22:27 PST Thứ năm, 12/12/2019
trang music

Menu

CLVNCOM English Edition
HÌNH MCHAU PMAI

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 93

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 91


Hôm nayHôm nay : 23027

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 224738

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 21137084

Trang nhất » Tin Tức » Nghệ Sĩ Tâm Sự

Sao cho “Chuông Vàng” ngân mãi?

Sao cho “Chuông Vàng” ngân mãi?

Chương trình “Chuông vàng vọng cổ” vừa tìm được “Chuông Vàng” thứ 14 sau vòng thi chung kết nhiều tai tiếng. Vốn là một cuộc thi danh giá, góp phần tìm kiếm nhiều tài năng cho sân khấu cải lương, nhưng nay “Chuông vàng vọng cổ” khiến nhiều người khó hiểu và thất vọng.

Xem tiếp...

Ngũ đại gia của sân khấu cải lương xưa

Đăng lúc: Thứ bảy - 22/07/2017 11:46 - Đã xem: 1766
Bìa

Bìa

Nói tới nghệ thuật sân khấu, trước hết là phải nói tới nghệ thuật diễn viên, bởi lẽ một vở hát bội hay cải lương sau khi được sáng tác, phải nhờ có ca, diễn của các diễn viên mới có được sức sống, khán giả mới thưởng thức được nội dung tuồng tích, các nhân vật trong vở tuồng mới bộc lộ hết sức thuyết phục, làm cho tác phẩm có một tuổi thọ dài lâu, được mọi người yêu thích. Tranh cảnh, trang trí, ánh sáng, nhạc điệu, tất cả các bộ môn nghệ thuật đó đều phải hỗ trợ cho nghệ thuật diễn viên. Nếu không có người diễn viên thể hiện nhân vật thì những màu sắc, đường nét, trang trí, bài hát đều lạc lõng, thậm chí tự thân cũng không có một ý nghĩa nào.
.

Cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu - cha đẻ của bản Dạ cổ hoài lang

Có thể bạn quan tâm

Chính vì vậy, khi tôi hồi tưởng lại những chặng đường phát triển của nghệ thuật sân khấu cải lương, tôi theo dấu vết phát triển của những đại gia đình có nhiều đời theo nghề hát, từ đời ông cố tới ông nội, đời cha, con, cháu, chắt…, tôi lần được ra đầu mối của cả một quá trình thay da đổi thịt, những bước đầu sơ khởi từ “ca ra bộ” đến nghệ thuật sân khấu cải lương như hiện nay.

Những bước ngoặt ra đời của cải lương

Hồi năm 1967, Hội Nghệ sĩ Ái hữu Tương tế, trụ sở số 131 – 133 đường Cô Bắc, Sài Gòn có tổ chức một cuộc hội thảo đề tài “Kỷ niệm 50 năm sân khấu cải lương”. Tham dự buổi hội thảo có các ông: học giả kiêm nhà khảo cổ Vương Hồng Sển, cụ Á Nam Trần Tuấn Khải, ông Thanh Trung Trần Văn Khải, nhà nghiên cứu hát bội Đốc phủ Đỗ Văn Rỡ; các ký giả kịch trường như Trần Tấn Quốc (người sáng lập Giải Thanh Tâm, tặng huy chương vàng cho diễn viên ca, diễn hay nhứt trong năm), Nguyễn Ang Ca, Tô Yến Châu, Phùng Mậu, Lê Hiền, Phong Vân, Ngọc Linh, Hồng Sơn, Hoài Ngọc; các soạn giả các đoàn hát đang diễn ở Sài Gòn và các nghệ sĩ tài danh Năm Châu, Phùng Há, Ba Vân, Duy Lân, Ba Thâu, Năm Lâu, Hai Nữ, Kim Cúc, Kim Chưởng, Minh Tơ, Thành Tôn, Chín Viễn, Tám Vân, Thành Được, Hữu Phước, Việt Hùng, Ngọc Nuôi, Hoàng Giang, Thanh Nga, Bích Sơn, Ngọc Hương, Kim Giác, Kim Hoàng, Như Mai. Ban Thư ký đoàn là: Thu An, Ngọc Văn, Nguyễn Phương, Ngọc Linh và Kiên Giang.

