Mõ báo động bắt cướp, Triệu Tử Long núp dưới ao bèo…
- Thứ hai - 11/09/2017 13:19
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
LB
Tôi
trả
lời:
“Tâm
lý
chung
của
người
ta
là:
Tốt
khoe,
xấu
che.
Khán
giả
thưởng
thức
vẻ
đẹp
của
nghệ
sĩ
trên
sân
khấu,
nên
tôi
viết
những
chuyện
tình
đẹp
của
nghệ
sĩ
để
lưu
giữ
hình
ảnh
đẹp
đó
trong
những
kỷ
ức
của
các
bạn.
Có
những
chuyện
tình
dang
dở
của
nghệ
sĩ
với
nghệ
sĩ,
giữa
nghệ
sĩ
và
người
ngoài
giới,
theo
tôi
đó
là
vì
thời
cuộc,
vì
chiến
tranh
hoặc
vì
thành
kiến
môn
đăng
hộ
đối
hay
vì
thành
kiến
xem
nghệ
sĩ
là
xướng
ca
vô
loại.
Đây,
tôi
kể
anh
nghe
chuyện
tình
của
kép
đẹp,
danh
ca
Văn
Ngân
của
đoàn
hát
Tiến
Hóa
(về
sau
anh
là
kép
đẹp
đóng
với
nghệ
sĩ
Phùng
Há
trong
đoàn
hát
Phụng
Hảo,
anh
cũng
đóng
cặp
với
nữ
nghệ
sĩ
Kim
Cúc,
Kim
Lan
trong
tuồng
Tây
Thi
Gái
nước
Việt
của
đoàn
Việt
Kịch
Năm
Châu).
Cần nói rõ đây là chuyện của nửa thế kỷ trước, những năm 1930, 1940, 1950, những năm còn thuộc về thời tung hoành của ông vua cờ bạc Sáu Ngọ, của Giải Trí Trường Đại Thế Giới, của sòng bài và xổ số đề Kim Chung của ông Bảy Viễn và thời của các lãnh chúa địa phương ở các tỉnh lẻ, các làng xã xa xôi.
Hồi năm 1950, tôi có dịp gặp lại ông thầy của tôi là ông Trương Gia Kỳ Sanh tức soạn giả Trúc Viên, bầu của gánh hát Tiến Hóa, chuyên hát cải lương tuồng Tàu. Lúc đó anh Trường Xuân cũng mới gia nhập đoàn hát nầy, ông Kỳ Sanh bảo tôi theo ông, ông sẽ chỉ dạy tôi soạn tuồng cải lương, cái nghề đó có tương lai hơn là làm quản lý đoàn hát. Ông nói với tôi và Trường Xuân: “Tụi bây có Tây học, tụi bây đọc được tiểu thuyết Tây, tiểu thuyết Ta. Chỉ cần có đầu óc biết suy nghĩ, dám đặt vấn đề, dám có ý nghĩ giải quyết vấn đề thì tụi bây có thể viết tuồng được. Vấn đề kỹ thuật không khó. Trước nhứt phải học đờn, học ca cổ nhạc. Tụi bây làm thơ ký, chép tuồng, ra role tuồng (tức chép các vai hát cho các diễn viên) thì dần dần tụi bây sẽ hiểu cách viết tuồng ra làm sao”
Tôi nghe bùi tai, bèn bỏ gánh hát Tiếng Chuông, khăn gói theo gánh Tiến Hóa. Lúc đó đoàn hát thường diễn ở tỉnh Sa Đéc, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cần Thơ và Bạc Liêu vì các tỉnh đó có nhiều thương gia Hoa Kiều, những khán giả thích coi hát tuồng theo truyện Tam Quốc, Vạn Huê Lầu, Thủy Hử …
Những tuồng như Phụng Nghi Đình, Huê Dung Đạo, Triệu Tử đoạt ấu chúa, Mã Siêu báo phụ cừu… rất được khán giả ưa thích vì các vai như Triệu Tử Long, Lữ Bố, Mã Siêu đều là những vai tướng rất đẹp, mặt trắng, môi hồng, mắt xếch, bộ múa thật là huê dạng, áo giáp rực rỡ thêm có đôi lông trĩ giắt trên mão làm tăng vẻ đẹp của một dũng tướng hiên ngang trên chiến trận. Mỗi khi có tướng Lữ Bố, Triệu Tử Long, Mã Siêu xuất hiện trên sân khấu, tiếng trống, tiếng mõ và tiếng đồng lố đánh nghe thật xôm, nghe bắt nôn ruột. Khán giả ở tỉnh xem tuồng Tàu đều thích những diễn viên đóng các vai tướng đẹp. Các nữ khán giả lại càng thêm mê thêm mệt vì cái đẹp hào hùng đầy nam tính.
