Ngôn Ngữ Cải Lương Trong “Tuyệt Tình Ca”

UTO-PL

UTO-PL

Có thể nói ít người Việt không nghe tới cải lương, ai cũng từng “coi” cả tuồng hay nghe lõm bõm vài câu trích đoạn. Cải lương ngoài những đặc điểm như người diễn tài tình, ca mùi, xuống vọng cổ ngọt còn có thêm một nét độc đáo nửa là ngôn ngữ xử dụng khá lạ so với đời sống thường ngày. Chính cái đặc thù ngôn ngữ này đã làm người ta ưa thích và không ưa thích cải lương.
Car Rental Discount Coupons!

So với kịch hay phim ảnh, soạn một vở tuồng cải lương khó hơn rất nhiều lần. Soạn giả phải xây dựng cốt truyện, chuẩn bị tâm lý của nhân vật cho thích hợp, lựa đào hay kép trong đoàn hát cho vai trò và quan trọng hơn hết phải hiểu các “điệu ca” để biến lời đối thoại của người trong cảnh thành một đoạn ca theo đúng với đòi hỏi của điệu nhạc và thích hợp với hoàn cảnh của nhân vật lúc đó. Vì vậy không thể nói ngắn, gọn theo đúng với cách đối thoại của chúng ta trong cuộc sống được. Đây là chổ buộc cải lương phải có một lối nói hay ngôn ngữ riêng biệt mà bị người đời mĩa mai “cải lương”. Chúng ta thường nghe “thằng đó cải lương hết sức” hay “đừng có cải lương” là những lời ngụ ý chê bai người nói có vẽ văn hoa quá mức bình thường. Điều này vô tình làm lu mờ đi ý nghĩa thiệt sự của hai chữ Hán Việt “cải lương” là “làm đẹp”.

Một trong những tuyệt tác cải lương mà hầu như bao nhiêu thế hệ đã say mê là “Tuyệt Tình Ca” của hai soạn giả Hoa Phượng và Ngọc Điệp viết khoảng năm 1965, 1966.

Trong cuộc đối thoại giữa ông Hương(ông cò quận 9) và bà vợ lớn, bà đã trách ông chồng chuyện quá khứ tuyệt khéo bằng câu ca dao biến thể rất hay. Thay vì chì chiết chồng là mê vợ bé bỏ bê bà và con như cách nói thông thường của những bà vợ lên cơn ghen, bà đã “ca”:
” Ông à, trồng trầu thì phải khai mương
Làm trai hai vợ mà ông thương không đồng
Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Lia thia quen chậu mà vợ chồng sao ông vội quên hơi”
Soạn giả đã mượn 2 câu hát:
Trồng trầu thì phải khai mương
Làm trai hai vợ phải thương cho đồng

Chim khuyên ăn trái nhãn lồng
Lia thia quen chậu vợ chồng quen hơi

Hai câu này không liên hệ gì với nhau hết, nhưng qua bàn tay của soạn giả, chúng được ghép lại rồi sửa một chút để thành một câu hát cải lương tròn trịa, ngăn trước đón sau, khéo léo và chính xác tới nổi ông Hương chỉ còn nước chống chế một cách yếu ớt:
– Có câu đó hà, mà cứ nhắc đi nhắc lại hoài
(Nhân đây cũng xin nhắc lại một câu ca dao khác được sử dụng trong Tuyệt Tình Ca mà soạn giả sửa đổi đã đem tới ngộ nhận cho rất nhiều người là:
– Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẽo gập ghình khó đi
Khó đi mẹ dắt con đi
Con thi trường học mẹ thi trường đời
khi Hồ nhắc lại với bà Lan chuyện khổ cực lúc nhỏ. Nguyên bản ca dao, bốn câu là:
– Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẽo gập ghình khó đi
Khó đi mượn chén ăn cơm
Mượn ly uống rượu mượn đờn kéo chơi
Trong tuồng này có 3 câu ca dao được sử dụng rất hay, đúng nơi và hợp với tâm trạng của nhân vật vô cùng, làm nổi bật thêm cái giá trị của ca dao, một câu khác sẽ nói sau.)
Đoạn khác, Nhân con trai ông Hương đã trả lời ông về chuyện vợ con, rất cải lương như sau:
– Vậy con xin ba hãy để cho con có quyền lựa chọn, dù sự lựa chọn kia có đưa con vào “cuối ngõ tình yêu phũ kính mây mù”
thay vì nói đơn giản là “xin ba để cho con có quyền lựa chọn, sau này có khổ con xin gánh chịu” thì sẽ không thành một câu hát cho diễn viên Hùng Cường xuống vọng cổ ngon lành được.
Một đoạn khác, ông nhân tình của cô Thoa đã “ca” khéo như vầy:
– Bởi những người kia họ không thật dạ yêu Thoa, họ chỉ muốn được hưởng mùi hoa, rồi phụ phàng cất cánh bay xa. Còn anh một lòng chân thật yêu Thoa và muốn được Thoa yêu, dầu nhọc tâm khổ trí bao nhiêu, Thoa lên trời anh cũng quyết bay theo.
Mấy anh ra đường tán gái, mà nói kiểu này sẽ bị các cô cười vô mặt rồi bỏ đi chổ khác là cái chắc. Nhưng trong cải lương mà nghe một anh già theo tán tỉnh cô gái còn tơ như vậy lại chỉ thấy thích thú và đúng điệu ghê lắm. Chú ý tới cái vần của câu ca “yêu Thoa”, “mùi hoa”, “bay xa”, “yêu Thoa và muốn được Thoa yêu”, “bao nhiêu”… soạn giả đã rất công phu lựa một câu ca sặc mùi cải lương để gắn vô miệng một anh sồn sồn lén vợ đang dụ dỗ gái.

