-
Xuất
thân
từ
một
diễn
viên,
nhờ
đâu
ông
trở
thành
đạo
diễn,
nhà
giáo
ưu
tú?
-
Ngày
còn
bé,
tôi
mơ
ước
lớn
lên
làm
những
nghề
mang
tính
khoa
học...
Nhà
tôi
rộng
nên
cho
một
nhóm
kịch
tới
mượn
tập.
Đang
thơ
thẩn
vì
không
đậu
được
vào
trường
như
mơ
ước,
tôi
được
bạn
bè
rủ
chơi
kịch.
Được
những
người
thày
giỏi
nghề,
tác
giả
Lộng
Chương,
đạo
diễn
Đình
Quang
khai
tâm
và
dẫn
dắt,
tôi
bị
cuốn
hút
vào
nghề
lúc
nào
không
hay.
Tốt
nghiệp
diễn
viên
khóa
I
trường
Nghệ
thuật
Sân
khấu
1
năm
1964
cùng
với
Doãn
Hoàng
Giang,
Trọng
Khôi,
Đoàn
Dũng,
Thế
Anh,
Nguyệt
Ánh...,
tôi
thường
đóng
loại
vai
"đứng
đắn"
như
cán
bộ,
bộ
đội,
trí
thức,
giáo
sư...,
thỉnh
thoảng
đóng
quan
Tây.
Sau
ba
năm
làm
diễn
viên,
tôi
được
chọn
đi
học
đạo
diễn
tại
Bulgaria.
Về
nước,
tôi
làm
chủ
nhiệm
khoa
kịch,
rồi
khoa
đạo
diễn
Đại
học
Sân
khấu
VN.
Năm
1986,
tôi
chuyển
vào
TP
HCM,
về
hưu
năm
1998
khi
đang
là
hiệu
trưởng
Cao
đẳng
Sân
khấu
Điện
ảnh
TP
HCM.
Tôi
là
người
không
có
cao
vọng
nên
hài
lòng
với
cuộc
sống,
vì
từ
khi
vào
đời
đến
nay
đều
được
làm
điều
mình
thích.
Khi
là
cán
bộ
giáo
vụ,
muốn
học
diễn
viên;
lúc
làm
diễn
viên
muốn
học
đạo
diễn;
tốt
nghiệp
đạo
diễn
muốn
đem
bầu
nhiệt
huyết
đóng
góp
cho
sân
khấu
nước
nhà
thì
được
về
trường
truyền
dạy
cho
thế
hệ
trẻ.
Tôi
quan
niệm,
được
làm
việc
là
điều
quan
trọng
nhất.
Ngoài
được
làm
việc
ra,
tất
cả
mọi
cái
đều
phù
phiếm.
-
Là
người
đã
dựng
không
ít
vở
có
tiếng
vang
được
công
chúng
yêu
thích,
những
yếu
tố
nào
giúp
cho
người
dựng
vở
có
được
sự
thành
công
như
vậy?
-
Đó
là
chọn
được
một
kịch
bản
tốt
và
một
ê-kíp
diễn
viên
giỏi
đồng
bộ.
Tôi
may
mắn
có
được
ba
vở
như
vậy.
Đó
là
Người
cha
thô
bạo
(Nhà
hát
Kịch
VN)
với
Trần
Tiến,
Đoàn
Dũng,
Thế
Anh,
Quang
Thái,
Bích
Châu;
Số
phận
trớ
trêu
với
Hồng
Vân,
Quốc
Thảo,
Kim
Loan,
Minh
Phượng;
Chuyện
văn
chương
với
Thành
Lộc,
Thanh
Thủy,
Hữu
Châu,
Thái
Quốc...
Ở
những
vở
tự
cảm
thấy
trước
là
thành
công
như
vậy,
có
nhiều
sáng
tạo
xuất
phát
từ
diễn
viên.
Đạo
diễn
là
người
biết
chớp
lấy
thời
cơ
ấy
và
đẩy
nó
lên.
-
Khi
tập
vở,
điều
gì
làm
cho
ông
khoái
nhất
và
chán
nhất?