Hồi đó, ở các tỉnh lẻ, nhất là ở thôn quê, dân mình ít se sua, thường ngày chỉ mặc quần bô áo vải, màu đen hoặc trắng, các cô thì cũng có áo bông áo màu nhưng chỉ là mặc trong các ngày lễ ngày Tết. Bây giờ đi coi hát, đêm đêm dưới ánh đèn sáng choang, các cô thấy những viên tướng Triệu Tử, Lữ Bố mặc những bộ giáp trắng hoặc màu tím than, có đính mắc gà hoặc hột chai, chiếu sáng lấp lánh dưới ánh đèn sân khấu, các cô lại nghe được giọng hát ân tình, thấy điệu múa huê dạng, nhất là thấy đôi mắt của kép đa tình khi ca mùi mẫn với đào hát… Hình ảnh đẹp đó, âm thanh rũ quyến đó theo vào trong mộng của các cô thôn nữ làm cho nhiều cô mơ ước có được một tấm chồng như Lữ Bố, như Triệu Tử Long…
Nữ khán giả ái mộ kép đẹp trên sân khấu, thường tặng quà, (hồi đó chưa có biết xin chữ ký kỷ niệm), có khi chờ vãn hát, đứng xem mặt người mình mơ tưởng. Có cô bạo gan hơn thì ban ngày tới rạp hát để gặp mặt, chuyện trò, mời dùng cơm, mời đến nhà kết bạn. Có cô xách va ly trốn theo kép hát như một con thiêu thân lao mình vô ánh đèn tọa đăng, bất kể hậu quả ra sao.
Ở đoàn Tiến Hóa, kép Văn Ngân (hồi đó chưa biết kêu là nghệ sĩ) trắng trẻo, đẹp trai, khi lên sân khấu thì anh lại càng đẹp một cách mê hồn hơn nhờ xiêm áo rực rỡ và nhờ nơi giọng hát êm như mơn trớn như rù quyến. Anh có tiếng là “kép hát đắc đào nhất xứ”. Bất cứ đoàn Tiến Hóa hát ở rạp hát nào, hát trong đình hay hát chợ, lúc nào cũng có nữ khán giả đến tặng tiền, tặng quà, mời anh đi dùng cơm, đi du ngoạn. Có nhiều cô mang quần áo đi theo anh được vài bến hát rồi mới chịu keo rã hồ tan.Ông Bầu Sanh thường nói: “Mầy không được dẫn người lạ vô gánh hát, ông Tổ không chịu sự ô uế, không ưa lường gạt, trộm cắp. Phá hại đời con gái của người ta, tổn đức lắm, ông Tổ lấy nghề của mầy lại thì mầy có đi ăn mày cũng không xin được đồng xu hay chén cơm đâu. Mầy nhớ nghe mậy!”
Văn Ngân trả lời: “Như ông Bầu thấy đó, tui hát rồi, mệt muốn xỉu, chỉ cần ăn một tô cháo khuya rồi thì đi ngủ một giấc, lấy sức để mai hát nữa. Mấy cô đó tới tặng quà, tặng tiền. Tui làm lơ thì phụ lòng người ta. Nhận tiền, nhận quà mà hỏng nói chuyện thì coi cũng hỏng được. Vậy đó, lửa gần rơm, hỏng cháy thì cũng trèm trụa. Tui có rũ quyến ai đâu. Họ rù quyến tui… ông Bầu thông cảm cho tôi chớ!”
Ông Bầu Sanh: “Trâu tìm cột chớ không có chuyện cột đi tìm trâu. Mầy hát trên sân khấu mà tao thấy mầy liếc ngang liếc dọc xuống khán giả, cười tình rồi nhấp nháy con mắt. Mầy đá lông nheo với mấy cổ, tao già đời trên sân khấu rồi, tao biết: muốn rù quyến một cô nào đó, đâu có cần phải nói ất nói giáp gì đâu. Họ thương thì họ liều, họ nhào tới thì mầy phải biết mà tránh xê ra chớ. Cô nào nhào tới, mầy cũng hốt hết… hốt hết. Mầy coi chừng có ngày bị đánh ghen, bể đầu chảy máu, có khi ủ tờ…ở tù, nghe con!”
