Nghệ
sĩ
Minh
Cảnh
gây
bất
ngờ
khi
xuất
hiện
với
vóc
dáng
phong
độ
ở
tuổi
U.90.
Ông
vẫn
thỉnh
thoảng
đi
hát,
sống
cuộc
sống
bình
yên
ở
xứ
cờ
hoa.
Xem
tiếp...
Phác
thảo
Nghệ
Thuật
Hát
Hồ
Quảng
(1)
-
SG
Nguyễn
Phương
CLVNCOM
-
Ngày
20
tháng
9
năm
2014,
nhân
dự
tiệc
cuối
hạ
của
Hội
Rồng
Vàng
Tuổi
Vàng
Montréal,
tôi
gặp
lại
các
văn
hữu
thân
thương.
Anh
Lâm
Văn
Bé,
nguyên
Giám
Đốc
Sở
Văn
Hóa
và
Thư
Viện
Phố
thị
Côte-des-neiges
/
Notre-Dame-de-Grace,
Thành
phố
Montréal,
Canada
hỏi
tôi:
“Trước
đây
sau
khi
xuất
bản
cuốn
Ngũ
Đại
Gia
của
sân
khấu
cải
lương
và
cuốn
Buồn
Vui
Đời
Nghệ
Sĩ,
Nguyễn
Phương
dự
tính
viết
cuốn
Nghệ
Thuật
Hát
Hồ
Quảng.
Đến
nay
công
việc
đi
tới
đâu
rồi?”
Tôi
kể
cho
anh
nghe
việc
tôi
sưu
tầm
tài
liệu
liên
quan
đến
nghệ
thuật
hát
Hồ
Quảng.
Tôi
đã
về
VN,
nhiều
lần
gặp
các
nghệ
sĩ
chuyên
hát
cải
lương
tuồng
cổ
và
Hồ
Quảng:
Thanh
Tòng,
Xuân
Yến,
Thanh
Thế,
Minh
Long,
nhạc
sĩ
cổ
nhạc
và
nhạc
Hồ
Quảng
Thanh
Dũng
để
bàn
luận,
tìm
tài
liệu,
thu
nhạc
và
sưu
tầm
tuồng
Hồ
Quảng.
Tôi
cũng
đã
đi
Hoa
Kỳ
gặp
nữ
nghệ
sĩ
Hồ
Quảng
Phượng
Mai,
đã
sang
Pháp
bàn
luận
và
thu
thập
tài
liệu
với
các
nghệ
sĩ
tài
danh
về
Hồ
Quảng:
Thanh
Bạch,
Bạch
Lê,
Minh
Tâm,
Tài
Lương,
Minh
Đức,
Kiều
Lệ
Mai,
Hà
Mỹ
Xuân
…
Tôi
đến
gặp
nghệ
sĩ
và
nhà
biên
khảo
về
Hát
Bội
Đinh
Bằng
Phi
để
tham
khảo
ý
kiến
của
anh.
Ngoài
ra
tôi
đọc
lại
và
trích
ra
trong
các
sổ
tay
của
tôi
từ
năm
1955
đến
năm
1972,
những
ghi
chú,
bút
ký,
tài
liệu
sưu
tầm
về
cải
lương
tuồng
Tàu
hát
theo
lối
Quảng,
cải
lương
tuồng
Tàu,
cải
lương
dã
sử,
cải
lương
tuồng
xã
hội
và
cải
lương
Hồ
Quảng.
Nếu
hệ
thống
hóa
các
tài
liệu
mới
và
cũ
của
tôi
sưu
tầm
liên
quan
đến
cải
lương
Hồ
Quảng
thì
tôi
có
thể
viết
một
phác
thảo
về
nghệ
thuật
hát
Hồ
Quảng.
