LB
Một
bạn
ở
chung
trong
khu
Nhà
Cao
Niên
với
tôi,
nói:
“Anh
viết
về
nghệ
sĩ
và
nghệ
thuật
sân
khấu
đã
trên
hai
chục
năm,
tôi
nhớ
không
lầm
thì
anh
không
có
bài
nào
nói
xấu
về
nghệ
sĩ.
Theo
tôi
nghĩ:
nghệ
sĩ
cũng
là
người,
sống
chung
đụng
với
nhau
thế
nào
cũng
có
xích
mích,
lạm
dụng
tiền
bạc
của
người
khác,
hoặc
sa
vào
tệ
nạn
tứ
đổ
tường
đến
tan
nhà
nát
cửa.
Hoặc
ngoại
tình
hay
lừa
tình
của
khán
giả
yêu
mến
mình…
Nói
chung,
nghệ
sĩ
có
người
tốt,
người
xấu
chớ
không
phải
toàn
bích
như
nhân
vật
trong
những
bài
viết
của
anh”.
Tôi
trả
lời:
“Tâm
lý
chung
của
người
ta
là:
Tốt
khoe,
xấu
che.
Khán
giả
thưởng
thức
vẻ
đẹp
của
nghệ
sĩ
trên
sân
khấu,
nên
tôi
viết
những
chuyện
tình
đẹp
của
nghệ
sĩ
để
lưu
giữ
hình
ảnh
đẹp
đó
trong
những
kỷ
ức
của
các
bạn.
Có
những
chuyện
tình
dang
dở
của
nghệ
sĩ
với
nghệ
sĩ,
giữa
nghệ
sĩ
và
người
ngoài
giới,
theo
tôi
đó
là
vì
thời
cuộc,
vì
chiến
tranh
hoặc
vì
thành
kiến
môn
đăng
hộ
đối
hay
vì
thành
kiến
xem
nghệ
sĩ
là
xướng
ca
vô
loại.
Đây,
tôi
kể
anh
nghe
chuyện
tình
của
kép
đẹp,
danh
ca
Văn
Ngân
của
đoàn
hát
Tiến
Hóa
(về
sau
anh
là
kép
đẹp
đóng
với
nghệ
sĩ
Phùng
Há
trong
đoàn
hát
Phụng
Hảo,
anh
cũng
đóng
cặp
với
nữ
nghệ
sĩ
Kim
Cúc,
Kim
Lan
trong
tuồng
Tây
Thi
Gái
nước
Việt
của
đoàn
Việt
Kịch
Năm
Châu).
Cần
nói
rõ
đây
là
chuyện
của
nửa
thế
kỷ
trước,
những
năm
1930,
1940,
1950,
những
năm
còn
thuộc
về
thời
tung
hoành
của
ông
vua
cờ
bạc
Sáu
Ngọ,
của
Giải
Trí
Trường
Đại
Thế
Giới,
của
sòng
bài
và
xổ
số
đề
Kim
Chung
của
ông
Bảy
Viễn
và
thời
của
các
lãnh
chúa
địa
phương
ở
các
tỉnh
lẻ,
các
làng
xã
xa
xôi.
Hồi
năm
1950,
tôi
có
dịp
gặp
lại
ông
thầy
của
tôi
là
ông
Trương
Gia
Kỳ
Sanh
tức
soạn
giả
Trúc
Viên,
bầu
của
gánh
hát
Tiến
Hóa,
chuyên
hát
cải
lương
tuồng
Tàu.
Lúc
đó
anh
Trường
Xuân
cũng
mới
gia
nhập
đoàn
hát
nầy,
ông
Kỳ
Sanh
bảo
tôi
theo
ông,
ông
sẽ
chỉ
dạy
tôi
soạn
tuồng
cải
lương,
cái
nghề
đó
có
tương
lai
hơn
là
làm
quản
lý
đoàn
hát.
Ông
nói
với
tôi
và
Trường
Xuân:
“Tụi
bây
có
Tây
học,
tụi
bây
đọc
được
tiểu
thuyết
Tây,
tiểu
thuyết
Ta.
Chỉ
cần
có
đầu
óc
biết
suy
nghĩ,
dám
đặt
vấn
đề,
dám
có
ý
nghĩ
giải
quyết
vấn
đề
thì
tụi
bây
có
thể
viết
tuồng
được.
Vấn
đề
kỹ
thuật
không
khó.
Trước
nhứt
phải
học
đờn,
học
ca
cổ
nhạc.
Tụi
bây
làm
thơ
ký,
chép
tuồng,
ra role
tuồng
(tức
chép
các
vai
hát
cho
các
diễn
viên)
thì
dần
dần
tụi
bây
sẽ
hiểu
cách
viết
tuồng
ra
làm
sao”
Tôi
nghe
bùi
tai,
bèn
bỏ
gánh
hát
Tiếng
Chuông,
khăn
gói
theo
gánh
Tiến
Hóa.
