ái, ố… trung thắng nịnh, ở hiền gặp lành, làm ác gặp dữ, tình yêu của nhân vật chánh thì lúc đầu gặp trắc trở nhưng kết cuộc thì đoàn tụ, hạnh phúc. Nếu dang dở thì nhân vật nữ đi tu, nhân vật nam thất tình thì say rượu liên miên…Có nhiều vở tuồng văn chương, thơ nhạc rất hay, rất trữ tình. Thế nhưng tác giả dường như mê mải làm văn mà quên mất là mình đang viết tuồng cải lương. Tuồng cải lương đâu có giống như tiểu thuyết và khác xa với thoại kịch…Nếu không chú trọng đến phần diễn xuất cá nhân của từng nhân vật (tức là từng diễn viên) cũng như những mảng miếng mà sân khấu cải lương cần phải có thì không thể nào lôi cuốn được khán giả suốt hai tiếng đồng hồ của một đêm hát cải lương.
Nghệ
sĩ
Kim
Chưởng
còn
cho
là
khán
giả
luôn
thích
xem
tuồng
mới,
họ
là
lớp
người
bình
dân,
ở
các
thành
phố
nhỏ
xa
Saigon
thì
họ
thích
cải
lương
hơn
người
dân
ở
tại
thành
phố
lớn.
Do
đó
đoàn
Kim
Chưởng
thường
lưu
diễn
ở
các
tỉnh
Hậu
Giang,
Tiền
Giang,
ở
miền
Trung
và
có
nhiều
khi
vô
hát
ở
các
huyện
xa
xôi.
Báo
chí
kịch
trường
tặng
cho
đoàn
Kim
Chưởng
mỹ
hiệu
là
Anh
Hùng
Lưu
Diễn.
Soạn
giả
cộng
tác
thường
trực
của
đoàn
hát
Kim
Chưởn
có
Thu
An,
Hoài
Linh,
Phong
Anh,
Thanh
Cao,
Quy
Sắc.
Nghệ
sĩ
đoàn
Kim
Chưởng
có:
Út
Bạch
Lan,
Thành
Được,
Ngọc
Hương,
Ngọc
Lan,
Phương
Quang,
Ngọc
Giàu,
Trường
Xuân,
Diệp
Lang,
Trương
Ánh
Loan,
Ánh
Hồng,
Phượng
Liên,
Thanh
Nguyệt,
Đức
Lợi,
Dũng
Thanh
Lâm,
Thanh
Hải,
Quang
Nhiều,…
Trong
số
nghệ
sĩ
này
có
6
nghệ
sĩ
được
sự
đào
luyện
của
nữ
nghệ
sĩ
Kim
Chưởng
mà
nhận
được
huy
chương
vàng
diễn
viên
xuất
sắc
giải
Thanh
Tâm:
Ngọc
Giàu,
Diệp
Lang,
Thanh
Nguyệt,
Trương
Ánh
Loan,
Ánh
Hồng,
Phượng
Liên.
Tuồng
hát
trên
sân
khấu
Kim
Chưởng:
Người
Anh
Khác
Mẹ,
Chưa
Tắt
Lửa
Lòng,
Lá
Đào
Rơi,
Con
Gái
Nữ
Thần,
Oan
Hồn
Trên
Tháp
Đá,
Tiếng
Hát
Đề
Bá
Lạc,
Trăng
Nửa
Đêm,
Hai
Chiều
Ly
Biệt,
Áo
Trắng
Nàng
Mộng
Trinh,
Lá
Huyết
Thư,
Người
Gọi
Đò
Bên
Sông,
Quỷ
Bão,
Thần
Điêu
Đại
Hiệp
Song
Long
Thần
Chưởng,
Nước
Mắt
Kẻ
Sang
Tần,
Kiếm
Mộng
Phù
Tang,
Nhặt
Cánh
Mai
Vàng,
Thuyền
Ra
Cửa
Biển,
Nửa
Bản
Tình
Ca,
Mùa
Trăng
Nhiều
Nước
Mắt,
Tỉnh
Mộng,
Trăng
Nước
Lam
Giang,
Người
Đi
Chẳng
Hẹn
Về,
Mặt
Trời
Đêm,
Người
Đẹp
Kinh
Bắc,
Bên
Đồi
Trăng
Cũ,
Theo
Chân
Người
Đao
Phủ
Thủ,
Ảo
Ảnh
Châu
Bích
Lệ,
Cô
Gái
Sông
Đà…
Khi
hỏi
sau
năm
1975
tại
sao
cô
không
lập
gánh
hát
mặc
dù
tài
chánh
cô
không
thiếu,
không
cần
đi
vay
mượn
ai?