“Tôi
hy
vọng
bản
phác
thảo
nghệ
thuật
hát
Hồ
Quảng
này
sẽ
là
tài
liệu
sơ
khởi
để
các
bạn
chuyên
môn
nghiên
cứu
lý
luận
về
nghệ
thuật
và
các
nghệ
sĩ
hát
Hồ
Quảng
chuyên
nghiệp
sẽ
sửa
chữa
hoặc
góp
ý
bổ
túc
để
chúng
ta
có
một
tài
liệu
đầy
đủ
về
nghệ
thuật
hát
cải
lương
Hồ
Quảng.”
Anh
Lê
Văn
Châu
hội
viên
Văn
Bút
Montréal
và
cũng
là
phó
hội
trưởng
Hội
Tuổi
Vàng
Rồng
Vàng
khuyến
khích
tôi,
anh
nói:
“Vậy
thì
tôi
đề
nghị
Nguyễn
Phương
nên
bắt
tay
ngay
vào
việc
viết
quyển
sách
Nghệ
Thuật
Hát
Hồ
Quảng
đi.
Anh
năm
nay
đã
93
tuổi
rồi,
anh
phải
viết
liên
tục
trong
6
tháng
hay
hơn
nữa
để
hoàn
thành
cuốn
sách
đó.
Anh
cần
viết
phác
thảo,
ghi
những
dòng
lớn,
plan
của
cuốn
sách,
bao
nhiêu
chương,
những
vấn
đề
nào
liên
quan
tới
nghệ
thuật,
âm
nhạc
và
kỷ
thuật
hát
Hồ
Quảng.
Sau
đó
anh
sẽ
viết
chi
tiết,
thêm
hoa
lá
cành.
Nếu
chần
chờ
để
lâu,
tôi
e
anh
không
còn
nhiều
thời
gian,
nhất
là
tuổi
của
anh
đã
quá
chín
chục
rồi,
trí
nhớ
cũng
mòn
đi
ít
nhiều.
Viết
…
viết
liền
đi
…
Đừng
chờ
tới
cái
lúc
mà
anh
em
mình
gặp
nhau,
anh
ngó
tôi
rồi
không
nhớ
tên
tôi,
không
nhớ
tôi
là
ai
…
và
hõng
chừng
anh
cũng
sẽ
quên
không
nhớ
Nguyễn
Phương
là
cái
ông
nào
nữa…
Tiệc
Cuối
Hạ
Đầu
Thu
của
Hội
Tuổi
Vàng
Rồng
Vàng
nhiều
món
ăn
rất
ngon,
tôi
nghe
ông
Lê
Văn
Châu
nhắc
chuyện
người
già
hay
lú
lẩn,
cái
bịnh
Alzheimer’s,
bệnh
mất
trí
nhớ
phổ
biến
của
người
già
không
chừa
một
ai
…
ca
sĩ
Thái
Thanh,
người
có
giọng
hát
vượt
thời
gian
nhưng
không
vượt
nỗi
cái
bịnh
quái
ác
Alzheimer’s,
tôi
cũng
phát
lo
mà
ăn
tiệc
nuốt
hết
vô.
Về
đến
nhà
là
tôi
bắt
đầu
động
não,
suy
nghĩ
xem
sẽ
viết
gì
đây?
Khởi
đầu
cuốn
sách
Nghệ
Thuật
Hát
Hồ
Quảng
như
thế
nào?
Kiểm
điểm
lại
các
tài
liệu
của
tôi
có,
viết
về
nghệ
thuật
sân
khấu,
tôi
thấy
là
ở
Việt
Nam
và
cả
ở
nước
ngoài,
từ
xưa
đến
nay,
chưa
có
một
tác
giả
nào,
nghệ
sĩ
nào
viết
lý
luận
hoặc
tổng
kết
về
nghệ
thuật
hát
Hồ
Quảng!
Về
nghệ
thuật
Hát
Bội,
lúc
còn
ở
Việt
Nam,
tôi
có
đọc
cuốn
Le
Théâtre
Annamite
Classique
(nghệ
thuật
sân
khấu
cổ
điển
Annam)
của
Tiến
Sĩ
Georges
Coulet,
nhà
xuất
bản
Mouton,
in
năm
1928
ở
Toulon
Pháp.
