Nghệ
sĩ
Minh
Cảnh
gây
bất
ngờ
khi
xuất
hiện
với
vóc
dáng
phong
độ
ở
tuổi
U.90.
Ông
vẫn
thỉnh
thoảng
đi
hát,
sống
cuộc
sống
bình
yên
ở
xứ
cờ
hoa.
Xem
tiếp...
Ngũ
Cung
Việt
Nam
trong
hệ
thống
Nhạc
Lý
Biên
Khảo:
Giòng
Bách
Việt
Ngũ
Cung
trong
âm
nhạc
là
một
đề
tài
mà
từ
xưa
tới
nay
có
rât
nhiều
người
nghiên
cứu,
bàn
luận
tranh
cãi
và
hứa
hẹn
trong
tương
lai
sẽ
viết,
sẽ
sáng
tác
thành
những
thể
loại
mang
tính
Ngũ
Cung
.
Nhưng
thực
tế
đến
ngày
nay
chưa
có
một
đáp
ứng
nào
cụ
thể
mang
tính
giáo
khoa
hay
nói
cách
khác
là
đưa
ra
một
câu
trả
lời
thiết
thực
cho
nhu
cầu
học
hỏi,
như
một
kiến
thức
căn
cản
.
Phần
biên
khảo
này
với
hy
vọng
sẽ
tạo
ra
một
hướng
đi
thiết
thực
mang
tính
nâng
cao
tinh
thần
tìm
tòi,
sáng
tạo
cho
những
ai
có
lòng
quan
tâm
đến
âm
nhạc
trong
Ngũ
Cung
Việt
Nam
.
Theo
quan
niệm
người
xưa,
có
rất
nhiều
loại
cỗ
thư
(sách
xưa)
đã
ghi
chép
về
Ngũ
Cung
có
liên
quan
đến
Kinh
Dịch
và
Ngũ
Hành
:
Kim,
Mộc,
Thủy,
Hỏa,
Thổ
.
Dưới
đây
là
bảng
sắp
hạng
Ngũ
Hành
tương
ứng
với
Ngũ
Cung
:
Nốt
Nhạc.
Phương
Hướng,
4
Mùa,
Ngôi
Sao
(Tinh
tú),
Tình
cảm,
Ngũ
tạng,
Màu
Sắc
.
Ngũ
hành
Kim
Mộc
Thuỷ
Hỏa
Thổ
Ngũ
cung
Thương
Giốc
Vũ
Chủy
Cung
Nốt
Nhạc
4
Phương
Re
Tây
Do
Đông
Sol
Bắc
La
Nam
Mi
Trung
Tâm
4
Mùa
Thu
Xuân
Đông
Hạ
Bốn
Mùa
Tinh
Tú
Venus
Jupiter
Mercury
Mars
Saturn
Tình
cảm
U
buồn
Giận
dữ
Sợ
hãi
Vui
mừng
Lo
lắng
Ngũ
Tạng
Phế
Tâm
Thận
Can
Tỳ
Màu
Sắc
Trắng
Xanh
Đen
Đỏ
Vàng
Những
điều
chú
giải
về
(Cung
Thương
Giốc
Vũ
Chủy)Âm
điệu
của
giây
Cung
thuộc
Thổ
được
sắp
hạng
thuộc
loại
cao
thượng,
có
liên
hệ
và
ảnh
hưởng
đến
bộ
phận
tụy
tạng
(tỳ)
.
Những
người
thường
xuyên
nghe
loại
nhạc
như
vậy
thì
sẽ
trở
nên
lương
thiện
và
nhẫn
nhục.
Âm
điệu
của
giây
Thương
thuộc
Kim,
u
buồn
nặng
nề,
không
bị
bẻ
cong.
Loại
âm
nhạc
này
ảnh
hưởng
phổi
(phế)
nếu
nghe
thường
xuyên
thì
người
ta
sẽ
trở
nên
chân
chính
và
thân
thiện.
Âm
điệu
của
giây
Giốc
thuộc
Mộc
là
cỏ
cây
hoa
lá,
mùa
Xuân
tới
và
đánh
thức
mọi
đời
sống
trỗi
dậy
sảng
khoái.
Loại
âm
nhạc
này
ảnh
hưởng
gan
(can).
Nghe
cung
nhạc
này
thì
người
ta
sẽ
trở
nên
lương
thiện
và
hòa
giải.
Âm
điệu
của
giây
Chủy
thuộc
Hỏa
là
vui
tươi,
sôi
nổi
về
tình
cảm,
ảnh
hưởng
tim
(tâm),
khiến
người
nghe
có
lòng
rộng
lượng
hơn
.
Âm
điệu
của
giây
Vũ
thuộc
Thủy,
giống
như
nước
chảy
êm
đềm.
có
ảnh
hưởng
đến
quả
thận
(thận).