Lần gặp gở cay đắng giữa cha con ông Hương và cô An(hay Thoa) đầy nước mắt, cũng được soạn giả mượn điển tích xưa để lồng vô, ông Hương đã nói:
– Có lẽ định mệnh của mỗi người đều do trời cao sắp đặt cho nên cái nút ruồi thương phu trích lệ kia là để báo trước những cơn bảo táp trong đời

Nút ruồi “thương phu trích lệ” lấy theo điển tích Chiêu Quân đời nhà hán bên Tàu, vua Hán Nguyên Đế có rất nhiều cung, phi không thể nào “nhớ mặt” được hết. Ông mới ra lịnh cho họa sĩ vẽ hình các bà cho ông lựa, Chiêu Quân vì không có hối lộ cho họa sĩ Mao diên Thọ nên bị họ Mao điễm thêm một cái nút ruồi ngay dưới khóe mắt, nơi mà, khi khóc nước mắt sẽ chảy qua. Người ta cho rằng đây là nút ruồi khóc chồng, “thương phu trích lệ”, đàn bà có nút ruồi này có số “sát phu”. Ông Hương đem cái điển tích này ra ở đây ngụ ý xa xôi là đời cô Thoa qua tay nhiều người đàn ông vậy thôi chớ không có “sát” mấy lão này đâu. Chỉ có cải lương mới nói văn hoa được như vậy.

Hay cô An đã nói về người em:
– Nó thằng con trai lớn lên trong nghèo khổ mà quen tánh dọc ngang, nó đâu có thèm hiểu được nổi lòng của một “cành hồng khi gánh chịu trăm mưa”
cũng rặt là bóng gió, ví von ngoài mức thông dụng hay thấy, xa với thường gặp trong cách nói chuyện của người ta hằng ngày.