Tôi
cũng
có
tham
khảo
hai
cuốn
sách
khác
viết
về
Hát
Bội
của
ông
Tuần
Lý
Huỳnh
Khắc
Dụng
do
Nam
Chi
Tùng
Thư
xuất
bản
năm
1970
(Théâtre
Traditionnel
du
Việt
Nam)
và
chương
viết
về
Hát
Bội
trong
quyển
Nghệ
Thuật
Sân
Khấu
Việt
Nam
của
ông
Thanh
Trung
Trần
Văn
Khải,
nhà
sách
Khai
Trí
xuất
bản
năm
1970
tại
Saigon.
Tôi
có
sưu
tầm
các
tuồng
hát
bội
của
tác
giả
Đào
Tấn
(tuồng
Hộ
Sinh
Đàn,
Trầm
Hương
Các)
tuồng
hát
bội
sưu
tầm
của
tác
giả
Hoàng
Châu
Ký
(Tuồng
San
Hậu,
Tam
Nữ
Đồ
Vương,
Tân
Dã
Đồn,
trích
đoạn
tuồng
Tam
Quốc
và
trích
đoạn
tuồng
Tây
Du).
Ba
tuồng
Đào
Mai
tương
ngộ,
Tiếng
hát
nàng
Huyền
Cơ,
Chất
ngọc
không
tan
của
hai
tác
giả
Trương
Huyền
và
Đinh
Bằng
Phi.
Ngoài
ra
còn
có
cuốn
Từ
Điển
về
Nghệ
Thuật
Hát
Bội
của
Nhà
xuất
bản
Khoa
Học
Xã
Hội
Hà
Nội
năm
1998,
tài
liệu
về
Hóa
Trang
Mặt
Nạ
trong
Sân
Khấu
Hát
Bội
(The
Art
of
Mask
Making-Up
in
Hát
Bội),
quyển
Viet
Nam
Hat
Boi
Theatre
Art
trình
bày
đầy
đủ
hình
ảnh,
màu
sắc
của
các
loại
Áo,
Mão,
Giày,
Đạo
cụ
cho
các
nhân
vật
Vua,
Hoàng
Hậu,
Công
Chúa,
Trạng
nguyên,
quan
văn,
võ
tướng,
thư
sinh
…
Nhạc
khí
dùng
trong
sân
khấu
Hát
Bội.
Về
nghệ
thuật
sân
khấu
cải
lương
và
kịch
có
cuốn
Nghệ
Thuật
Sân
Khấu
Việt
Nam
của
tác
giả
Thanh
Trung
Trần
Văn
Khải,
Hồi
ký
50
năm
mê
Hát
của
Vương
Hồng
Sển,
xuất
bản
năm
1968.
Về
cổ
nhạc
có
quyển
20
bài
bản
Tổ
và
100
bài
bản
nhỏ
dùng
trong
sân
khấu
cải
lương
của
nhạc
sĩ
Năm
Hưng
(có
các
nhạc
sĩ
Hai
Khuê,
Út
Trong,
Ba
Thu
tham
khảo
và
góp
ý)
quyển
Cầm
ca
cổ
nhạc
của
nhạc
sĩ
Trịnh
Thiên
Tư,
cuốn
Tìm
hiểu
Âm
Nhạc
Cải
Lương
của
nhạc
sĩ
Đắc
Nhẩn,
cuốn
Nhạc
Tài
Tử
Nhạc
Sân
Khấu
Cải
Lương
của
nhạc
sĩ
Trương
Bỉnh
Tòng,
cuốn
Nhạc
Khí
Dân
Tộc
Việt
của
Võ
Thanh
Tùng
nhà
xuất
bản
Âm
Nhạc
2001,
cuốn
La
musique
traditionnelle
du
Việt
Nam
của
Giáo
sư
Tiến
sĩ
Trần
Văn
Khê.