Gánh hát hát ở chợ Cao Lãnh một tuần. Tôi thấy một cô gái nước da trắng như bông, môi đỏ, má hường, dáng người thon thon, nói năng nhỏ nhẹ, rõ là con gái nhà giàu ở thôn quê, cô thường đi coi hát, vãn hát, cô vô hậu trường tặng quà cho kép Văn Ngân, khi thì mật ong với cam sành, khi đưa bao thơ viết đôi dòng tâm sự có kèm tiền.
Gánh hát qua hát ở quận Cái Tàu Hạ, quận Nha Mân rồi qua chợ Sa Đéc, mấy bến hát đó, bến nào tôi cũng thấy cô đó đến tìm Văn Ngân. Những khi cô mời Văn Ngân dùng cơm trong các tiệm ăn lớn ở phố chợ thì cô mời tôi và Trường Xuân cùng đi, có lẽ vì thấy chúng tôi như là đệ tử của Văn Ngân, hoặc là cô muốn dùng chúng tôi làm bình phong che đậy mối tình của Văn Ngân và cô. Theo tôi biết thì cha mẹ của cô chắc chắn là người hào phú danh giá của tỉnh Sa Đéc vì tôi thấy cô quen biết rất nhiều người ở những nơi mà đoàn hát đến hát.
Lần hát bán dàn ở đình Nha Mân thì cô mang khăn gói xuống mướn nhà gần đình để ở với Văn Ngân. Đêm hát thứ nhì vừa vãn hát, khán giả ra về hết rồi, đèn sân khấu đã tắt, cả xóm đình chìm trong đêm tối, thình lình tôi nghe đánh mõ hồi một, mõ hồi một là mõ đánh báo động có cướp nên mọi người lo sợ, rút vô trong đình, gài cây song hồng, đóng cửa lại, rồi ngồi im, chụm lại với nhau mà chờ nghe động tĩnh.
Ông bầu Sanh rọi đèn pin kiểm điểm người trong đoàn, chưa đếm để biết thiếu hay đủ thì tiếng dọng cửa đình rầm rầm và tiếng nhiều người la thét bên ngoài: “Mở cửa, mở cửa. Không mở cửa tao đốt đình, đốt cháy tụi bây ra tro đa”

Tháng 8 năm 2017
Soạn giả Nguyễn Phương
Cần nói rõ đây là chuyện của nửa thế kỷ trước, những năm 1930, 1940, 1950, những năm còn thuộc về thời tung hoành của ông vua cờ bạc Sáu Ngọ, của Giải Trí Trường Đại Thế Giới, của sòng bài và xổ số đề Kim Chung của ông Bảy Viễn và thời của các lãnh chúa địa phương ở các tỉnh lẻ, các làng xã xa xôi.
Hồi năm 1950, tôi có dịp gặp lại ông thầy của tôi là ông Trương Gia Kỳ Sanh tức soạn giả Trúc Viên, bầu của gánh hát Tiến Hóa, chuyên hát cải lương tuồng Tàu. Lúc đó anh Trường Xuân cũng mới gia nhập đoàn hát nầy, ông Kỳ Sanh bảo tôi theo ông, ông sẽ chỉ dạy tôi soạn tuồng cải lương, cái nghề đó có tương lai hơn là làm quản lý đoàn hát. Ông nói với tôi và Trường Xuân: “Tụi bây có Tây học, tụi bây đọc được tiểu thuyết Tây, tiểu thuyết Ta. Chỉ cần có đầu óc biết suy nghĩ, dám đặt vấn đề, dám có ý nghĩ giải quyết vấn đề thì tụi bây có thể viết tuồng được. Vấn đề kỹ thuật không khó. Trước nhứt phải học đờn, học ca cổ nhạc. Tụi bây làm thơ ký, chép tuồng, ra role tuồng (tức chép các vai hát cho các diễn viên) thì dần dần tụi bây sẽ hiểu cách viết tuồng ra làm sao”
Tôi nghe bùi tai, bèn bỏ gánh hát Tiếng Chuông, khăn gói theo gánh Tiến Hóa. Lúc đó đoàn hát thường diễn ở tỉnh Sa Đéc, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cần Thơ và Bạc Liêu vì các tỉnh đó có nhiều thương gia Hoa Kiều, những khán giả thích coi hát tuồng theo truyện Tam Quốc, Vạn Huê Lầu, Thủy Hử …
Những tuồng như Phụng Nghi Đình, Huê Dung Đạo, Triệu Tử đoạt ấu chúa, Mã Siêu báo phụ cừu… rất được khán giả ưa thích vì các vai như Triệu Tử Long, Lữ Bố, Mã Siêu đều là những vai tướng rất đẹp, mặt trắng, môi hồng, mắt xếch, bộ múa thật là huê dạng, áo giáp rực rỡ thêm có đôi lông trĩ giắt trên mão làm tăng vẻ đẹp của một dũng tướng hiên ngang trên chiến trận. Mỗi khi có tướng Lữ Bố, Triệu Tử Long, Mã Siêu xuất hiện trên sân khấu, tiếng trống, tiếng mõ và tiếng đồng lố đánh nghe thật xôm, nghe bắt nôn ruột. Khán giả ở tỉnh xem tuồng Tàu đều thích những diễn viên đóng các vai tướng đẹp. Các nữ khán giả lại càng thêm mê thêm mệt vì cái đẹp hào hùng đầy nam tính.