Soạn giả Duy Lân kiêm giáo sư phân khoa kịch nghệ trường Quốc gia Âm nhạc viết bản tham luận về “Lịch sử 50 năm sân khấu cải lương”, được cử tọa buổi hội thảo tán thành. Theo Duy Lân, sân khấu cải lương đã được hình thành như sau:

- Năm 1910, ở Mỹ Tho có Ban tài tử của ông Nguyễn Tống Triều hay Tư Triều (đờn kìm), Chín Quán (đờn độc huyền), Mười Lý (thổi tiêu), Bảy Võ (đờn cò), cô Hai Nhiểu (đờn tranh) và cô Ba Đắc (ca). Bài ca được hoan nghênh nhứt lúc đó là bản Tứ Đại Oán “Bùi Kiệm – Nguyệt Nga”, cô Ba Đắc vừa ca vừa ra bộ rất vui, nên khán giả khen thưởng nhiều.

- Năm 1911, ông Trần Chánh Chiếu, chủ của Minh Tân khách sạn, ngang ga xe lửa Mỹ Tho mời Ban tài tử Tư Triều đến đờn ca ở Minh Tân khách sạn nên thu hút được đông đảo khách hàng.

Chủ rạp chiếu bóng Casino ở sau chợ Mỹ Tho thấy vậy mới mời Ban ca tài tử nầy trình diễn mỗi tối thứ tư và thứ bảy trước khi chiếu phim. Người đàn và người ca ngồi trên bộ ván bày trên sân khấu, sau đó dẹp vô rồi chiếu phim.

Những nhóm đờn ca tài tử ra đời sớm nhất

Nhà hàng Cửu Long Giang, sau chợ Sài Gòn, đường Espagne (sau gọi là đường Lê Thánh Tôn) cũng mời Ban tài tử Tư Triều đờn ca. “Ca ra bộ” được hoan nghênh nhiệt liệt ở Sài Gòn nên lục tỉnh cũng đua nhau noi theo.

Ban tài tử Nguyễn Tống Triều dự hội chợ các nước thuộc địa ở Marseille, Pháp, năm 1906 - Ảnh: tư liệu - Khoảng năm 1910, ở Mỹ Tho (Tiền Giang) có ban tài tử của Nguyễn Tống Triều, người xứ Cái Thia, rất nổi tiếng.

- Năm 1916, thầy André Lê Văn Thận, cò tàu ở Sađéc thành lập gánh xiếc có phụ diễn vài màn ca ra bộ, và mời ông Mạnh Tư Trương Duy Toản làm soạn giả viết tuồng cho gánh hát của ông. Tuồng hát thời kỳ nầy chỉ là những bài ca ra bộ được kết nối nhau theo lối kể chuyện. Bài ca thứ nhứt, bài Tứ Đại Oán, Bùi Kiệm thi rớt trở về; bài thứ 2, Bình Bán Vắn, Bùi Kiệm và Bùi Ông cãi nhau về việc thi không đậu, bài thứ 3 trở lại bài Tứ Đại Oán lớp Xang dài, Bùi Kiệm ghẹo Nguyệt Nga.

- Năm 1917, ông Pierre Châu Văn Tú, chủ rạp hát thầy Năm Tú sang lại gánh hát của ông André Thận, lập gánh hát thầy Tú, có tranh cảnh, y trang, dàn nhạc cổ và nhạc Tây. Soạn giả Mạnh Tư Trương Duy Toản được mời về viết tuồng cho gánh hát thầy Năm Tú. Các vở tuồng nổi tiếng lúc ấy là Hạnh Nguyên cống Hồ, Trang Tử cổ bồn ca. Gánh hát thầy Năm Tú diễn thường trực tại rạp hát thầy Năm Tú ở sau chợ Mỹ Tho, thứ bảy lên hát ở Sài Gòn, rạp Eden. Về sau, hát thứ bảy và chúa nhựt tại rạp Moderne (tức là rạp Long Phụng sau nầy).