Như
đã
kể
từ
năm
1910,
năm
mà
các
nghệ
sĩ
cổ
nhạc
hợp
lại
chơi
đàn
ca
cổ
nhạc,
làm
thành
ra
lối
“Ca
Ra
Bộ”
rồi
“Đàn
Ca
Tài
Tử”
đến
năm
1917
là
năm
khai
sáng
“Nghệ
Thuật
Hát
Cải
Lương”
cho
đến
năm
1960,
các
soạn
giả,
nghệ
sĩ
cải
lương,
các
ký
giả
kịch
trường
trải
qua
50
năm
hành
nghề,
chưa
có
ai
dùng
đến
từ:”
cải
lương
Hồ
Quảng
“.
Từ
nửa
thập
niên
60,
nghệ
thuật
hát
cải
lương
Hồ
Quảng
mới
được
sản
sinh
và
ngày
càng
phát
triển.
Hiện
nay
trong
thị
trường
băng
video
và
DVD
cải
lương
ở
trong
nước
và
ở
hải
ngoại
có
rất
nhiều
băng
và
dvd
cải
lương
Hồ
Quảng.
Vấn
đề
nghiên
cứu
để
đề
ra
một
lý
luận
về
nghệ
thuật
hát
Hồ
Quảng
là
một
việc
rất
cần
thiết
để
góp
phần
phong
phú
cho
nghệ
thuật
sân
khấu
Việt
Nam.
X
X
X
Nghệ
thuật
cải
lương
Hồ
Quảng
được
khai
sinh
trong
hoàn
cảnh
nào,
thời
gian
nào
và
được
những
nghệ
sĩ,
soạn
giả,
nhạc
sĩ
nào
đã
góp
công
xây
dựng
nghệ
thuật
hát
cải
lương
Hồ
Quảng?
Tôi
nghĩ
là
một
ngành
nghệ
thuật
sân
khấu
được
hình
thành
không
phải
do
một
hay
vài
nghệ
sĩ
nào
đó
dựng
ra
và
cũng
không
thể
dứt
khoát
nói
đúng
ngày
nào,
tháng
nào
khai
sanh
ra
loại
hình
nghệ
thuật
đó
mà
phải
hiểu
rằng
nó
có
một
quá
trình
lâu
dài,
bắt
nguồn
từ
ngành
nghệ
thuật
có
cùng
khuynh
hướng
với
nó.
Phải
qua
một
thời
gian
nhiều
năm,
nhiều
nghệ
sĩ
cùng
hoạt
động
rồi
dần
dần
loại
hình
nghệ
thuật
đó
tự
điều
chỉnh,
tự
định
hình
và
phải
có
nhiều
nghệ
sĩ
tài
ba,
đóng
góp
nhiều
công
lao
sáng
tạo
mới
có
thể
khai
sinh
ra
một
loại
hình
nghệ
thuật
biểu
diễn
mới,
được
khán
giả
và
nghệ
sĩ
yêu
thích
và
đặt
cho
nó
một
danh
xưng:
nghệ
thuật
cải
lương
Hồ
Quảng.
Để
phân
biệt
một
loại
hình
nghệ
thuật
sân
khấu,
người
ta
dựa
vào
hai
yếu
tố
căn
bản
sau
đây:
1/
-
nghệ
thuật
biểu
diễn
trên
sân
khấu.
2/
-
bài
ca,
cách
phát
âm
lời
thoại
trong
tuồng.
Ví
dụ:
Hát
Bội
thì
động
tác
múa
là
dùng
nghệ
thuật
tả
ý,
tượng
trưng,
hóa
trang
nét
mặt,
màu
sắc
cũng
dùng
màu
và
nét
vẽ
tả
ý
theo
tính
cách
của
nhân
vật.
Nhân
vật
mặt
đỏ
hay
mặt
trắng,
râu
dài
là
người
có
trung
cang
nghĩa
khí.
Nhân
vật
vẻ
mặt
mốc
râu
rìa
là
gian
thần,
nịnh
thần.