Hồi đó, ở các tỉnh lẻ, nhất là ở thôn quê, dân mình ít se sua, thường ngày chỉ mặc quần bô áo vải, màu đen hoặc trắng, các cô thì cũng có áo bông áo màu nhưng chỉ là mặc trong các ngày lễ ngày Tết. Bây giờ đi coi hát, đêm đêm dưới ánh đèn sáng choang, các cô thấy những viên tướng Triệu Tử, Lữ Bố mặc những bộ giáp trắng hoặc màu tím than, có đính mắc gà hoặc hột chai, chiếu sáng lấp lánh dưới ánh đèn sân khấu, các cô lại nghe được giọng hát ân tình, thấy điệu múa huê dạng, nhất là thấy đôi mắt của kép đa tình khi ca mùi mẫn với đào hát… Hình ảnh đẹp đó, âm thanh rũ quyến đó theo vào trong mộng của các cô thôn nữ làm cho nhiều cô mơ ước có được một tấm chồng như Lữ Bố, như Triệu Tử Long…
Nữ khán giả ái mộ kép đẹp trên sân khấu, thường tặng quà, (hồi đó chưa có biết xin chữ ký kỷ niệm), có khi chờ vãn hát, đứng xem mặt người mình mơ tưởng. Có cô bạo gan hơn thì ban ngày tới rạp hát để gặp mặt, chuyện trò, mời dùng cơm, mời đến nhà kết bạn. Có cô xách va ly trốn theo kép hát như một con thiêu thân lao mình vô ánh đèn tọa đăng, bất kể hậu quả ra sao.
Ở đoàn Tiến Hóa, kép Văn Ngân (hồi đó chưa biết kêu là nghệ sĩ) trắng trẻo, đẹp trai, khi lên sân khấu thì anh lại càng đẹp một cách mê hồn hơn nhờ xiêm áo rực rỡ và nhờ nơi giọng hát êm như mơn trớn như rù quyến. Anh có tiếng là “kép hát đắc đào nhất xứ”. Bất cứ đoàn Tiến Hóa hát ở rạp hát nào, hát trong đình hay hát chợ, lúc nào cũng có nữ khán giả đến tặng tiền, tặng quà, mời anh đi dùng cơm, đi du ngoạn. Có nhiều cô mang quần áo đi theo anh được vài bến hát rồi mới chịu keo rã hồ tan.Ông Bầu Sanh thường nói: “Mầy không được dẫn người lạ vô gánh hát, ông Tổ không chịu sự ô uế, không ưa lường gạt, trộm cắp. Phá hại đời con gái của người ta, tổn đức lắm, ông Tổ lấy nghề của mầy lại thì mầy có đi ăn mày cũng không xin được đồng xu hay chén cơm đâu. Mầy nhớ nghe mậy!”
Văn Ngân trả lời: “Như ông Bầu thấy đó, tui hát rồi, mệt muốn xỉu, chỉ cần ăn một tô cháo khuya rồi thì đi ngủ một giấc, lấy sức để mai hát nữa. Mấy cô đó tới tặng quà, tặng tiền. Tui làm lơ thì phụ lòng người ta. Nhận tiền, nhận quà mà hỏng nói chuyện thì coi cũng hỏng được. Vậy đó, lửa gần rơm, hỏng cháy thì cũng trèm trụa. Tui có rũ quyến ai đâu. Họ rù quyến tui… ông Bầu thông cảm cho tôi chớ!”