Có lẽ đoạn đối thoại giữa vợ chồng ông Hương và bà Lan khi gặp lại nhau trong ngở ngàng mới là tuyệt tác, là tâm điểm cho cả vở tuồng này. Soạn giả đã bỏ ra rất nhiều công phu vô đoạn này để diễn đạt tâm lý của nhân vật và đánh động rất mạnh mẽ vô tâm thức của khán giả. Hai ông mượn ý của hai câu thơ cổ nồng nàn về tình ý, mới lạ trong ngôn từ, tương truyền là của vua Tự Đức khóc bà “Bàng Phi”
Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi
diễn thành một đoạn ca cho bà Lan trình bày với ông chồng đã đẩy cái xúc cãm của khán giả lên tới tột cùng và cái đau lòng trong tâm khãm của ông Hương tới mức xót xa nhất. Theo tôi nghĩ, soạn giả đã thành công vượt qua mức mong đợi của mình, khi đưa bộ bà ba lụa lèo của ông Hương như là kỹ vật bà giữ suốt 20 năm và những lời ngọt ngào làm rơi nước mắt:
– … Hơi hám của chồng tôi, tôi còn giữ tới bây giờ.
Hể cứ mỗi lần trở xuân, gợi niềm luyến nhớ không tên, hồi xưa, ảnh đi tôi về xếp lại y trang, để khi buồn ôm ấp làm vui, tôi luốn những ngậm ngùi, nhớ thương chồng, tôi vẫn chừa nguyên vẹn, bộ bà ba kỹ niệm, thấm mồ hôi của ảnh tới bây giờ.(Sau này người ta đổi lại một chút, “…ảnh đi tôi về xếp lại tàn y…” nghe xuôi tai hơn, xếp lại “y trang” là lời của nguyên bản trước năm 1975, nhưng có lẽ trước đây soạn giả không muốn dùng chữ “tàn y” hai lần vì khi ông Hương trả lời bà Lan có nói tới “tàn y” )
Mượn ý của 14 chữ trong 2 câu thơ cổ rồi biến thành một đoạn ca ngọt ngào của người đàn bà nuôi con chờ chồng trong suốt 20 năm gian khổ, không ngày nào quên đã đoan chắc cho sự thành công của tuồng hát này. Ngôn ngữ đặc sệt chất cải lương này hoàn toàn vắng bóng trong lối nói hằng ngày của chúng ta. Cùng lắm người ta có ở trong hoàn cảnh tương tợ, khi kể lể cũng chỉ là đại loại như “tôi đã chờ đợi, ngóng trông chồng suốt 20 năm ròng rã, mỗi ngày mỗi nhớ, mỗi đêm mỗi thấy hình bóng của chồng mình. Cái áo cái quần của chồng tôi trước đây để lại như vẫn còn đượm mùi hương của người chồng yêu quý”. Như vậy cũng đã là hơi “xạo” rồi, nói chi tới cảnh cái gói giấy được mỡ ra để cho thấy bộ bà ba lụa lèo cũ và những “sáo ngữ” của bà Lan. Tuy nhiên nếu chúng ta chấp nhận được ngôn ngữ cải lương sẽ thấy đoạn này soạn giả viết hay và tình tứ vô cùng và cũng hợp lý ghê lắm, có ông chồng nào gặp lại người vợ mà mình thương nhớ trong suốt 20 năm như ông Hương mà không chết lặng trong hồn được. Nổi lòng của người đàn bà chờ chồng, không quên được mùi hương của ông chồng đi xa thì làm sao nghĩ tới người nào khác được nửa. Soạn giả đã gián tiếp cho ông Hương thấy được cái tâm lý khắc khoải, nổi khổ đau mong đợi của bà vợ chung thủy như thế nào.
Cho nên câu trã lời của ông Hương, một người từng đi dạy học, cũng bóng bẩy không thua gì. Ở đây ta có thể thấy bóng dáng của Truyện Kiều khi soạn giả mượn 2 câu Kiều
“Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”
để cho ông Hương “ca”
– Tơ tằm kia đã cũ, tàn y sắp rã tan mà tơ lòng sao vẫn vẹn nguyên như tình thủa còn xuân, ôi đẹp đẻ vô cùng
Người ta có thể sắp xếp và sửa lại một ít như sau:
Tơ tằm kia đã cũ
Tàn y sắp rã tan
Tơ lòng sao vẫn vẹn
Như tình thủa ban đầu
Ôi đẹp đẻ vô cùng
để thành một bài thơ ngủ ngôn ngọt ngào, đằm thắm của một người chồng vẫn không quên bà vợ nhỏ thốt lên. Đây là nét đặc biệt, ngôn ngữ riêng của cải lương đó, lời ca như một vần thơ vậy nếu chịu khó suy nghĩ.

Câu trã lời của ông Hương hay tuyệt, vừa khen bà vợ trọn lòng vừa bày tỏ ý mình là không hề quên vợ con. Kiều than là chỉ còn vương chút mong manh tơ lòng mà ông Hương lại cho là tơ lòng của mình và bà Lan còn “vẹn nguyên như tình thủa còn xuân” của hai người, còn gì đẹp và hay hơn đâu. Một lần nửa, trong cuộc đời không bao giờ ta có thể nghe được những lời tương tự từ cửa miệng của bất kỳ ai, đây là nét đặc thù riêng trong ngôn ngữ cải lương mà thôi.

Cũng trong đoạn này, cái tài tình của soạn giả đã biến câu thành ngữ “bóng chim tăm cá” thành một câu ca nghe nức nở của ông Hương, khi ông phân trần với bà Lan. Thay vì nói “hồi đó tôi đã đi tìm mình khắp tỉnh Vĩnh Long mà không thấy”, hãy nghe:
-Hồi đó tôi đã đi tìm mình khắp tỉnh Vĩnh Long, ôi sông dài có thấy đâu tăm cá, mà trời cao cũng vắng bặt tin hồng.
mới thấy được cái ngôn ngữ rất sáo này không thể nào vắng mặt được trong một tuồng cải lương.

Hãy nghe tâm trạng chờ đợi trong tuyệt vọng của một người đàn bà cam lòng làm vợ nhỏ vì tình mà đau khổ qua cách sử dụng ca dao đúng chỗ, đúng hoàn cảnh của bà Lan:
– Trưa nào ngồi vá áo cho thằng Hồ với con An, tôi cũng nghe văng vẵng tiếng người hàng xóm hát ru con, ầu ơ gió đưa bụi chuối sau hè, anh mê vợ bé, ầu ơ, anh mê vợ bé bỏ bè con thơ, nghe tủi phận mình làm lẻ lệ trào tuôn…
tuyệt vời cho những lời “cải lương” ngọt ngào mà bao nhiêu người đã không cầm được nước mắt, xót xa cho người đàn bà bạc phước, khi nghe.

Phim ảnh cần ngắn, gọn nhưng đầy đủ để nhấn mạnh với khán giả thì ngược lại, cải lương đòi hỏi dài dòng nhằm thích hợp với một đoạn ca hay một câu vọng cổ của đào hoặc kép đã làm nãy sanh ra cái nét riêng của ngôn ngữ cải lương mà người yêu mến phải chấp nhận để thấy cái hay của cải lương.

nguoinhabe

Nguồn tin: tcgd theo NNB