Nhân
vật
vẻ
mặt
đen
tuyền
hoặc
đen
có
vằn
trắng
là
người
trung
nhưng
nóng
tánh
…
Nhạc
hát
bội
dùng
các
bài
ca
Nam,
Hát
Khách,
Tẩu
Mã,
Bạch,
nhạc
dùng
Bài
Hạ,
Xuân
Nữ,
bài
Nam.,
bài
đưa
hơi
Hát
Khách
…
chỉ
đờn
đưa
hơi
chớ
không
như
cải
lương,
bài
ca
phải
ca
trúng
với
bản
đờn
…
Hát
cải
lương
thì
bài
ca
là
những
bài
cổ
nhạc,
vọng
cổ,
điệu
hát
nếu
tuồng
xã
hội
thì
động
tác
giống
đời
thường,
nếu
tuồng
dã
sử,
lịch
sử
thì
có
động
tác
giống
như
các
nhân
vật
vua,
quan,
võ
tướng
trong
tuồng
sử
của
hát
bội
như
được
giản
lược.
Hát
cải
lương
theo
lối
hát
Quảng
thì
bài
ca
là
các
điệu
hát
xuất
xứ
từ
tuồng
Tàu
như
các
bài
Phảnh
Phá,
Bạc
Cấm
Lùng,
Dì
Phảnh,
Xách
Xủi,
Xáng
Xáng
Lìu…động
tác
múa
theo
lối
hát
Quảng.
Ca
những
bản
như
Xang
Xừ
Líu,
Tân
Soái
Phỉ
thì
có
gỏ
mõ
hoặc
kẻng
theo
nhịp
đàn
và
gõ
nhiều
tiếng
thành
một
tràng
dài
cuối
câu
như
kiểu
đờn
theo
câu
ca
ngân
cuối
câu
…
Dàn
nhạc
có
thêm
trống
cái,
chập
chỏa,
đồng
lố,
kèn
hầu
củn,
kèn
lá,
đàn
gáo,
mõ
…
Động
tác
hát
tuồng
Tàu
theo
lối
Quảng
thì
nhân
vật
hát,
múa
như
loại
Kinh
Kịch
của
Tàu.
Nhạc
Kịch
thì
kịch
có
nhiều
bài
tân
nhạc
dùng
để
diễn
tả
tình
cảm
hoặc
đối
đáp
như
Opéra
của
các
nước
Anh,
Pháp.
Hát
Hồ
Quảng
thì
nhạc
là
những
bài
nhạc
tình
cảm
rút
trong
các
phim
tình
sử
của
Tàu
như
phim
Lương
Sơn
Bá
Chúc
Anh
Đài,
Thanh
Xà
Bạch
Xà,
Vạn
Lý
Tầm
Phu,
Hồng
Lâu
Mộng
…
Động
tác
hát
như
lối
hát
tuồng
Tàu.
Phần
ví
dụ
trên
chỉ
đưa
ra
những
nét
căn
bản
để
dựa
vào
âm
nhạc,
phong
cách
ca,
diễn
mà
xác
định
loại
hình
nghệ
thuật
sân
khấu.
Đi
vào
chi
tiết
kỷ
thuật
biểu
diễn
thì
cần
phải
được
giải
thích
và
giới
thiệu
kỷ
thuật
rõ
ràng
hơn,
chi
tiết
hơn.
Xét
qua
tình
hình
hoạt
động
của
các
đoàn
hát
cải
lương,
các
đoàn
hát
bội
pha
cải
lương,
các
đoàn
hát
Quảng,
hát
Tiều
và
thị
trường
phim
ảnh
trong
những
năm
đầu
của
thập
niên
60
thì
sẽ
thấy
rõ
trong
hoàn
cảnh
nào,
thời
gian
nào
và
nghệ
sĩ
nào
là
người
đầu
tiên
sáng
tạo
loại
hình
nghệ
thuật
hát
cải
lương
Hồ
Quảng.