Lắng
nghe
những
âm
điệu
này
làm
cho
người
ta
cảm
thấy
đầu
óc
quân
bình
và
nhẹ
nhàng,
“buồn
nhưng
không
đau
khổ”,
“vừa
ý
nhưng
không
đi
quá
mức”
Trên
đây
là
những
quan
niệm
cổ
xưa
về
âm
nhạc
đã
diễn
tả
.
Hệ
thống
và
tên
các
nốt
cổ
xưa
trong
“Uyên
Giám
Loại
Hàm:
(Cả
hai
hệ
thống
dưới
đây
tính
theo
quãng
năm)
Ví
dụ:
Từ
Fa
đến
Do
>
Fa
Sol
La
Si
Do
=
quãng
5
(Hoàng
Chung:
Fa)
=
81
=
(Lydian)
Hoàng
chung
(Fa)
81
x
2
=
54
(Lâm
Chung)
=
Do
(Ionian)
3
Lâm
chung
54
x
2
x
2
=
72
(Thái
tuế)
=
Sol
(Mixolydian)
3
Thái
thốc
72
x
2
=
48
(Nam
lữ)
=
Re
(Dorian)
3
Nam
lữ
48
x
2
x
2
=
64
(Cổ
tẩy)
=
La
(Aeolian)
3
Cổ
tẩy
64
x
2
=
42
(Ứng
chung)
=
Mi
(Phrygian)
3
Ứng
chung
42x
2
x
2
=
57
(Nhuy
tân)
=
Si
(Locrian)
3
Ngũ
Cung
là
những
nốt
thăng
Nhuy
tân
57
x
2
x
2
=
76
=
(Đại
lữ)
=
Fa#
3
Đại
lữ
76
x
2
=
51
=
(Di
tắc)
=
Do#
3
Di
tắc
51
x
2
x
2
=
68
=
(Giáp
chung)
=
Sol#
3
Giáp
chung
68
x
2
=
45
=
(Vô
địch)
=
Re#
3
Vô
địch
45
x
2
x
2
=
60
=
(Trọng
lữ)
=
La#
3
Đọc
kỹ
hai
phần
thiết
lập
trong
Ngũ
Cung
(pentatonic)
trên
đây
cho
thấy
sự
liên
hệ
là
Quãng
5
khi
thành
lập
một
âm
giai
mới
.
Đây
là
sự
khác
biệt
trong
Âm
Giai
Thiên
Nhiên
.
Chúng
ta
theo
thứ
tự
căn
bản
như
hiện
nay
để
áp
dụng
cho
dễ
dàng
nhận
biết
các
Cung
(tone)
Quãng
(Interval)
nhằm
mục
đích
tìm
ra
các
âm
(nốt)
trong
các
âm
giai.
Sắp
đặt
lại
theo
hệ
thống
7
nốt
như
sau:
1
Lâm
chung
=
Do
(Ionian)
Di
tắc
=
Do#
2
Nam
lữ
=
Re
(Dorian)
Vô
địch
=
Re#
3
Ứng
chung
=
Mi
(Phrygian)
4
Hoàng
chung
=
Fa
(Lydian)
Đại
lữ
=
Fa#
5
Thái
thốc
=
Sol
(Mixolydian)
Giáp
chung
=
Sol#
6
Cổ
tẩy
=
La
(Aeolian)
Trọng
lữ
=
La#
7
Nhuy
tân
=
Si
(Locrian)
Từ
nốt
1
đến
nốt
thứ
bảy
là
7
Âm
Giai
Thiên
Nhiên
(church
scale)
5
nốt
thăng
là
những
nốt
trong
giữa
các
Cung
hay
gọi
là:
giảm
(Diminissed)
hoặc:
thăng
(Augmented)
{
cung
đồng
âm
.
Thành
lập
âm
giai
Thiên
Nhiên=
12
ô
phân
cung
bậc
theo
thứ
tự
dưới
đây:
Nhìn
bảng
hệ
thống
này
sẽ
thấy
các
nốt
Ngũ
Cung
là
những
nốt
thăng
màu
đỏ.
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Do
#Do
Re
#Re
Mi
Fa
#
Fa
Sol
#Sol
La
#La
Si
Re
#Re
Mi
Fa
#Fa
Sol
#Sol
La
#La
Si
Do
#Do
Mi
Fa
#Fa
Sol
#Sol
La
#La
Si
Do
#Do
Re
#Re
Fa
#Fa
Sol
#Sol
La
#La
Si
Do
#Do
Re
#Re
Mi
Sol
#Sol
La
#La
Si
Do
#Do
Re
#Re
Mi
Fa
#Fa
La
#La
Si
Do
#Do
Re
#Re
Mi
Fa
#Fa
Sol
#Sol
Si
Do
#Do
Re
#Re
Mi
Fa
#Fa
Sol
#Sol
La
#La
Tách
những
nốt
thăng
đỏ,
đem
xuống
bảng
dưới
đây
và
bình
tất
cả
các
nốt
.