Nhóm tài tử miền Tây ở Bạc Liêu có ông bầu hát bội Bầu An tục gọi là Phó tổng An, cha của nhạc sĩ Lê Tài Khị mà sau nầy giới sân khấu cải lương tôn vinh là Hậu Tổ của cải lương. Con ông Khị là nhạc sĩ Ba Chột (Lê Văn Chột) và con rể Trịnh Thiên Tư là hai nhạc sĩ có công lớn trong việc ghi chép lại các bản cổ nhạc giúp cho việc truyền dạy cổ nhạc có nề nếp quy củ hơn. Ông Trịnh Thiên Tư lại sáng tác các bài ca cổ nhạc để diễn giải lịch sử Việt Nam từ đời Hồng Bàng đến lịch sử cận kim. Môn đệ của ông Hai Khị và ông Ba Chột có nhạc sĩ Cao Văn Lầu, cha đẻ của bản vọng cổ, có ông Trần Văn Trung tức soạn giả Mộng Vân, cha đẻ của các loại tuồng kiếm hiệp La Mã, người đã sáng tác các bài bản ngắn rất phổ biến như: Sương Chiều, Tú Anh, Phong Ba Đình, Tô Võ, Giang Tô Điểu Ngữ…

Nhóm ca tài tử miền Đông đứng đầu là nhạc sư Ba Đợi (Nguyễn Quang Đại) có các môn đệ như giáo Thinh, Tư Nghị, Cao Huỳnh Cư, Cao Hoài Sang và những môn đệ kế tiếp như Chín Kỳ, Hai Phát, Tư Huyện, Hai Biểu, Sáu Quý, Bảy Hàm, Văn Vĩ, Tư Còn… (còn tiếp)



Như đã kể trên, từ ca ra bộ tới tuồng hát cải lương, lối ca hát mới chỉ cần một khoảng thời gian 7 năm để tự khẳng định cho mình một phong cách ca diễn mới. Từ bước đầu hình thành, sân khấu cải lương đã chia thành hai dòng sân khấu lớn: Tuồng Tàu và tuồng Tây mà người dân mê xem hát thường gọi là tuồng cổ và tuồng xã hội. Ca ra bộ thì chủ yếu là ca, người ca sĩ phải có giọng tốt, lối ca hay, chỉ cần ca thật hay để diễn đạt tình cảm của bài ca, còn điệu bộ thì chỉ là những cử chỉ minh họa theo lời ca.