Từ
năm
1960
đến
năm
1962,
các
đoàn
hát
cải
lương
ở
Saigòn
thu
hút
đông
nghẹt
khán
giả.
Đó
là
những
đại
ban
có
nhiều
soạn
giả
sáng
tác
nhiều
tuồng
hay,
có
những
diễn
viên
danh
ca,
thanh
sắc
lưỡng
toàn.
Đoàn
Thanh
Minh
Thanh
Nga
chuyên
hát
các
tuồng
dã
sử
Việt
Nam
và
tuồng
xã
hội
cận
đại.
Đoàn
Kim
Chưởng
hát
các
tuồng
loại
hương
xa
và
kiếm
hiệp
Kim
Dung.
Đoàn
Kim
Chung,
đoàn
Thống
Nhứt
–
Út
Trà
Ôn,
đoàn
Hương
Hoa
Bầu
Sinh
hát
tuồng
Thi
Ca
Vũ
Nhạc
Kịch,
đặc
biệt
khai
thác
các
bài
ca
tân
cổ
giao
duyên.
Đoàn
Phụng
Hảo
quy
tụ
tài
danh
hát
Hội,
gây
quỷ
cho
Hội
Nghệ
Sĩ
Ái
Hữu
Tương
Tế
với
các
loại
tuồng
Tàu
theo
lối
Quảng.
Đoàn
Khánh
Hồng
–
Minh
Tơ
hát
thường
trực
tại
rạp
Đình
Cầu
Quan
kế
bên
rạp
hát
Thanh
Xương
và
đoàn
Tấn
Thành
Ban
ở
đình
Minh
Phụng
-
Chợ
Lớn,
đoàn
Thanh
Bình
Kim
Mai
ở
đình
Cầu
Muối
hát
bội
pha
cải
lương
bị
các
rạp
hát
bóng
gần
bên
tranh
khán
giả
nên
số
doanh
thu
sa
sút
nghiêm
trọng.
Các
rạp
hát
bóng
thường
trực
thu
hút
đông
đảo
khán
giả
Việt
Hoa
qua
loạt
phim
Hồng
Kông,
Đài
Loan:
Lương
Sơn
Bá
–
Chúc
Anh
Đài,
Phim
Thanh
Xà
Bạch
Xà,
Phim
Vạn
Lý
Tầm
Phu,
Dương
Gia
Tướng
…
Phim
được
quay
phõng
theo
loại
sân
khấu
Kinh
Kịch
Trung
Hoa,
được
điện
ảnh
hóa,
cốt
truyện
trữ
tình,
có
những
điệu
ca
du
dương
tươi
mát
hạp
với
cảm
quan
của
khán
giả
Việt
Nam.
Thêm
nữa,
nhờ
diễn
xuất
và
nhan
sác
tuyệt
đẹp
của
các
đại
minh
tinh
Lý
Lệ
Hoa,
Lâm
Đại,
Nghiêm
Tuấn,
La
Duy,
Lăng
Ba,
Lạc
Đế
…
Các
phim
Đài
Loan
hoàn
toàn
chinh
phục
khán
giả
Việt
Nam.
Ở
Saigòn,
Chợ
Lớn
và
Gia
Định,
các
hãng
phim
Mỹ
Ảnh,
Tân
Kiệt
Y
Oan,
Mỹ
Vân
có
18
rạp
hát
bóng
chiếu
các
phim
Đài
Loan
(Lương
Sơn
Bá
–
Chúc
Anh
Đài,
Thanh
Xà
Bạch
Xà,
Dương
Gia
Tướng,
Vạn
Lý
Tầm
Phu),
lúc
nào
các
rạp
hát
bóng
đó
cũng
đông
nghẹt
khán
giả.
Năm
1962,
nghệ
sĩ
kiêm
nhạc
sĩ
Đức
Phú,
em
ruột
của
hai
nghệ
sĩ
Minh
Tơ,
Khánh
Hồng
đi
xem
phim
Lương
Sơn
Bá
–
Chúc
anh
Đài.