Sẽ
thấy
5
âm
giai
Ngũ
Cung
trong
hệ
thống
Thiên
Nhiên
:
Do
Re
Fa
Sol
La
Re
Fa
Sol
La
Do
Fa
Sol
La
Do
Re
Sol
La
Do
Re
Fa
La
Do
Re
Fa
Sol
Năm
âm
giai
Ngũ
Cung
trên
đây
chính
là
phần
tìm
thấy
trong
các
nốt
thăng
của
7
âm
Giai
Thiên
Nhiên
.
Nhưng
hoàn
toàn
khác
hẳn
về
cách
thành
lập
từ
quãng
5
như
phần
trên:
Fa
Do
Sol
Re
La
.
Các
nốt
nhạc
tương
ứng
trong
12
tháng
(phần
chú
giải)
-
Hoàng
chung
(Fa)
(81)
là
Dương
khí
từ
hoàng
tuyến
bốc
lên.(tháng
11)
-
Đại
lữ
(Fa#)
(76),
chuẩn
bị
đưa
vạn
vật
xuất
sinh,
đưa
vạn
vật
xuất
hành
(tháng
12).
-
Thái
thốc
(Sol)
(72)
vạn
vật
thốc
sinh
(Tháng
Giêng).
-
Giáp
chung
(Sol#)
(68)
âm
dương
giáp
kẽ
(Tháng
2
).
-
Cổ
Tẩy
(La)
(64)
vạn
vật
tẩy
sinh,
trở
nên
thanh
lịch
(Tháng
3).
-
Trọng
lữ
(La#)
(60)
vạn
vật
đi
đến
cùng
đường,
sắp
sang
Phía
tây
(Tháng
4).
-
Nhuy
tân
(Si)
(57)
là
âm
khí
ấu
tiểu
(Tháng
5)
-Lâm
chung
(Do)
(54)
vạn
vật
bàng
hoàng
suy
yếu
(tháng
6).
-Di
tắc
(Do#)
(51)
là
âm
khí
như
giặc
cướp
quấy
rối
vạn
vật
(Tháng
7)
-
Nam
lữ
(Re)
(48)
dương
khí
gần
tới
giai
đoạn
ẩn
tàng
(Tháng
8)
-
Vô
địch
(Re#)
(45)
dương
khí
vô
dư
(dương
khí
không
còn)
(tháng
9)
-
Ứng
chung
(Mi)
(42)
Dương
khí
trở
nên
vô
dụng
(tháng10).
Dựa
trên
tên
cổ
xưa
của
những
nốt
nhạc
.
Chúng
ta
thành
lập
12
ô
như
dưới
đây
theo
quan
niệm
xưa
của
12
tháng
như
sau
:
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Nốt
Sol
#Sol
La
#La
Si
Do
#Do
Re
#Re
Mi
Fa
#FaSo
sánh
sự
thành
lập
Âm
Giai
Thiên
nhiên
trong
12
ô
và
những
nốt
cổ
xưa
cho
chúng
ta
một
lập
luận
nốt
Sol
là
nốt
Hò
trong
Ngũ
Cung
Việt
Nam
.
Đây
cũng
là
một
so
sánh
trong
âm
nhạc
về
Ngũ
Cung
giữa
Trung
Hoa
và
Việt
Nam
hoàn
toàn
khác
nhau
.
Trong
âm
nhạc
Trung
Hoa
(Quảng
Đông)
họ
đọc
tên
bảy
nốt
là
:
Xàng
Xê
Cống
Phan
Liêu
Ú
Xự
Do
Re
Mi
Fa
Sol
La
Si
Nhưng
trong
âm
nhạc
Ngũ
Cung
Việt
Nam
hoàn
toàn
khác
biệt
.
Ý
nghĩa
của
các
chữ
nốt
trong
Ngũ
Cung
Hò
=Hợp
(viết
theo
chữ
Nho
là
hợp)
Đây
là
nốt
(chủ
âm)
mở
đầu
cho
sự
kết
hợp
các
nốt
kế
tiếp
để
trở
thành
một
âm
giai
ngũ
cung
.
Nốt
Hò
tương
đương
với
nốt
Do3
trong
hệ
thống
7
nốt
tây
phương
.
Nhưng
đôi
khi
thay
đổi
chủ
âm
thành
những
nốt
khác
như
Hò
là
nốt
Fa,
Hò
là
nốt
Sol
chẳng
hạn
.