Từ ca ra bộ đến cải lương

Hát cải lương thì bài ca là bài hát mang tính sân khấu biểu diễn. Trong hát cải lương, ca và diễn quan trọng như nhau, có những trường hợp phải múa, phải có những động tác hình thể diễn đạt tâm trạng nhân vật mà không cần lời nói, có khi nói lời thoại bình thường mà hiệu quả cao hơn ca. Từ ca ra bộ tiến tới hát cải lương, nghệ thuật cải lương đã chịu nhiều ảnh hưởng của hát bội và của các loại hình sân khấu khác như Hý khúc Trung Quốc, kịch của Pháp, của nước Anh. Hát cải lương, nghệ sĩ nào ca hay thì được gọi là kép ca hay đào ca, kép mùi hay đào mùi. Những người không có giọng tốt nhưng diễn hay thì là đào kép diễn, kép độc, kép lẳng, hề. 
Người nước ngoài muốn tìm hiểu về văn hóa - nghệ thuật Việt Nam, khi nghiên cứu hát bội và cải lương, sẽ rất thích thú khi thấy rằng cùng một đề tài sân khấu, khi diễn trên sân khấu hát bội thì mang một nội dung phong kiến, với những đạo đức khắt khe gò bó, nhưng khi phát triển thành một vở ca kịch cải lương thì nội dung mang hơi thở thời đại, phát triển theo chiều hướng cởi mở hơn, tiến bộ hơn, phù hợp với tâm tình và ý nguyện của mọi tầng lớp khán giả mới. 
Hát bội và cải lương có nhiều dị biệt: 
Tuồng hát bội thường đề cập đến đạo đức Nho giáo, Phật giáo theo quan niệm phong kiến với một trật tự xã hội khắt khe: Quân, sư, phụ. Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung; Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu. 
Tuồng cải lương phá bỏ cái vỏ phong kiến đó, đề cao tính Người và tình Người. 
Yêu cha mẹ vì công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra… Yêu mến thầy dạy vì không thầy đố mày làm nên. Muốn sang phải bắc cầu kiều, muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy. Từ chỗ yêu thương cha mẹ, kính trọng biết ơn thầy, tiến đến tình cảm nhớ ơn tổ tiên, thương yêu làng mạc, ăn ở có nghĩa nhân với bạn bè khiến cho nội dung tuồng cải lương gần gũi với cảm quan của khán giả, với tính nhân ái, lòng nhân hậu của người Việt Nam. 
cai luong, san khau cai luong, ngu dai gia
Bà bầu Thơ và gia đình cố NSƯT Thanh Nga.
Trong tuồng hát bội, người phụ nữ phải giữ đạo tam tòng tứ đức: Ở nhà phải theo cha, lấy chồng phải theo chồng, chồng chết theo con và phải ở góa suốt đời thủ tiết. 
Trong tuồng cải lương thì quan niệm hạnh phúc và đạo đức là thuận vợ, thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn, là chung thủy, là chân tình cả về phía vợ cũng như phần chồng. 
Về văn chương, tuồng hát bội dùng văn biền ngẫu, văn vần, các thể thơ ngũ ngôn, thất ngôn hoặc song thất lục bát với nhiều chữ Nho và điển tích khiến cho các tầng lớp khán giả xem khó hiểu, mất đi cảm hứng. Hóa trang và diễn xuất theo lối cách điệu, tượng trưng, nhiều khán giả cho là ngây ngô, quá đáng. 
Tuồng cải lương trong những thập niên 20-30 còn chịu ảnh hưởng nặng của hát bội nên văn chương cũng có phần bị gò bó, cũng có nhiều điển tích Tàu, chữ Nho, nhưng cải lương bắt mạch được cảm quan của khán giả và không bị gò bó vì những quy luật của nghệ thuật hát bội nên cải lương cải cách lối viết tuồng, cách trang trí, lối ca, lối diễn, để dần dần gần gũi với cuộc đời thường, giúp cho khán giả dễ hiểu, dễ bị lôi cuốn, thích thú với tuồng tích và yêu mến diễn viên. Các vở tuồng có các tựa đề như: Bội phu thiên xử, Châu Trần Tiết Nghĩa, Tư Sinh Tử, Tối Độc Phụ Nhơn Tâm của những năm 20-30 đã biến mất, thay vào đó những tựa tuồng dễ hiểu và bình dân hơn như: Tội của ai, Tiếng nói trái tim, Khi người điên biết yêu… 
Chúng ta biết rằng nghệ thuật hát cải lương được truyền dạy, đào tạo diễn viên bằng cách truyền nghề. Thời Việt Nam Cộng hòa, các giáo sư phân khoa kịch nghệ trường Quốc gia Âm nhạc là những nghệ sĩ tài danh như: Năm Châu, Phùng Há, Duy Lân, Năm Nở, Kim Cúc, Ngọc Ánh, Hai Khuê, Sáu Tửng. Chương trình dạy diễn xuất và ca hát là đều dựa theo trích đoạn các tuồng nổi tiếng như: Đoạn tuyệt, Trường hận, Khi người điên biết yêu… mà các giáo sư chính là những nghệ sĩ đã từng thủ diễn thành công các vai, các nhân vật tuồng đó, nên đem kinh nghiệm bản thân truyền dạy lại cho các học viên kịch nghệ. Cách truyền nghề nầy là thầy ca, diễn một lớp tuồng và học viên bắt chước theo. Thầy dạy bẻ tay, bẻ chân, luyện giọng, dạy cách ca, cách nói, cách nhả chữ, luyến láy, ngân nga. 