Anh
ghi
âm
một
số
nhạc
bản
trong
phim
này,
viết
thành
tuồng
cải
lương,
tựa
đề
Lương
Sơn
Bá
-
Chúc
Anh
Đài,
hát
như
lối
hát
cải
lương
tuồng
Tàu
(Kinh
Kịch),
toàn
bộ
các
bản
nhạc
trong
tuồng
lấy
nhạc
phim
Lương
Sơn
Bá
-
Chúc
Anh
Đài,
lời
ca
do
Đức
Phú
sáng
tác
theo
ý
tuồng
cải
lương
LSB
–
CAĐ.
Thành
phần
nghệ
sĩ
tuồng
Lương
Sơn
Bá
Chúc
Anh
Đài
hát
khai
trương
tại
rạp
Đình
Cầu
Quan(
kế
bên
rạp
Thành
Xương
đường
Yersin
quận
Nhứt.):
Vai
1/
Lương
Sơn
Bá
do
nhạc
sĩ
kiêm
tác
giả
Đức
Phú
thủ
diễn.
Vai
2/
Chúc
Anh
Đài
do
nữ
nghệ
sĩ
Thanh
Hoàng
(sau
này
khi
đi
gánh
Thủ
Đô,
hát
tuồng
Tiếng
Trống
Sang
Canh,
Thanh
Hoàng
được
đổi
tên
thành
Bo
Bo
Hoàng.)
3
/
Tiểu
đồng
Tứ
Cửu………………
ns
Bữu
Truyện
4
/
Tiểu
đồng
Ngân
Tâm……………
nns
Xuân
Yến
5
/
Mã
Văn
Tài……………………………
ns
Đức
Lợi.
6
/
Chúc
Ông………………………………
ns
Trường
Sơn.
7
/
Chúc
Bà…………………………………
nns
Thanh
Ngọc
8
/
Sư
mẫu…………………………………
nns
Thanh
Loan.
Một
hiện
tượng
sân
khấu
đặc
biệt
được
báo
chí
kịch
trường
nhất
loạt
đưa
ra
trong
nhiều
bài
báo
tường
thuật
tuồng,
phê
bình
diễn
xuất
và
đưa
tin
thành
công
vượt
bực
của
đoàn
hát
Khánh
Hồng
–
Minh
Tơ
qua
tuồng
Lương
Sơn
Bá
–
Chúc
Anh
Đài.
Soạn
giả
các
đoàn
hát
cải
lương
đều
đến
đoàn
Khánh
Hồng
–
Minh
Tơ
để
xem
tuồng
LSB
–
Chúc
Anh
Đài,
nghiên
cứu
để
biết
vì
sao
tuồng
đó
ăn
khách
kỷ
lục
trong
giai
đoạn
đó.
Đoàn
Khánh
Hồng
Minh
Tơ
xưa
nay
hát
mỗi
đêm
một
tuồng.
Tuồng
luôn
thay
đổi
mà
chưa
có
lần
nào
thu
hút
khán
giả
đông
như
tuồng
LSB
–
CAĐ.
Tuồng
này
được
đoàn
Khánh
Hồng
–
Minh
Tơ
diễn
liên
tục
một
tuần.
Tuần
sau
diễn
hai
suất
mỗi
tối.
Tuần
thứ
ba
cũng
còn
đông
nghẹt
khán
giả.
Hai
nhạc
sĩ
Há
Thầu
và
Á
Long
đoàn
hát
Huỳnh
Long
cũng
ghi
nhạc
các
tuồng
trong
phim
Lương
Sơn
Bá
–
Chúc
Anh
Đài,
Thanh
Xà
Bạch
Xà
và
đặt
tên
các
nhạc
bản
đó
là
Hoàng
Mai.
Hoàng
Mai
1
cho
đến
Hoàng
Mai
15
để
dùng
cho
các
tuồng
hát
cải
lương,
nhạc
Đài
Loan.