Vì
vậy
trong
âm
nhạc
Ngũ
Cung
Việt
có
các
tên
gọi
như:
giây
Hò
nhứt,
giây
Hò
nhì,
giây
Hò
ba,
giây
Hò
tư,
dây
Hò
vọng
cổ…
Chính
điểm
này
làm
cho
phần
ký
âm
bị
phức
tạp,
bởi
vì
nốt
Hò
(chủ
âm)
được
chọn
tùy
theo
điệu
thức
nên
chủ
âm
Hò
có
biến
đổi
khác
biệt,
ngoài
hệ
thống
cung
bậc
trong
7
nốt
tây
phương
.
Xự
=
tứ
(nghĩa
là
bốn)
Xự
là
nốt
thứ
hai,
tương
đương
với
nốt
Re3
.
Chính
là
nốt
thấp
trong
bát
độ
(quảng
tám
xuống)
của
Re4.
Lưu
ý
nốt
Re5
là
nốt
thứ
tư
trong
âm
giai
ngũ
cung
tính
theo
quãng
5
lên
khi
thành
lập
âm
giai
mới
trong
căn
bản
như:
Fa-Do-Sol-Re-La
=
(quãng
5)
Cho
nên
nốt
Xự
chính
là
nốt
(hai
quãng
8
xuống
của
nốt
Re5)
.
Như
sau:
Re3
mi
fa
sol
la
si
do
Re4
mi
fa
sol
la
si
do
Re5
Xang
=
thượng
(nghĩa
là
âm
trên
cao,
trên
hết).
Xang
là
nốt
Fa3,
cũng
là
nốt
gốc
trong
căn
bản
như
trong
phần
trên
đã
nói,
khi
thành
lập
âm
giai
mới
:
Fa-Do-Sol-Re-La
.
Thứ
tự
của
5
nốt
này
đều
cách
nhau
một
quãng
5
.
Xê
=
xích
(có
nghĩa
là
cây
thước
đo)
Xê
trước
kia
có
tên
là:
thương
và
thái
thốc,
(mũi
tên
lớn)
ý
nghĩa
là
đường
thẳng
của
cây
thước
cũng
là
hình
tượng
của
mũi
tên
thẳng
.
Xê
là
nốt
Sol
3
được
chọn
như
một
âm
thanh
với
hàm
ý
giữ
mãi
hình
bóng
cội
nguồn
.
Cống
=
công
(nghĩa
là
công
cụ,
công
dụng)
Cống
là
nốt
La
3
.
Nếu
tính
từ
nốt
Do
trong
hệ
thống
bảy
nốt
thì
nốt
La
3
chính
là
quãng
6,
nốt
liên
hệ
khi
thành
lập
âm
giai
mới
là
La
thứ
như
sau
:
Do
Re
Mi
Fa
Sol
La
:
Do-La
=Quãng
6
.
Lấy
nốt
quảng
6
thành
lập
âm
giai
mới
:
La
Si
Do
Re
Mi
Fa
Sol
La
=
âm
giai
La
Cống
(La)
dùng
để
chuyển
cung
hoặc
đổi
giai
điệu
hay
chuyển
sang
một
thang
âm
khác
.
Cống
(La)
đôi
khi
biến
thành
Sib
=
#La
trong
trường
hợp
chuyển
giai
điệu
đi
lên
.
Vì
vậy
nốt
Cống
(La)
được
xem
như
(công
dụng)
để
chuyển
sang
thang
âm
khác.
Líu
=
lục
(nghĩ
là
sáu)
Liu
là
nốt
Do4
.
Là
nốt
quảng
8
của
âm
giai
Do3.
So
sánh
từ
nốt
Hò
đầu
tiên
là
Do3
và
Líu
là
Do4
.
Như
vậy
tức
là
một
(bát
độ)
mà
người
xưa
muốn
dùng
Líu
để
nhắc
lại
chủ
âm
của
Hò
nhưng
cao
hơn
một
quãng
8
(bát
độ)
để
nhấn
mạnh
sự
kết
hợp
chủ
âm
từ
thấp
đến
cao
mà
không
nhắc
lại
tên
chủ
âm
khi
xướng
âm
.
Dò
–
Dó
=
Hò
–
Líu
Ú
=
ngũ
(nghĩa
là
năm)
Ú
là
nốt
Re4.
Là
nốt
quãng
5
trong
âm
giai
chủ
âm
Fa
gốc
là
xang
Fa
sol
la
si
do
Re
:
Fa
–
Re
=
quãng
5
Những
điệu
thức
trong
Ngũ
Cung
Việt
Nam
:
Giây
Hò
nhứt
(còn
gọi
là
Điệu
Bắc):
Nếu
hai
giây
buông,
giây
lớn
là
tồn:
Xang
(Fà2),
giây
nhỏ
là
tang:
Hò
(Do3),
hai
giây
này
tạo
thành
một
quãng
5
(fa
sol
la
si
do)
.