Ông Bầu Sanh: “Trâu tìm cột chớ không có chuyện cột đi tìm trâu. Mầy hát trên sân khấu mà tao thấy mầy liếc ngang liếc dọc xuống khán giả, cười tình rồi nhấp nháy con mắt. Mầy đá lông nheo với mấy cổ, tao già đời trên sân khấu rồi, tao biết: muốn rù quyến một cô nào đó, đâu có cần phải nói ất nói giáp gì đâu. Họ thương thì họ liều, họ nhào tới thì mầy phải biết mà tránh xê ra chớ. Cô nào nhào tới, mầy cũng hốt hết… hốt hết. Mầy coi chừng có ngày bị đánh ghen, bể đầu chảy máu, có khi ủ tờ…ở tù, nghe con!”
Gánh hát hát ở chợ Cao Lãnh một tuần. Tôi thấy một cô gái nước da trắng như bông, môi đỏ, má hường, dáng người thon thon, nói năng nhỏ nhẹ, rõ là con gái nhà giàu ở thôn quê, cô thường đi coi hát, vãn hát, cô vô hậu trường tặng quà cho kép Văn Ngân, khi thì mật ong với cam sành, khi đưa bao thơ viết đôi dòng tâm sự có kèm tiền.
Gánh hát qua hát ở quận Cái Tàu Hạ, quận Nha Mân rồi qua chợ Sa Đéc, mấy bến hát đó, bến nào tôi cũng thấy cô đó đến tìm Văn Ngân. Những khi cô mời Văn Ngân dùng cơm trong các tiệm ăn lớn ở phố chợ thì cô mời tôi và Trường Xuân cùng đi, có lẽ vì thấy chúng tôi như là đệ tử của Văn Ngân, hoặc là cô muốn dùng chúng tôi làm bình phong che đậy mối tình của Văn Ngân và cô. Theo tôi biết thì cha mẹ của cô chắc chắn là người hào phú danh giá của tỉnh Sa Đéc vì tôi thấy cô quen biết rất nhiều người ở những nơi mà đoàn hát đến hát.
Lần hát bán dàn ở đình Nha Mân thì cô mang khăn gói xuống mướn nhà gần đình để ở với Văn Ngân. Đêm hát thứ nhì vừa vãn hát, khán giả ra về hết rồi, đèn sân khấu đã tắt, cả xóm đình chìm trong đêm tối, thình lình tôi nghe đánh mõ hồi một, mõ hồi một là mõ đánh báo động có cướp nên mọi người lo sợ, rút vô trong đình, gài cây song hồng, đóng cửa lại, rồi ngồi im, chụm lại với nhau mà chờ nghe động tĩnh.
Ông bầu Sanh rọi đèn pin kiểm điểm người trong đoàn, chưa đếm để biết thiếu hay đủ thì tiếng dọng cửa đình rầm rầm và tiếng nhiều người la thét bên ngoài: “Mở cửa, mở cửa. Không mở cửa tao đốt đình, đốt cháy tụi bây ra tro đa”
Ông
Bầu
làm
gan,
tới
gần
cửa,
lớn
tiếng
trả
lời:
“Mấy
ông
ơi,
tụi
tui
là
gánh
hát,
nghèo
lắm,
không
có
gì
đâu
mà
cướp.
Gánh
hát
với
ăn
cướp
cũng
thờ
một
tổ
nghiệp
với
nhau.
Ăn
cướp
không
có
cướp
gánh
hát.
Mình
bồ
nhà
mà!”
– “Bồ cái mồ tổ mầy, chớ bồ cái gì? Lính partisan trên quận đây. Xét bắt Việt Minh. Hỏng mở cửa, tao bắn chết bỏ mẹ. Mở cửa mau!”
– “Dạ, dạ, để chúng tôi mở cửa. Đốt đèn măng xông lên bây ơi”
Ông Bầu run giọng, sợ thiệt tình rồi! Hồi đó. gặp ăn cướp chận đường, năn nỉ ỉ ôi thì có thể họ tha, chớ cái thời chiến tranh thì chớ có nói dang ca, lính biểu mở cửa thì phải mở cửa, biểu ngồi yên hai tay để trên đầu hay là để sau ót thì cứ ngoan ngoản làm theo thì may mà tai qua nạn khỏi, yên thân khỏi ăn đạn đồng.