Ngũ đại gia sân khấu cải lương
Sau 1975, các trường nghệ thuật sân khấu hay các lớp đào tạo diễn viên của các đoàn hát Trần Hữu Trang cũng dùng phương pháp truyền nghề như kể trên và đặt tên là phương pháp: Thị phạm. 
Có một loại trường dạy nghề hát mà không mang danh nghĩa Trường Nghệ thuật, nhưng kết quả đào tạo thật là xuất sắc, đó là cách truyền nghề trong các gia đình nghệ sĩ qua các thế hệ ông, cha, đến các con cháu. 
Sân khấu cải lương tồn tại và phát triển được gần trăm năm nay cũng nhờ vào sự tạo dựng vững chắc của nhiều gia đình nghệ sĩ hát bội và cải lương, những người đã tận tâm tận lực, sống chết vì nghề nghiệp và nuôi dạy con cái gìn giữ lấy nghề nghiệp. 
cai luong, san khau cai luong, ngu dai gia
Gia đình NSND Thành Tôn
Văn học Tàu có cái hay là họ cô đọng lại trong một cái tên hay một câu ngắn gọn mà tóm lược được một ý đồ, một câu chuyện lớn như khi họ nói “Tứ đại mỹ nhân Trung Quốc” thì người đọc truyện Tàu nhớ ngay bốn người đẹp cổ điển của Trung Quốc xa xưa: Tây Thi trầm ngư, Chiêu Quân lạc nhạn, Điêu Thuyền bế nguyệt, Dương Thái Chân tu hoa. “Trầm ngư, Lạc nhạn, Bế nguyệt, Tu hoa” là thẩm mỹ quan của Trung Quốc nói về cái đẹp của mỹ nhân.
Nghệ sĩ cải lương miền Nam cũng được hình thành và phát triển qua các gia đình nghệ sĩ mà tôi gọi là “NGŨ ĐẠI GIA” của sân khấu cải lương miền Nam: 
1. Gia đình nghệ sĩ Minh Tơ. 
2. Gia đình nghệ sĩ Thành Tôn. 
3. Gia đình nghệ sĩ Tư Hélène. 
4. Gia đình nghệ sĩ Năm Nghĩa. 
5. Gia đình nghệ sĩ Năm Phỉ. 
Ngũ đại gia đều có năm, sáu thế hệ theo nghề hát, thể hiện rõ chiều dài của một quá trình phát triển từ sân khấu hát bội truyền thống qua hát bội pha cải lương… qua hát bội Hồ Quảng,… qua cải lương tuồng cổ… cải lương tuồng lịch sử… cải lương xã hội. 
Trong năm đại gia đình nghệ sĩ (Ngũ đại gia), tôi xin đề cập đến đại gia đình nghệ sĩ Năm Phỉ sau cùng, không phải vì bốn đại gia đình đã được kể trên có gì đặc biệt hơn, mà chỉ vì tôi muốn theo trình tự phát triển của các loại hình nghệ thuật sân khấu trong hơn 50 năm qua, để từ đó mà nhớ lại các tên tuổi, cuộc đời và sự nghiệp của các nghệ sĩ đã một thời góp tinh thần, tài nghệ và công sức để xây dựng nên một nền nghệ thuật sân khấu Việt Nam. 
Xin nhắc lại các đặc điểm của mỗi đại gia đình nghệ sĩ: 
1. Gia đình nghệ sĩ Bầu Thắng, Minh Tơ, Thanh Tòng, theo nhu cầu thưởng thức của khán giả đã góp phần “cải lương hóa” nghệ thuật hát bội truyền thống sang nghệ thuật hát bội pha cải lương, tiến tới hình thức hát cải lương tuồng Tàu, cải lương tuồng cổ (dã sử Việt Nam). 
2. Gia đình nghệ sĩ Thành Tôn - Bạch Lê cùng với gia đình Bầu Thắng - Minh Tơ canh tân hóa nghệ thuật hát bội thành loại hình nghệ thuật hát bội pha cải lương, hát tuồng Tàu, hát Hồ Quảng. 
3. Gia đình nghệ sĩ Hai Nuối, Tư Hélène, Kim Hoa, Thanh Hằng, Thanh Ngân, từ loại cải lương tuồng Tàu, sáng lập một trường phái cải lương tuồng kiếm hiệp. Nghệ sĩ Thiện Tâm (tức Ba Tẹt, bầu gánh Phát Thanh) định hình loại tuồng kiếm hiệp với công thức “Đấu poignard, nhảy cửa sổ, ca vọng cổ, phựt đèn màu”. Cùng trong trường phái tuồng cải lương kiếm hiệp có hai đoàn hát lớn mang bảng hiệu “Hậu Tấn - Bảy Cao” và “Hậu Tấn - Năm Nghĩa”. Hậu Tấn - Bảy Cao được đổi bảng hiệu là Đoàn Hoa Sen với chủ trương hát cải lương tuồng chiến tranh hiện đại (được gọi nôm na là loại tuồng “Cắc Bùm”). 
4. Gia đình nghệ sĩ Năm Nghĩa - Bầu Thơ, Thanh Nga, Bảo Quốc, xuất thân từ hệ phái tuồng cải lương kiếm hiệp, sáng lập ra một hệ phái cải lương tuồng xã hội Việt Nam, xã hội cận đại và hiện đại. 
5. Gia đình nghệ sĩ Năm Phỉ - Bảy Nam - Kim Cương, xuất thân từ phong trào ca ra bộ đã góp phần xây dựng loại hình nghệ thuật cải lương tuồng Tây, tuồng Tàu, thoại kịch xã hội, phim ảnh và kịch truyền hình. 
Sân khấu là một loại hình nghệ thuật của nhiều tài năng tổng hợp lại. Từ kịch bản văn học đến người đạo diễn, đến các ngành nghề khác như hội họa, trang trí, hóa trang, y phục, âm nhạc, tất cả đều nhằm làm tăng thêm hiệu quả diễn xuất của nghệ thuật diễn viên.
 