Thang
âm
giây
Bắc
như
sau:
hò
xự
xang
xê
cống
liu
ú
xáng
xế
(do
re
fa
sol
la
do
ré
fá
sól)
Lưu
ý
:
Hò
Xư
là
Do
Re
thấp
và
Liu
Ú
là
Do
Re
cao
(bát
độ)
.
Giây
Hò
nhì
(còn
gọi
là
Điệu
Nam)
Giây
lớn
vẫn
là
tồn
(Fà)
giây
nhỏ
hạ
xuống
một
cung
là
Oan
hay
Phàn
(sib),
hai
dây
tạo
thành
một
quãng
4.
Thang
âm
của
Điệu
Nam
như
sau:
oan
hò
xư
#
xang
xê
oan
liu
ú#
xáng
(sib
do
mib
fa
sol
sib
do
míb
fá)
Lưu
ý:
Nốt
Oan
là
Phan
=
Sib
=(La#)
Giây
Hò
ba
là
dạng
thể
của
cung
Hoàng
Chung;
hai
giây
tạo
thành
một
quãng
5,
giây
nhỏ
lấy
nốt
thứ
3
là
Fa
làm
chủ
âm
Hò
:
(xê
cống)
hò
xự
xang
xê
cống
liu
ú
(do
re
)
Fa
sol
la
do
re
fa
sol
Giây
Hò
tư
(còn
gọi
là
giây
oán)
Hai
giây
tạo
thành
một
quãng
4.
Giây
này
dùng
để
đàn
các
bài
oán
nên
được
gọi
là
Giây
oán.
Giây
nhỏ
lấy
nốt
thứ
tư
làm
Hò.
Các
âm
bậc
của
Oán
có
thang
âm
như
sau
(trùng
hợp
với
dạng
thể
3
của
cung
hoàng
chung
.
Là
sự
kết
hợp
hai
điệu
Nam
Bắc
(tam
liên
âm
Bắc
+
tam
liên
âm
Nam):
(xang
xê
oan)
hò
xư
xang
xê
oan
liu
(sib
do
mib)
Fa
sol
sib
do
mib
fá
Cần
phân
biệt
giây
oán
với
giọng
oán.
Khi
diễn
tấu
những
bài
có
nét
u
buồn,
thường
nhấn
xự
và
xê
thành
xư
và
xế
thăng
½
cung.
Như
vậy
thang
âm
của
điệu
oán
là
những
nốt
sau
đây:
hò
xư
xang
xế
oan
líu
fa
sol#
sib
do#
mib
fa
Lưu
ý:
Xự
nhấn
=
Sol#
và
Xế
nhấn
=
Do#
Đây
là
dạng
thể
5
của
cung
Hoàng
Chung
la
do
re
fa
sol
la
Giây
vọng
cổ
(còn
gọi
là
dây
Bắc
oán):
dùng
giây
hò
nhứt
làm
nền,
nghĩa
là
giữ
nguyên
giây
nhỏ
là
bậc
tang
(Do),
dây
lớn
cho
cao
thêm
một
cung,
tức
là
tồn
(Sol).
Đàn
Kìm
hai
giây
tạo
thành
một
quãng
4
tồn
-
tang
(
sol
-
do).
Đối
chiếu
với
các
giây
trên,
cho
thấy
giây
vọng
cổ
là
sự
kết
hợp
của
giây
hò
nhứt
(Bắc)
và
giây
hò
tư
là
(điệu
oán)
.
Thang
âm
của
Bắc
Oán
là:
hò
xư
xang
xế
oan
líu
Sol
sib
do
mib
fa
sól
Tuy
nhiên
các
loại
giây
Hò
trên
còn
khác
nhau
tùy
theo
cách
lên
giây
cho
từng
loại
nhạc
cụ
cũng
như
không
hẳn
được
áp
dụng
như
là
nguyên
tắc
mà
tùy
mỗi
nơi
có
cách
lên
giây
khác
nhau.
Chẳng
hạn
ở
miền
Trung,
giây
Hò
nhứt
được
xếp
đặt
như
sau:
hai
giây
tạo
thành
một
quãng
4
(không
phải
là
quãng
5
như
ở
trên).
hò
xự
xang
xê
cống
liu
ú
xáng
xế
do
re
fa
sol
la
do
ré
fá
sól
Các
thể
loại
thang
âm
ngũ
cung:
Thang
âm
ngũ
cung
Việt
Nam
có
nhiều
dạng
khác
nhau
nhưng
đều
dựa
trên
điều
căn
bản
với
những
âm
bậc
chính
như
:
hò
xang
xê
líu
=
Do
Fa
Sol
Do
(do
fa
=
quãng
4)
và
(sol
do
=
quãng
4).