Đèn măng xông đốt lên sáng trưng, cửa đình được mở ra, lính ùa vô, súng lên cò nghe rắc rắc.
– “Ngồi dưới đất, xếp hàng ba, tay đưa lên sau ót. Đứa nào chạy, bắn bỏ!”
Mọi người riu ríu tuân lịnh. Tôi với Trường Xuân ngồi đầu hàng. Đèn măng xông sáng choang như vậy mà mấy ông xếp Partisan vẫn rọi đèn pin, soi nhìn mặt từng người. Ông Bầu Trương Gia Kỳ Sanh và anh quản lý Năm Anh cầm tờ khai và sổ sách ghi tên nhơn viên gánh hát, đi theo sau lưng ông xếp để phòng khi ông hỏi để trả lời hay trình giấy tờ. Ổng soi đèn nhìn mặt kiếm Văn Ngân, không thấy bèn hỏi: “Còn thằng Lữ Bố đâu?”
– “Dạ, vãn hát, Lữ Bố đi ăn cháo khuya, chưa thấy về. Dạ hỏng biết Lữ Bố nó ngủ ở đâu,”
– Thằng Lữ Bố dụ dỗ cô Hai Hường, con gái cưng của ông Hội Đồng Tiên, xã Mỹ Thọ bên Cao Lãnh. Ông Hội đồng Tiên là sui gia với ông Quận Trưởng ở Nha Mân. Ông đâm đơn kiện, xin trát tới bắt quả tang thằng Lữ Bố nó ngủ với cô Hường để đem về nhốt. Ông mau kiếm cái thằng kép đó, biểu nó trả cô con gái của ông Hội đồng rồi nó trốn về Saigon đi. Ở đây rủ rê con gái người ta, có ngày mất mạng. Cái thứ xướng ca vô loại, sánh với con gái nhà quyền quý sao xứng? Gà muốn sánh với phụng hả? Đừng hòng!”
Khi lính bạt ti dăng rút về bót, ông bầu biểu tôi và Trường Xuân đi kiếm anh Văn Ngân, báo tin, biểu ảnh ra bến xe, đón xe về Saigon ngay. Chúng tôi tới nhà trọ của Văn Ngân mướn ở với cô Hường. Tới nơi thì cô Hường đang tom góp đồ đạc, anh Văn Ngân thì còn núp dưới ao bèo chưa dám ló mặt lên.
Tôi và Trường Xuân ra kéo anh lên. Anh lạnh run, môi tím bầm. Anh hỏi: “Lính rút về hết chưa?”
Tôi hỏi “Tại sao anh biết là lính tới kiếm bắt anh?”
– Thì cổ nói ba của cổ hăm sẽ cho lính bắt nhốt tôi. Tôi tưởng là ông hăm suông thôi. Ai dè ổng làm thiệt. Bây giờ lỡ rồi làm sao?
– “Bồ cái mồ tổ mầy, chớ bồ cái gì? Lính partisan trên quận đây. Xét bắt Việt Minh. Hỏng mở cửa, tao bắn chết bỏ mẹ. Mở cửa mau!”
– “Dạ, dạ, để chúng tôi mở cửa. Đốt đèn măng xông lên bây ơi”
Ông Bầu run giọng, sợ thiệt tình rồi! Hồi đó. gặp ăn cướp chận đường, năn nỉ ỉ ôi thì có thể họ tha, chớ cái thời chiến tranh thì chớ có nói dang ca, lính biểu mở cửa thì phải mở cửa, biểu ngồi yên hai tay để trên đầu hay là để sau ót thì cứ ngoan ngoản làm theo thì may mà tai qua nạn khỏi, yên thân khỏi ăn đạn đồng.
Đèn măng xông đốt lên sáng trưng, cửa đình được mở ra, lính ùa vô, súng lên cò nghe rắc rắc.
– “Ngồi dưới đất, xếp hàng ba, tay đưa lên sau ót. Đứa nào chạy, bắn bỏ!”