Nguyễn Phương / Duyên Dáng Việt Nam
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 9 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
du lich

CHUYỂN ĐẾN WEBSITE...

DUY TRÌ TRANG WEB & GIÚP NSKK

Đăng nhập thành viên

NSMAU

Thăm dò ý kiến

Nữ nghệ sĩ thế hệ vàng được yêu thích nhất

Thanh Hương

Út Bạch Lan

Diệu Hiền

Ngọc Hương

Thanh Nga

Bạch Tuyết

Lệ Thủy

Mỹ Châu

Thanh Kim Huệ

Bích Hạnh

Xuân Lan

Bích Sơn

Ngọc Giàu

Mộng Tuyền

Thanh Thanh Hoa

animation

Facebook

NS ANIMATION NHO

Sao cho “Chuông Vàng” ngân mãi?

Chương trình “Chuông vàng vọng cổ” vừa tìm được “Chuông Vàng” thứ 14 sau vòng thi chung kết nhiều tai tiếng. Vốn là một cuộc thi danh giá, góp phần tìm kiếm nhiều tài năng cho sân khấu cải lương, nhưng nay “Chuông vàng vọng cổ” khiến nhiều người khó hiểu và thất vọng.

 

NS Trinh Trinh "cứu nguy" vở "Tiên Nga", hóa thân hai vai trong suất diễn

Tối 5-12, suất diễn đầu tiên trong đợt tái diễn vở "Tiên Nga" tại Nhà hát Bến Thành, nghệ sĩ Trinh Trinh đã cứu nguy khi thế vai Lê Khánh vào phút chót.

 

Lệ Thủy ra mắt hồi ký bằng hình ảnh

Trưa 30-11, NSND Lệ Thủy đã tổ chức họp báo giới thiệu về hồi ký "Một kiếp cầm ca, sinh ra để hát" của bà do con trai là ca sĩ Dương Đình Trí thực hiện.

 

Tấn Beo: 'Tôi đã nhiều lần trả nợ cho Tấn Bo'

Nghệ sĩ hài tâm sự anh đã nhiều lần giúp em trai Tấn Bo trả nợ. Tấn Beo cho rằng khi giúp đỡ em trai hay người ngoài, anh đều không cần báo đáp.

 

100 năm bài "Dạ cổ hoài lang": NSND Ngọc Giàu thổ lộ về nhạc sĩ Cao Văn Lầu

Nhiều soạn giả, nhạc sĩ đã lấy cảm hứng từ bản nhạc "Dạ cổ hoài lang" của nhạc sĩ Cao Văn Lầu để sáng tác, như: NSND Viễn Châu (tân cổ giao duyên), Vũ Đức Sao Biển ("Đêm Gành Hào nghe điệu Hoài Lang")...

 

Nghệ sĩ Tấn Bo trần tình về nợ của vợ

Sáng 21-11, vợ chồng nghệ sĩ Tấn Bo – Xuân Nhi đã gặp phóng viên Báo Người Lao Động để trần tình về vụ việc bị tố quỵt nợ 220 triệu đồng.

 

Xúc động những lời tri ân thầy cô của nghệ sĩ sân khấu

Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, các nghệ sĩ sân khấu đã dành những lời tốt đẹp nhất đến thầy cô, các bậc ân sư dìu dắt mình vào nghề.

 

Danh sách Đề cử Mai Vàng 2019 sẽ gọi tên nghệ sĩ trẻ Hoàng Hải?