Do
Re
Mi
Fa
quãng
4
và
Sol
La
Si
Do
quãng
4
Âm
bậc
căn
bản
này
là
hai
quãng
4
ghép
lại,
chính
giữa
là
một
quãng
2
trưởng
(xang
xê
=
fa
sol).
Cấu
trúc
căn
bản
này
sẽ
bị
thay
đổi
khi
có
sự
chuyển
cung
:
Nghĩa
là
bước
sang
một
thang
âm
khác,
một
số
âm
bậc
mới
xuất
hiện
thay
thế
cho
những
âm
bậc
cũ.
Chẳng
hạn
trong
thang
âm
điệu
Bắc
gồm
có
:
hò
xự
xang
xê
cống
liu
do
re
fa
sol
la
dó
Khi
nhấn
xự
thành
xư,
nhấn
xê
thành
xế
thì
từ
điệu
Bắc
đã
chuyển
sang
điệu
Nam
thành
những
nốt
như
sau
:
hò
xư
xang
xế
oan
liu
do
mib
fa
sol
sib
do
Hò
là
(chủ
âm)
âm
bậc
khởi
đầu
thang
âm
và
kết
hợp
các
âm
bậc
khác
thành
một
hệ
thống
từ
thấp
lên
cao
(từ
hò
lên
liu
=
Do-Dó)
là
một
bát
độ
(octave)
.
Vì
vậy
Hò
có
vị
trí
chủ
âm.
Cho
nên
để
giữ
vị
trí
chủ
âm
này,
Hò
được
sự
hỗ
trợ
vững
chắc
của
hai
âm
bậc
khác
là
xang
và
xê
tạo
ra
âm
quãng
quân
bình
trở
thành
hò
xang
xê
liu
.
Do
vậy
xang
và
xê
là
hai
âm
bậc
định
cung
.
1
2
3
4
5
6
do
re
fa
sol
la
do
hò
xự
xang
xê
cống
liu
(điệu
Bắc)
(Hò
chủ
âm)
và
(xang
-
xê:
hai
âm
bậc
định
cung)
hò
xư
xang
xê
phàn
liu
(điệuNam)
Lưu
ý
:
xự
nhấn=mib
và
cống
nhấn
=
Phàn
sib
(Hò
chủ
âm)
và
xự-cống
là
hai
âm
bậc
định
thể
loại
.
Khi
biết
được
cấu
trúc
căn
bản
của
thang
âm
ngũ
cung
Việt
Nam
Chúng
ta
dễ
dàng
nhận
ra
sự
đa
dạng,
phong
phú
của
các
loại
thang
âm
ngũ
cung
có
thể
tìm
thấy
trên
khắp
mọi
miền
Việt
Nam
(chưa
đề
cập
đến
các
loại
thang
âm
như
:
tam
cung,
tứ
cung
cũng
xuất
hiện
khá
nhiều
trong
các
câu
hát
dân
gian).
Nếu
tìm
hiểu
âm
nhạc
dân
gian
trên
khắp
các
vùng
miền
của
đất
nước
.
Để
có
thể
tạo
thành
căn
bản,
đúc
kết
một
số
loại
thang
âm
ngũ
cung
.
Cho
dễ
hiểu
hơn
:
Xin
chuyển
sang
cách
gọi
các
âm
bậc
theo
hệ
thống
nhạc
7
nốt
Tây
phương
.
Lưu
ý
:
chỉ
là
tương
đối
vì
trong
nhạc
Việt
Nam
cao
độ
còn
thay
đổi
tinh
tế
do
kỹ
thuật
luyến
láy,
nhấn,
rung…
thành
những
âm
bậc
(non,
già)
Do
Re
Fa
Sol
La
Dó
(điệu
Bắc)
Do
Re
Fa
Sol
Sib
Dó
(Nam
xuân)
Do
Re
Mi
Sol
La
Dó
(dây
hò
3)
Do
Mib
Fa
Sol
Sib
Dó
(Nam
ai)
Do
Mib
Fa
Lab
Sib
Dó
(hơi
óan)
Do
Mi
Fa
Sol
Si
Dó
(Tây
nguyên)
Điệu
Bắc:
Trong
âm
nhạc
Huế,
có
một
hệ
thống
thang
âm
ngũ
cung
khá
độc
đáo.
Trước
tiên
là
thang
âm
căn
bản,
là
sự
kế
thừa
thang
âm
Việt
lâu
đời
từ
trong
lịch
sử,
đó
là
điệu
Bắc
.
(người
Huế
-
người
trên
đất
Thuận
Hóa
cũ
-
còn
gọi
là
điệu
Khách),
tương
đương
với
cung
hoàng
chung
trong
cổ
ngữ
như
:
cung
thương
giốc
chủy
vũ
.
hò
xừ
xang
xê
cống
liu
(Điệu
Khách)
do
re
fa
sol
la
do
Điệu
Nam:
Điệu
này
xuất
hiện
từ
khi
dòng
người
Việt
đi
về
phương
Nam
vào
đất
mới.