Mọi người riu ríu tuân lịnh. Tôi với Trường Xuân ngồi đầu hàng. Đèn măng xông sáng choang như vậy mà mấy ông xếp Partisan vẫn rọi đèn pin, soi nhìn mặt từng người. Ông Bầu Trương Gia Kỳ Sanh và anh quản lý Năm Anh cầm tờ khai và sổ sách ghi tên nhơn viên gánh hát, đi theo sau lưng ông xếp để phòng khi ông hỏi để trả lời hay trình giấy tờ. Ổng soi đèn nhìn mặt kiếm Văn Ngân, không thấy bèn hỏi: “Còn thằng Lữ Bố đâu?”
– “Dạ, vãn hát, Lữ Bố đi ăn cháo khuya, chưa thấy về. Dạ hỏng biết Lữ Bố nó ngủ ở đâu,”
– Thằng Lữ Bố dụ dỗ cô Hai Hường, con gái cưng của ông Hội Đồng Tiên, xã Mỹ Thọ bên Cao Lãnh. Ông Hội đồng Tiên là sui gia với ông Quận Trưởng ở Nha Mân. Ông đâm đơn kiện, xin trát tới bắt quả tang thằng Lữ Bố nó ngủ với cô Hường để đem về nhốt. Ông mau kiếm cái thằng kép đó, biểu nó trả cô con gái của ông Hội đồng rồi nó trốn về Saigon đi. Ở đây rủ rê con gái người ta, có ngày mất mạng. Cái thứ xướng ca vô loại, sánh với con gái nhà quyền quý sao xứng? Gà muốn sánh với phụng hả? Đừng hòng!”
Khi lính bạt ti dăng rút về bót, ông bầu biểu tôi và Trường Xuân đi kiếm anh Văn Ngân, báo tin, biểu ảnh ra bến xe, đón xe về Saigon ngay. Chúng tôi tới nhà trọ của Văn Ngân mướn ở với cô Hường. Tới nơi thì cô Hường đang tom góp đồ đạc, anh Văn Ngân thì còn núp dưới ao bèo chưa dám ló mặt lên.
Tôi và Trường Xuân ra kéo anh lên. Anh lạnh run, môi tím bầm. Anh hỏi: “Lính rút về hết chưa?”
Tôi hỏi “Tại sao anh biết là lính tới kiếm bắt anh?”
– Thì cổ nói ba của cổ hăm sẽ cho lính bắt nhốt tôi. Tôi tưởng là ông hăm suông thôi. Ai dè ổng làm thiệt. Bây giờ lỡ rồi làm sao?
–
Thì
dĩ
đào
vi
thượng!
Trốn
là
cái
chắc!
Lữ
Bố
vì
mê
Điêu
Thuyền
mà
bị
phanh
thây
ở
Bạch
Mã
Thành.
Anh
là
Lữ
Bố
kép
hát
chớ
đâu
có
phải
Lữ
Bố
thiệt!
Hỏng
bỏ
trốn
thì
Lữ
Bố
sẽ
bỏ
xác
ở
Nha
Mân
Thành
đó.
– Thôi mậy. tao biết rồi, đừng có dọa.
Anh nhờ tôi và TrườngXuân thu xếp dùm tủ làm tuồng của anh chớ anh không dám trở vô rạp hát. Ngay đêm đó anh ra lộ đón xe đi về Saigon.
Về Saigon, tôi biết anh Văn Ngân vì ngâm mình dưới ao bèo lâu, lạnh quá bị cảm, sưng phổi, phải nằm nhà thương Chợ Rẫy cả tháng.
Chúng tôi theo ông Bầu Sanh vô nhà thương thăm, anh Văn Ngân nói: “Nói thiệt với ông Bầu, tôi thương cô Hường thiệt tình. Tôi muồn cưới cô làm vợ, lập gia đình đàng hoàng. Gánh hát cứ dời bến hát, mỗi tuần một lần. Hết quận nầy đến xã kia, khi thì ở thành phố, lúc thì ra miền trung xa tít mù. Vừa mới làm quen với cô nầy, chưa hỏi được gia thế của cổ ra sao thì đã phải xa nhau. Người ta coi kép hát là xướng ca vô loại, không chịu gả con. Làm sao mà kiếm cho được một cô vợ đàng hoàng như người dân bình thường trong thôn xóm? Đành phải hy vọng vào cô nào đó ôm gói theo gánh hát, sống chung với tôi, khi có con cái thì kéo về nhà lạy cha mẹ đàng gái, xin tha thứ, tác thành cho. Chớ ngoài cách đó ra, kép hát chỉ có thể cưới đào hát mà thôi!”