Nhạc
sĩ
Đức
Phú
thì
theo
từng
cảnh,
từng
chuyện,
phỏng
theo
phim
mà
đặt
tên
nhạc
bản
như
bài
Nam
Sơn
Tiểu
Lộ.,
Hoàng
Mai
Hoàn
Ngọc,
Ly
Hận,
Duyên
Thủy
Ngư
Biệt
Khúc
để
hai
diễn
viên
chánh
ca
đối
đáp
khi
đố
chim,
đố
ngổng…Mộng
Bướm
Hoa,
Minh
Tâm
Vọng
Nguyệt,
Ngưu
Lang
Chức
Nữ
trong
cảnh
hai
vai
chánh
LSB
–
CAĐ
chia
tay
ở
trường
học
và
gặp
lại
khi
tình
dang
dở
vì
Mã
Văn
Tài
ép
CAĐ
phải
thành
hôn
với
hắn.
Cũng
với
các
bản
nhạc
này,
nhạc
sĩ
Lê
Văn
Thiện
ghi
âm
cho
hãng
dĩa
Capitol
thu
thanh
tuồng
Vạn
Lý
Trường
Thành,
anh
Lê
Văn
Thiện
đặt
tên
các
bản
nhạc
Đài
Loan
đó
là
bản
1
đến
bản
16.
Tôi
nghe
anh
Mến
(người
Trung
Hoa,
chủ
hãng
dĩa
Capitol)
gọi
bản
16
là
bản
Sơn
Địa
Tình
Ta.
Nữ
nghệ
sĩ
Hồ
Quảng
Phượng
Mai
thu
thanh
một
dĩa
ca
nhạc
Hồ
Quảng
LSB
–
CAĐ
có
ghi
là
bài
Sa
Trường
xa
quạnh
vắng.
Tôi
ghi
tất
cả
những
khác
biệt
về
danh
xưng
các
bài
hát
cùng
rút
trong
phim
Lương
Sơn
Bá
–
Chúc
Anh
Đài
để
thấy
mức
độ
ăn
khách
của
các
nhạc
bản
đó
và
vì
cùng
ghi
âm
nhạc
trong
phim
ra
nên
mạnh
ai
nấy
đặt
tên
nhạc
bản
và
không
nhạc
sĩ
nào
có
thể
nói
mình
là
người
sáng
tác
ra
bài
nhạc
đó
để
đòi
tiền
bản
quyền
cho
riêng
mình.
Khi
nhiều
đoàn
hát
cùng
hát
các
tuồng
cải
lương
có
nhạc
Đài
Loan,
lúc
đầu
báo
chí
kịch
trường
gọi
là
Tuồng
cải
lương
Nhạc
Đài
Loan.
Về
sau
không
biết
coí
ai
đó
gọi
là
Tuồng
Cải
Lương
nhạc
Hồ
Quảng.,
rồi
rút
ngắn
lại
thành
Tuồng
Hồ
Quảng.
Hồ
Quảng
đây
không
phải
là
tỉnh
Hồ
Nam
và
tỉnh
Quảng
Đông.
Chúng
tôi
ghi
nhận
là
mấy
chữ
nhạc
Hồ
Quảng
được
nhiều
người
nói
đến
và
mặc
nhiên
công
nhận
đó
là
nhạc
Đài
Loan
trong
các
phim
Thanh
Xà,
Bạch
Xà,
Lương
Sơn
Bá
–
Chúc
Anh
Đài
và
người
trong
giới
cải
lương
tuồng
cổ
chấp
nhận
mấy
tiếng
Nhạc
Hô
Quảng
để
chỉ
là
Nhạc
Đài
Loan
trong
các
phim
Tình
Sử
Tàu
đang
ăn
khách
trong
những
năm
1962,
1963.
(còn
tiếp)
Nguyễn
Phương
Tác
giả
bài
viết:
SG
Nguyễn
Phương
-
CLVNCOM
Ý kiến bạn đọc