Họ
mang
theo
ngôn
ngữ,
phong
tục,
tập
quán
và
cả
âm
nhạc.
Tuy
nhiên
trong
quá
trình
sinh
hoạt
và
giao
lưu
văn
hóa
với
người
bản
địa,
người
Việt
đã
chịu
ảnh
hưởng
của
người
(Champa)
Chàm.
Có
thể
trong
dĩ
vãng,
người
Việt
ở
miền
Bắc
vốn
quen
dùng
ngũ
cung
Bắc
(
do
re
fa
sol
la),
khi
Nam
tiến
đã
bị
Nhạc
Chàm
với
ngũ
cung
oán
(do
mi
fa
sol
la)
quyến
rũ
nên
sáng
tạo
ra
ngũ
cung
Ai
(do,
re
non,
fa
già,
sol,
la
non)
.
Điều
dễ
nhận
ra
là
ảnh
hưởng
trong
giọng
nói,
ngôn
ngữ.
Chẳng
hạn
thanh
sắc
và
thanh
ngã
của
người
Huế
khi
phát
âm
đã
hạ
thấp
hơn,
thanh
hỏi
lại
cao
hơn
so
với
miền
ngoài,
có
người
cho
đó
là
giọng
lơ
lớ.
Chính
âm
thanh
lơ
lớ
này
đã
hình
thành
điệu
Nam
trong
nhạc
Huế
:
hò
xự
non
xang
già
xê
cống
non
liu
Do
Re
-
Fa
+
Sol
La
-
Do
Âm
điệu
nhạc
Huế
gồm
có
các
giọng
sau:
giọng
ai,
giọng
xuân,
giọng
oán
.
Giọng
ai
dùng
để
diễn
tả
sự
buồn
thương,
áo
não,
những
tình
cảm
luyến
tiếc,
mất
mát,
thở
than,
tốc
độ
chậm
rãi.
Chính
vì
tính
chất
này,
giọng
ai
không
có
trong
âm
nhạc
cung
đình
mà
thường
được
nghe
trong
ca
nhạc
thính
phòng
Huế,
nhiều
khi
cũng
được
áp
dụng
trong
âm
nhạc
cúng
tế,
trong
tang
lễ.
Ví
dụ
các
bài
Nam
ai,
Nam
bình,
Tương
tư
khúc,
giọng
ai
có
thang
âm
như
:
hò
xự
non
xang
già
xê
cống
non
liu
do
re-
fa
rung
sol
la-
do
Âm
bậc
xư
và
cống
giảm
xuống
gần
¼
cung,
âm
xang
gìa
rung.
Nếu
chuyển
cung
dùng
âm
cống
(la)
làm
chủ
âm
(hò),
thang
âm
này
sẽ
là:
la
do
re
mi
sol
la
Giọng
xuân
tìm
thấy
trong
âm
nhạc
cung
đình
Huế,
âm
nhạc
tuồng
tích,
nằm
trong
hệ
thống
điệu
Bắc.
Thang
âm
của
Xuân
là:
hò
xự
xang
xê
cống
liu
do
re
fa
sol
la
do
Trong
đàn
tranh
thường
lên
giây
thứ
nhất
với
giọng
Hò
là
nốt
Sòl
thì
thang
âm
này
như
sau:
hò
xự
xang
xê
cống
liu
sòl
la
do
re
mi
sol
Giọng
oán
diễn
tả
điệu
buồn
sâu
xa,
có
tính
chất
oán
than.
Oán
có
nguồn
gốc
là
âm
cống
(la)
trong
bài
Chinh
phụ,
thuộc
điệu
Nam
trong
nhạc
Huế.
Trong
bài
này,
tất
cả
âm
cống
phải
đọc
thành
âm
oán
(Trích
theo
Hoàng
Yến
trong
bài
viết
La
musique
à
Huê,
B.A.V.H
tháng
7-8.1919).
Giọng
oán
phần
lớn
được
sử
dụng
trong
đờn
ca
tài
tử
Nam
bộ,
trong
ca
nhạc
Huế
cũng
có
giọng
oán
này
nhưng
thang
âm
có
khác
biệt,
như
trong
các
bài
Tứ
đại
oán,
Chinh
phụ...
thang
âm
của
giọng
oán
như
sau:
(cống)
=
oán
hò
xư
xang
xế
oán
liu
fa
sol#
sib
do#
mib
fa
Âm
bậc
cống
trong
thang
âm
trên
đây
được
gọi
là
oán
và
khi
xướng
âm
thì
oán
thành
ra
là
oan
.