Cô
Kim
Chưởng
cho
biết
là
năm
1976,
cô
lập
gánh
hát
Hoa
Lan
Kim
Chưởng
nhưng
khi
gánh
hát
hoạt
động
được
đều
đặn,
hát
có
doanh
thu
thì
cô
được
lịnh
“Tập
Thể
Hóa”
đoàn
hát.
Cô
giao
gánh
hát
cho
Sở
Văn
Hóa
tỉnh
Cần
Thơ,
họ
đổi
thành
đoàn
cải
lương
Cần
Thơ,
quyền
làm
chủ
là
Sở
VH
mà
đại
diện
là
cán
bộ
của
Sở
đưa
xuống
với
các
nghệ
sĩ
được
bầu
vô
Ban
Quản
Trị.
Bà
lui
về
sống
với
các
con.
Nhiều
nghệ
sĩ
lão
thành
từng
góp
công
xây
dựng
nền
nghệ
thuật
sân
khấu
cải
lương
lần
lượt
qua
đời
sau
tháng
tư
năm
1975.
Trong
số
đó
có
các
nam
nghệ
sĩ
Năm
Châu,
Ba
Vân,
Năm
Nở,
Sáu
Thoàng,
Ba
Thâu,
Hai
Tiền,
Thanh
Tao,
Bảy
Cao,
Mai
Lan
Phương
Ngọc
Chiếu,
các
nữ
nghệ
sĩ
Năm
Đồ,
Hai
Nữ,
Kim
Thoa,
Kim
Cúc,
Kim
Lan,
Sáu
Ngọc
Sương,
Sáu
Nết,
Bảy
Nam,
Phùng
Há…
Mỗi lần làm lễ an táng, khi đọc điếu văn, nhà cầm quyền và các cán bộ có chức có quyền trong lãnh vực nghệ thuật sân khấu đều nói là họ rất tiếc không có thu hình hoặc ghi chép lại được kinh nghiệm sáng tác hay ca diễn của các nghệ sĩ tài danh đó để truyền dạy lại cho các nghệ sĩ kế thừa…
Nói
là
nói
vậy
để
cho
các
nghệ
sĩ
và
mọi
người
tưởng
là
họ
quý
trọng
tài
năng
sân
khấu
của
dân
tộc
nhưng
thật
ra
là
từng
bước
họ
xóa
dần
những
thành
quả
nghệ
thuật
của
các
tài
năng
đó.
Khi
nghệ
sĩ
Năm
Châu
còn
sống,
các
tác
phẩm
của
ông
không
được
sử
dụng,
ông
phải
chuyển
thể
các
kịch
bản
miền
Bắc,
hát
trên
sân
khấu
đoàn
cải
lương
Saigòn
1
để
có
thu
nhập
sống
qua
ngày
như
các
vở
tuồng
Nghêu
Sò
Óc
Hến,
Bình
Tây
Đại
Nguyên
Soái…
Sáng
tác
mới
của
ông
không
được
Hội
đồng
kiểm
duyệt
cho
phép
và
người
ta
cũng
không
dùng
ông
làm
giáo
sư
kịch
nghệ
như
trong
thời
trước
năm
1975.
