Chuyện chưa kể về nhà thơ Kiên Giang: Kỳ 2: Mối tình không thơ nhạc

Nhà thơ Kiên Giang (trái) và nhà thơ Thanh Nhã

Nhà thơ Kiên Giang (trái) và nhà thơ Thanh Nhã




Nhà thơ - soạn giả Kiên Giang đã nói, những cuộc tình của ông đầy rẫy sự trắc trở, bi thương. Với mối tình đầu và cũng là người vợ đầu, hình ảnh của bà chưa bao giờ xuất hiện trong thơ, nhạc nhưng lại có sức ảnh hưởng rất lớn đến các sáng tác của ông.

“Tôi thương bà Sương vì bà là người phụ nữ chịu thương chịu khó, hết mực chiều chồng. Cả những lúc khó khăn nhất, một mình bà vẫn chống chọi, gánh gồng mưu sinh. Làm vợ của một soạn giả, một thầy giáo, một nhà thơ có tên tuổi nhưng bà vẫn chấp nhận về quê cất chòi giữ đồng nuôi vịt…”, nhà thơ Kiên Giang bồi hồi nhớ lại.
Cưới ngay kẻo… lỡ
Vợ đầu của nhà thơ - soạn giả Kiên Giang tên Nguyễn Ngọc Sương, người phụ nữ đẹp người đẹp nết. Bà Sương là người con gái thứ ba của thầy giáo làng Nguyễn Sử Ký. Trong Đoàn văn nghệ thiếu nhi lưu động do ông làm Trưởng đoàn có ca sĩ nhí tên Thanh Phong. Một hôm, sau buổi diễn, ngồi trên xuồng từ rạch Cái Mới về xóm Tổng Quảng, ông quay lại hỏi Phong: “Nhà mày có chị hay em gái không?”. Người được hỏi thiệt tình trả lời: “Có, đông lắm”. Mặt ông rạng rỡ: “Vậy về nói chị gái nấu cơm ăn đi…”. Mục đích của ông không chỉ để ăn cơm mà gặp những người đẹp. Sau lần gặp đầu tiên đó, hôm ông đưa đoàn đi diễn ở xóm Cái Bần, xã Thủy Liễu thì hai người chị thứ hai và thứ ba của Thanh Phong đứng lấp ló phía góc chùa. Lần gặp nữa, hai chị mời ông và bà Lê Thị Tị, phụ trách y tế của đoàn đến dự tiệc. Tiệc đang chuẩn bị ở nhà sau, ông luôn để mắt tới người con gái mặc áo vá vai. Nét đẹp chân phương, tần tảo của cô gái đã “hớp hồn” Kiên Giang. Người con gái đó là cô ba Nguyễn Ngọc Sương. 
Mùa dưa hấu, Kiên Giang cùng ông Nguyễn Thành Mân (sau này là chú vợ) mang một cặp dưa hấu to, đẹp đến nhà biếu gia đình Sương. Sau một hồi hỏi han qua lại, Kiên Giang bạo miệng: “Thưa bác, cháu diễn ở đây, được gia đình bác chăm lo chu đáo, cháu rất quý tấm lòng thơm thảo của gia đình. Cháu sống xa nhà thường xuyên, thấy ở đây như nhà của mình. Cháu để ý cô Ba. Bác hỏi ý kiến cô Ba thế nào rồi cho cháu hay ạ”. Nói thì nói vậy nhưng trong đầu ông không nghĩ thầy giáo Ký sẽ đồng ý tác hợp cho hai người. Nửa tháng sau, khi đoàn chuẩn bị rời làng sang làng khác diễn thì ông hay tin cô Ba đã “ưng”. Người ông như lâng lâng niềm vui khó tả. Bỗng mặt ông chùng xuống vì lo lắng phận nghèo sống rày đây mai đó lấy gì để cưới xin.