CLVNCOM - Theo số liệu tổng hợp gần nhất (8/11) của ban tổ chức giải Mai vàng 2019, Nghệ sĩ trẻ Hoàng Hải lần đầu góp mặt trong Top dẫn đầu danh sách Đề cử Mai vàng 2019 với hạng mục Nam diễn viên sân khấu

 

Biết làm, cải lương vẫn ăn khách

Vở diễn "Áo cưới trước cổng chùa" phiên bản mới vừa ra mắt cho thấy cải lương được chăm chút vẫn thu hút khán giả

 

Ngũ Đối Hạ 38 câu - Niềm Vui Trở Lại - 2 dàn Cổ nhạc : Vĩnh Long và Tây Ninh

Thân chào Quý Bạn, Hồi còn nhỏ ở Tân Trụ, Long An, có lần tôi theo Ba tôi (lúc ấy đang làm Trưởng Chi Y Tế) tới thăm một cựu bệnh nhân ( một vị bô lão xưa từng làm quan dưới triều Nguyễn) và được nghe vị bô lão này dùng đàn cò đờn bản Ngũ Đối Hạ . Lúc ấy, chỉ có Ba tôi biết thưởng thức, còn tôi thì mù tịt. Tuy nhiên, tôi còn nhớ những lời vị bô lão này nói rằng bản Ngũ Đối Hạ là một bài luận văn hoàn chỉnh gồm nhập đề (lớp 1), thân bài ( 3 lớp kế tiếp), và kết luận (lớp 5). Thân bài có lúc hùng lẫn bi ai, nhưng lớp 5 phải có hậu, tức là kết quả tốt đẹp. Bản Ngũ Đối Hạ sau này được lưu truyền trong dân gian, và được dùng để rước lễ hoặc khai mạc những buổi cúng Đình. Hôm nay, tôi dùng thể điệu Ngũ Đối Hạ để viết và ca (dù giọng già không hay) bài Niềm Vui Trở Lại thuật lại tâm tình của một Cụ Bà là bạn của Mẹ tôi. Cụ bà nói rằng niềm sung sướng nhứt trong đời của Cụ là được ở gần Ngoại và Má của Cụ bà. Bài này được tôi ca theo tiếng đàn hoà tấu của dàn cổ nhạc Vĩnh Long và dàn cổ nhạc Tây Ninh. Phạm văn Phú TB: Tôi đã dùng lối diễn tả chân phương tuyệt vời của Cố Nữ Nghệ Nhân Bạch Huệ trong bài Hồn Thiêng Sông Núi của tác giả Trần ngọc Thạch để viết bài Niềm Vui Trở Lại.

 

Hé lộ 12 nam nghệ sĩ dẫn đầu danh sách đề cử giải Mai Vàng 2019

Danh sách nghệ sĩ và tác phẩm đang ở tốp đầu đề cử qua phiếu điện tử báo NLĐ trong đợt tổng kết mới nhất, 12 nam diễn viên sân khấu là những gương mặt tài năng, có nhiều vai diễn hay trong năm 2019.

 

Học người xưa để tìm lại vàng son cho cải lương ngày nay

Sáng 8-11, Hội Sân khấu TP HCM tổ chức tọa đàm "Theo dòng lịch sử sân khấu cải lương tại Sài Gòn – 1955-1975". Các nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, nhà báo hiến kế, đóng góp ý kiến cho việc bảo tồn, phát triển cải lương trong thời đại mới.

 

: Thanh Hằng, Thanh Ngân và 3 tượng Mai Vàng

Thanh Hằng, Thanh Ngân cùng Ngân Quỳnh, Thanh Ngọc - những nghệ sĩ thế hệ thứ tư của gia tộc nổi tiếng 4 đời theo nghề hát - đã làm rạng danh thêm cho truyền thống của gia tộc

 

Xem hậu bối diễn, cô đào võ nhớ "Nhụy Kiều tướng quân"

Chương trình văn nghệ do đoàn "Tình ca Bắc Sơn" tổ chức tại Khu Dưỡng lão nghệ sĩ TP HCM tối 3-11 đã làm ấm lòng các nghệ sĩ đang an dưỡng ở đây. Trong đó, NSƯT Diệu Hiền xúc động với trích đoạn "Nhụy Kiều tướng quân" do diễn viên trẻ thể hiện.

 

NSƯT Vũ Linh: "Phương Hồng Thủy là cô đào tình tứ nhất"

Tối 30-10, trong buổi họp mặt nghệ sĩ, Vũ Linh đã bộc bạch suy nghĩ về NSƯT Phương Hồng Thủy và những vấn đề về sân khấu cải lương.

 

Thêm một nữ đạo diễn trẻ dựng vở lịch sử

Đông khán giả đã đến xem và cổ vũ nồng nhiệt vở cải lương "Dậy sóng Bạch Đằng Giang" do nữ đạo diễn trẻ Dương Thị Kim Tiến dàn dựng tại Nhà hát Trần Hữu Trang (TP HCM) tối 25-10.