Nghệ
sĩ
Bảy
Cao
mất,
người
ta
đọc
điếu
văn,
nói
là
tiếc
chưa
khai
thác
được
kinh
nghiệm
của
Bảy
Cao
trong
việc
phối
hợp
nghệ
thuật
sân
khấu
và
điện
ảnh,
chưa
tổng
kết
được
kinh
nghiệm
và
xảo
thuật
của
đoàn
hát
Hoa
Sen
khi
đoàn
này
diễn
tuồng
xã
hội
chiến
tranh.
Nói
là
vậy
nhưng
họ
không
thu
dụng
nghệ
sĩ
Bảy
Cao
ở
các
đoàn
hát
thành
phố
mà
để
cho
ông
trôi
dạt
kiếm
sống
theo
các
đoàn
hát
nhỏ
ở
tỉnh.
Nữ
nghệ
sĩ
Kim
Luông,
vợ
của
nghệ
sĩ
Bảy
Cao
thì
cho
theo
đoàn
cải
lương
Tiếng
Ca
Sông
Cữu
để
làm
bà
Từ,
đốt
nhang
và
trông
coi
bàn
thờ
Tổ.
Khi
đoàn
hát
ở
rạp
nào
đó
thì
nữ
nghệ
sĩ
Kim
Luông
ngồi
gác
cửa
sau.
Nữ
nghệ
sĩ
Kim
Lan,
một
thời
là
đào
chánh
đoàn
hát
Việt
Kịch
Năm
Châu,
sau
năm
1975,
nghệ
sĩ
Kim
Lan
cũng
làm
bà
Từ
và
gác
cửa
sau
của
đoàn
cải
lương
Saigon
3…
Nếu
kể
ra
thêm
thì
còn
nhiều
nghệ
sĩ
tiền
phong
đã
mất
mà
những
tài
năng
và
kinh
nghiệm
của
họ
không
lưu
lại
được
gì
cho
các
nghệ
sĩ
các
thế
hệ
sau.
Người
ta
vẫn
nói
là
rất
tiếc
nhưng
ngay
khi
các
nghệ
sĩ
tài
danh
đó
còn
sống,
còn
sức
khỏe
và
còn
hoạt
động
nghệ
thuật
được
thì
người
ta
không
làm
gì
hoặc
là
nghĩ
đến
việc
ghi
lại
hình
ảnh,
âm
thanh
và
kinh
nghiệm
của
những
nghệ
sĩ
tài
danh
đó.
Tại
sao?
Có
một
câu
trả
lời
đơn
giản
và
ai
nghe
cũng
biết
là
đúng!
Tại
vì
họ
không
phải
là
đảng
viên
cộng
sản!
Họ
là
nghệ
sĩ,
thuộc
về
thành
phần
tiều
tư
sản,
là
những
người
có
tự
do
tư
tưởng,
không
chịu
lệ
thuộc
theo
định
hướng
chính
trị
của
đảng
Cộng
Sản
độc
tài
toàn
trị.
Đó là sự thật mà họ không nói đến và mọi người đều hiểu nhưng không ai thốt ra bằng lời: Đó là nghệ thuật sân khấu, dù là hát bội, hát chèo, cải lương hay kịch, đối với nhà nước hiện nay phải được dùng như là công cụ tuyên truyền của đảng và nhà nước Cộng Sản. Ngành nghệ thuật nào tuyên truyền được đường lối và chủ trương của đảng tức là hoạt động đúng định hướng thì ngành nghệ thuật đó tồn tại và được chánh phủ quan tâm phát triển. Ngành nghệ thuật nào chỉ là làm nghệ thuật đơn thuần thì sẽ chết dần mòn trong cái “cơ chế” hiện nay thôi.
Buồn
cho
con
nhện
giăng
tơ!
Cải
Lương
ngày
cũ,
bây
giờ
ra
tro!


![]()
Soạn giả Nguyễn Phương
Tháng 12/2017