Lo nhưng phải cưới ngay, kẻo… lỡ. Một sáng đẹp trời, ông chèo xuồng một mạch từ U Minh Hạ ra mũi Gảnh rồi sang Rạch Giá nhờ người nhắn má sang làm đám nói. Thầy giáo Ký không đòi hỏi gì ở nhà trai ngoài những câu căn dặn bọn trẻ “có phước cùng hưởng, có họa cùng chia”. Đám cưới diễn ra trong trại đóng ghe của hàng xóm ở ấp Xẻo Trát, làng Long Thạnh vào một đêm trăng sáng. Ngày vui, ông mặc chiếc áo cẩm tự, đó là món quà ông vừa nhận được khi đạt giải II cuộc thi Thơ đồng bằng sông Cửu Long.
Vợ soạn giả nuôi vịt
Bà Sương có mang cũng là lúc ông đi chiến dịch Long Châu Hà (Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên). Vợ chuyển dạ, ông Ký và người cậu vợ đưa bà Sương bằng xuồng qua Rạch Giá để vào nhà bảo sanh. Bà hạ sinh đứa con đầu lòng, đặt tên là Trương Thị Ngọc Nữ. Năm 1957, ông rước vợ con lên Sài Gòn sinh sống ở đình Phú Thạnh, nay thuộc Q.Tân Phú. Ở tạm cùng gia đình ông tại đình này còn có soạn giả Minh Nguyên. Thời gian sống ở đây, soạn giả Kiên Giang đã viết 3 đĩa vọng cổ. Khi Đoàn ca nhạc vũ kịch Thúy Nga thành lập, ông rời Báo Tiếng Chuông để về đây phụ trách kỹ thuật. Khi trở thành soạn giả tên tuổi, ông mới có tiền mua nhà ở đường Trần Bình Trọng, Q.5. Các con kế của ông lần lượt sinh ra tại căn nhà này là Trương Thị Ngọc Thùy, Trương Huy Ngọc, Trương Hà Châu. Trước Hà Châu, ông còn có một người con nữa là Nguyễn Ngân Hà. Sở dĩ Ngân Hà mang họ Nguyễn của mẹ là vì tháng ngày loạn lạc, ông phải trốn cảnh bắt bớ. Ngân Hà còn được ba đặt cho cái tên khác là Phà Ca. Lúc bấy giờ, soạn giả cải lương Quy Sắc (tức Nguyễn Phú Quý, quê Sông Bé cũ, nay là Bình Dương, đã mất) có viết kịch bản cải lương Đời sơn nữ. Kịch bản này được Kiên Giang xem và sửa lại theo yêu cầu của Quy Sắc và đổi tên thành Người vợ không bao giờ cưới, hay còn gọi là Sơn nữ Phà Ca. Kịch bản viết xong ký tên là Phúc Nguyên - Kiên Giang (Phúc Nguyên là tên con gái đầu của Quy Sắc). Con trai đầu của Quy Sắc là Mộng Long nên Kiên Giang đặt tên con gái Ngân Hà là Phà Ca. (Mộng Long và Phà Ca là hai nhân vật trong Người vợ không bao giờ cưới). Soạn giả Kiên Giang và Quy Sắc còn hứa gả con cho nhau.
Với Kiên Giang, bà Sương là người phụ nữ quê mùa, tần tảo hết lòng vì chồng con. Ông nhớ lại những ngày khó khăn nhất, bà đã tích cóp mua cho ông một cái bàn để ông viết lách. Chiếc bàn này đối với ông là một kỷ vật. Dù phải liên tục thay đổi chỗ ở, ông vẫn mang theo suốt 60 năm. Những năm ông bán căn nhà ở đường Trần Bình Trọng để về quê, đó là quãng thời gian khó khăn nhất. Đêm lại ông chèo xuồng đi dạy học. Còn bà nằm giữa đồng để trông coi đàn vịt. Soạn giả Kiên Giang kể: “Thời gian tôi phải ở lại bên xã Thủy Liễu, ở nhà không may vịt nhiễm bệnh và chết hết. Vợ tôi khóc nức nở, tiếc hùi hụi bao vốn liếng, tôi thấy thương làm sao”.
Trần Tuy An

Tác giả bài viết: tancogiaoduyen

Nguồn tin: GDO