Ông Bầu thông cảm Văn Ngân nhưng không có cách giải quyết. Ông nói: “Thành kiến phong kiến là những người ca hát không đuợc xếp trong hàng Sĩ, Nông, Công, Thương, nên người ta gán cho là phường xướng ca vô loại. Vua Lê Thánh Tôn, năm 1468 ra sắc lệnh về định lệ thi hương, nguyên văn có đoạn:”Nhà phường chèo, con hát và những kẻ phản nghịch, ngụy quan có tiếng xấu thì bản thân và con cháu đều không được dự thi. Nếu man sách (tức khai gian) thì bị trị tội theo luật( trang 400 Đại Việt Sử Ký Toàn Thư). Tôi trước khi làm bầu gánh và soạn giả, tôi đi dạy học nên biết trong sách sử có ghi như vậy, Đến nay hơn 500 năm, vậy mà thành kiến đó vẫn còn. Là nghệ sĩ, các em phải làm sao giữ gìn phẩm cách trong sạch, để góp phần xóa cái thành kiến ác nghiệt đó”.
Anh Văn Ngân có quyền cưới một người vợ như cô con gái của ông Hội Đồng Tiên không? Anh không đến nhà cô gái đó để rù quyến, không bắt cóc cô Hường, vậy tại sao anh bị ghép tội? Có công bằng xã hội hay không?
Nhớ chuyện xướng ca vô loại trong đầu thập niên 1950.
– Thôi mậy. tao biết rồi, đừng có dọa.
Anh nhờ tôi và TrườngXuân thu xếp dùm tủ làm tuồng của anh chớ anh không dám trở vô rạp hát. Ngay đêm đó anh ra lộ đón xe đi về Saigon.
Về Saigon, tôi biết anh Văn Ngân vì ngâm mình dưới ao bèo lâu, lạnh quá bị cảm, sưng phổi, phải nằm nhà thương Chợ Rẫy cả tháng.
Chúng tôi theo ông Bầu Sanh vô nhà thương thăm, anh Văn Ngân nói: “Nói thiệt với ông Bầu, tôi thương cô Hường thiệt tình. Tôi muồn cưới cô làm vợ, lập gia đình đàng hoàng. Gánh hát cứ dời bến hát, mỗi tuần một lần. Hết quận nầy đến xã kia, khi thì ở thành phố, lúc thì ra miền trung xa tít mù. Vừa mới làm quen với cô nầy, chưa hỏi được gia thế của cổ ra sao thì đã phải xa nhau. Người ta coi kép hát là xướng ca vô loại, không chịu gả con. Làm sao mà kiếm cho được một cô vợ đàng hoàng như người dân bình thường trong thôn xóm? Đành phải hy vọng vào cô nào đó ôm gói theo gánh hát, sống chung với tôi, khi có con cái thì kéo về nhà lạy cha mẹ đàng gái, xin tha thứ, tác thành cho. Chớ ngoài cách đó ra, kép hát chỉ có thể cưới đào hát mà thôi!”
Ông Bầu thông cảm Văn Ngân nhưng không có cách giải quyết. Ông nói: “Thành kiến phong kiến là những người ca hát không đuợc xếp trong hàng Sĩ, Nông, Công, Thương, nên người ta gán cho là phường xướng ca vô loại. Vua Lê Thánh Tôn, năm 1468 ra sắc lệnh về định lệ thi hương, nguyên văn có đoạn:”Nhà phường chèo, con hát và những kẻ phản nghịch, ngụy quan có tiếng xấu thì bản thân và con cháu đều không được dự thi. Nếu man sách (tức khai gian) thì bị trị tội theo luật( trang 400 Đại Việt Sử Ký Toàn Thư). Tôi trước khi làm bầu gánh và soạn giả, tôi đi dạy học nên biết trong sách sử có ghi như vậy, Đến nay hơn 500 năm, vậy mà thành kiến đó vẫn còn. Là nghệ sĩ, các em phải làm sao giữ gìn phẩm cách trong sạch, để góp phần xóa cái thành kiến ác nghiệt đó”.
Anh Văn Ngân có quyền cưới một người vợ như cô con gái của ông Hội Đồng Tiên không? Anh không đến nhà cô gái đó để rù quyến, không bắt cóc cô Hường, vậy tại sao anh bị ghép tội? Có công bằng xã hội hay không?
Nhớ chuyện xướng ca vô loại trong đầu thập niên 1950.
.


Tháng 8 năm 2017
Soạn giả Nguyễn Phương