Thang
âm
ngũ
cung
trong
âm
nhạc
dân
gian
Huế
thì
tương
đối
thuần
nhất
hơn.
Các
bài
dân
ca
chủ
yếu
dùng
thang
âm
ngũ
cung
điệu
Nam
của
âm
nhạc
Huế.
hò
xự
non
xang
già
xê
cống
non
liu
do
re-
fa
+
sol
la
-
do
Trên
đây
là
phần
khảo
cứu
các
thể
loại
Ngũ
Cung
Việt
Nam
dựa
trên
các
điệu
thức
sẵn
có,
vẫn
còn
lưu
truyền
trong
dân
gian
tuy
chỉ
là
tương
đối
khi
dùng
hệ
thống
7
nốt
Tây
Phương
để
nói
lên
phần
ký
âm
tương
đương
cho
dễ
hiểu
khi
trình
bày
các
cung
bậc
.
Trong
thực
tế
về
âm
thanh
Ngũ
Cung
Việt
Nam
luôn
có
những
nốt
thăng
giảm
(non
hay
gìa)
không
chính
xác
là
½
nốt
thăng
giảm
.
Vì
đôi
khi
nốt
non
chỉ
là
¼
cung
nên
không
thể
tính
là
nốt
½
cung
.
Ví
dụ
như
nốt
Xự
non
=
Rê
-
=
(Do#
nếu
tính
trong
ký
âm)
.
Điều
dễ
thấy
nhất
trong
nhạc
cụ
:
Đàn
Tranh
-
Đàn
Kìm
(Nguyệt)
Đàn
Bầu
-
Đàn
Tỳ
Bà
và
Đàn
Lục
Huyền
Cầm
đều
là
những
phím
lõm
(khuyết
xuống)
nên
khi
nhấn
xuống
tạo
thành
những
âm
tiết
mang
tính
truyền
cảm
do
người
sử
dụng
ngón
đàn
đưa
vào
cảm
tính
(hồn
nhạc)
tấu
khúc
tùy
theo
các
Điệu
Thức
mà
diễn
đạt
.
Phần
quan
trọng
nhất
là
những
âm
giai
Ngũ
Cung
thuần
túy
chỉ
dùng
năm
nốt
như
phần
trên
đây
.
Tuy
nhiên
trên
thực
tế
khi
xử
dụng
Ngũ
Cung
trong
Sáng
Tác
Nhạc
hay
phần
Hòa
Âm
không
nhất
thiết
phải
giữ
nguyên
âm
giai
Ngũ
Cung
sẽ
tạo
ra
những
bế
tắc
trong
khuôn
mẫu,
mà
không
thoải
mái
khi
diễn
đạt,
thiếu
tự
do
thiếu
tính
sáng
tạo
.
Về
điểm
này
nên
uyển
chuyển
khi
chuyển
từ
thang
âm
này
sang
thang
âm
khác,
dựa
vào
các
nốt
(non
gìa)
là
âm
định
thể,
cũng
chính
là
nốt
(cảm
âm)
trong
thang
âm
mới
.
Đây
chính
là
nét
mới
trong
âm
hưởng
Ngũ
Cung
khi
hiểu
được
phần
căn
bản
thì
có
thể
áp
dụng
vào
phần
sáng
tác
dễ
dàng,
không
nhất
thiết
phải
giữ
nguyên
âm
giai
Ngũ
Cung
(năm
nốt)
nên
thêm
vào
những
nốt
khác
và
thăng
giảm
tạo
thành
bảy
nốt
(thất
cung)
chỉ
cần
nhớ
nguyên
tắc
không
dùng
½
cung
(cảm
âm)
như
là
bậc
7
về
chủ
âm
trong
hệ
thống
của
Âm
Giai
Tây
Phương
.
Hy
vọng
trong
phần
khảo
cứu
này
sẽ
giúp
cho
những
người
đam
mê
âm
nhạc,
có
tấm
lòng
quan
tâm
về
Ngũ
Cung
Việt
Nam
được
những
điều
thú
vị,
với
những
quan
niệm
của
Tiền
Nhân
trong
các
chú
giải
về
Cung
Thương
Giốc
Chủy
Vũ
.
Trong
phần
kế
tiếp,
tập
hợp
những
âm
giai
Nam
Trung
Bắc
được
hệ
thống
thành
nốt
.
Nếu
trong
phần
biên
khảo
này
có
điều
gì
sai
xót
thì
đó
chính
là
lỗi
của
tôi
.
Kính
mong
quý
thiện
trí
thức
hãy
tha
thứ
cho
tôi
.
giongbachviet@gmail.com
Tác
giả
bài
viết:
khangianhandan
sưu
tầm
Nguồn
tin:
Giòng
Bách
Việt
Ý kiến bạn đọc