-
Khoái
nhất
là
lúc
đưa
vở
lên
sàn
tập.
Đó
là
những
khoảnh
khắc
thú
vị,
sung
sướng
khi
tìm
được
ngôn
ngữ
phù
hợp,
cách
xử
lý
đắc
ý.
Có
những
buổi
tập
hay
hơn
khi
diễn.
Khi
vở
ra
công
diễn,
nó
hoàn
toàn
thuộc
về
diễn
viên.
Lúc
đó
đạo
diễn
chỉ
còn
là
cái
tên
mà
thôi.
Tiếc
là
những
khoảnh
khắc
thật
sự
làm
cho
đạo
diễn
hạnh
phúc
ấy
không
nhiều.
Còn
chán
nhất
là
lúc
vở
không
tiến
triển
được,
trong
đó
có
sự
đợi
chờ.
Đợi
chờ
diễn
viên
đến
tập,
đợi
chờ
cái
gì
đó
âm
ỉ
trong
đầu
mà
không
ra
được.
Những
lúc
ấy,
đi
xe
máy
rất
nguy
hiểm,
đôi
khi
không
nhớ
đến
đèn
đỏ.
-
Sân
khấu
cả
nước
nói
chung
hiện
nay
ít
vở
hay
so
với
trước.
Theo
ông,
vì
sao
vậy?
-
Đạo
diễn
sân
khấu
sáng
tạo
trên
cơ
sở
kịch
bản.
Kịch
bản
hiện
nay
đa
phần
bị
lỏng
lẻo,
bịt
chỗ
này
hở
chỗ
kia,
không
chặt
chẽ.
Không
có
sự
đồng
bộ
giữa
các
khâu:
tác
giả,
đạo
diễn,
diễn
viên.
Tính
toàn
vẹn
của
một
vở
diễn
còn
yếu.
-
Là
người
dựng
vở
ở
cả
hai
miền
Nam
Bắc
và
suốt
trong
một
thời
gian
dài
gần
bốn
mươi
năm
nay,
ông
có
nhận
xét
gì
về
các
thế
hệ
diễn
viên?
-
Thế
hệ
chúng
tôi
có
niềm
đam
mê
và
cảm
xúc
với
sân
khấu.
Họ
làm
nghề
bằng
sự
tự
học
nhiều
hơn
là
được
người
khác
nhồi
nhét.
Ngay
đến
thế
hệ
trẻ
hơn
như
Thành
Lộc
cũng
là
một
thế
hệ
vàng,
rất
có
khả
năng
không
thua
gì
diễn
viên
nước
ngoài.
Khi
mang
vở
Ông
Jourdain
ở
Sài
Gòn
đi
Pháp,
họ
rất
khen
diễn
viên
VN
về
kỹ
thuật
hình
thể,
rất
uyển
chuyển.
Lớp
trẻ
ngày
nay
đi
vào
sân
khấu
với
nhiều
động
cơ,
thường
mang
tính
thực
dụng,
lý
trí,
thiếu
đam
mê.
Họ
tiếp
thu,
hiểu
nhanh
và
cũng
bị
chai
rất
nhanh,
muốn
có
ngay
kết
quả.
Họ
có
quá
ít
kiến
thức,
một
phần
do
cuộc
sống
đòi
hỏi
sự
tất
bật,
phần
khác
do
ít
chịu
đọc
sách
nên
vốn
sống
gián
tiếp
nghèo
nàn.
Giải
quyết
được
vấn
đề
kiến
thức,
khả
năng
diễn
xuất
sẽ
sâu
hơn.
Diễn
viên
không
chỉ
hiểu
nhân
vật
mà
còn
phải
cảm
mới
thể
hiện
hay
được.
Tôi
cho
rằng
trực
giác
này
ở
diễn
viên
còn
yếu.
Đội
ngũ
viết
kịch
bản
bây
giờ
cũng
thiếu
đi
sự
lãng
mạn,
mơ
mộng.
Các
nhân
vật
của
họ
sống
lấy
được
với
những
lỗi
lầm
trần
trụi,
thực
tế
quá...
Ý kiến bạn đọc