Lúc
đó
đoàn
hát
thường
diễn
ở
tỉnh
Sa
Đéc,
Trà
Vinh,
Sóc
Trăng,
Cần
Thơ
và
Bạc
Liêu
vì
các
tỉnh
đó
có
nhiều
thương
gia
Hoa
Kiều,
những
khán
giả
thích
coi
hát
tuồng
theo
truyện
Tam
Quốc,
Vạn
Huê
Lầu,
Thủy
Hử
…
Những
tuồng
như
Phụng
Nghi
Đình,
Huê
Dung
Đạo,
Triệu
Tử
đoạt
ấu
chúa,
Mã
Siêu
báo
phụ
cừu…
rất
được
khán
giả
ưa
thích
vì
các
vai
như
Triệu
Tử
Long,
Lữ
Bố,
Mã
Siêu
đều
là
những
vai
tướng
rất
đẹp,
mặt
trắng,
môi
hồng,
mắt
xếch,
bộ
múa
thật
là
huê
dạng,
áo
giáp
rực
rỡ
thêm
có
đôi
lông
trĩ
giắt
trên
mão
làm
tăng
vẻ
đẹp
của
một
dũng
tướng
hiên
ngang
trên
chiến
trận.
Mỗi
khi
có
tướng
Lữ
Bố,
Triệu
Tử
Long,
Mã
Siêu
xuất
hiện
trên
sân
khấu,
tiếng
trống,
tiếng
mõ
và
tiếng
đồng
lố
đánh
nghe
thật
xôm,
nghe
bắt
nôn
ruột.
Khán
giả
ở
tỉnh
xem
tuồng
Tàu
đều
thích
những
diễn
viên
đóng
các
vai
tướng
đẹp.
Các
nữ
khán
giả
lại
càng
thêm
mê
thêm
mệt
vì
cái
đẹp
hào
hùng
đầy
nam
tính.
Hồi
đó,
ở
các
tỉnh
lẻ,
nhất
là
ở
thôn
quê,
dân
mình
ít
se
sua,
thường
ngày
chỉ
mặc
quần
bô
áo
vải,
màu
đen
hoặc
trắng,
các
cô
thì
cũng
có
áo
bông
áo
màu
nhưng
chỉ
là
mặc
trong
các
ngày
lễ
ngày
Tết.
Bây
giờ
đi
coi
hát,
đêm
đêm
dưới
ánh
đèn
sáng
choang,
các
cô
thấy
những
viên
tướng
Triệu
Tử,
Lữ
Bố
mặc
những
bộ
giáp
trắng
hoặc
màu
tím
than,
có
đính
mắc
gà
hoặc
hột
chai,
chiếu
sáng
lấp
lánh
dưới
ánh
đèn
sân
khấu,
các
cô
lại
nghe
được
giọng
hát
ân
tình,
thấy
điệu
múa
huê
dạng,
nhất
là
thấy
đôi
mắt
của
kép
đa
tình
khi
ca
mùi
mẫn
với
đào
hát…
Hình
ảnh
đẹp
đó,
âm
thanh
rũ
quyến
đó
theo
vào
trong
mộng
của
các
cô
thôn
nữ
làm
cho
nhiều
cô
mơ
ước
có
được
một
tấm
chồng
như
Lữ
Bố,
như
Triệu
Tử
Long…
Nữ
khán
giả
ái
mộ
kép
đẹp
trên
sân
khấu,
thường
tặng
quà,
(hồi
đó
chưa
có
biết
xin
chữ
ký
kỷ
niệm),
có
khi
chờ
vãn
hát,
đứng
xem
mặt
người
mình
mơ
tưởng.
Có
cô
bạo
gan
hơn
thì
ban
ngày
tới
rạp
hát
để
gặp
mặt,
chuyện
trò,
mời
dùng
cơm,
mời
đến
nhà
kết
bạn.
Có
cô
xách
va
ly
trốn
theo
kép
hát
như
một
con
thiêu
thân
lao
mình
vô
ánh
đèn
tọa
đăng,
bất
kể
hậu
quả
ra
sao.
Ở
đoàn
Tiến
Hóa,
kép
Văn
Ngân
(hồi
đó
chưa
biết
kêu
là
nghệ
sĩ)
trắng
trẻo,
đẹp
trai,
khi
lên
sân
khấu
thì
anh
lại
càng
đẹp
một
cách
mê
hồn
hơn
nhờ
xiêm
áo
rực
rỡ
và
nhờ
nơi
giọng
hát
êm
như
mơn
trớn
như
rù
quyến.
Anh
có
tiếng
là
“kép
hát
đắc
đào
nhất
xứ”.
Bất
cứ
đoàn
Tiến
Hóa
hát
ở
rạp
hát
nào,
hát
trong
đình
hay
hát
chợ,
lúc
nào
cũng
có
nữ
khán
giả
đến
tặng
tiền,
tặng
quà,
mời
anh
đi
dùng
cơm,
đi
du
ngoạn.
Có
nhiều
cô
mang
quần
áo
đi
theo
anh
được
vài
bến
hát
rồi
mới
chịu
keo
rã
hồ
tan.Ông
Bầu
Sanh
thường
nói:
“Mầy
không
được
dẫn
người
lạ
vô
gánh
hát,
ông
Tổ
không
chịu
sự
ô
uế,
không
ưa
lường
gạt,
trộm
cắp.
Phá
hại
đời
con
gái
của
người
ta,
tổn
đức
lắm,
ông
Tổ
lấy
nghề
của
mầy
lại
thì
mầy
có
đi
ăn
mày
cũng
không
xin
được
đồng
xu
hay
chén
cơm
đâu.
Mầy
nhớ
nghe
mậy!”
Văn
Ngân
trả
lời:
“Như
ông
Bầu
thấy
đó,
tui
hát
rồi,
mệt
muốn
xỉu,
chỉ
cần
ăn
một
tô
cháo
khuya
rồi
thì
đi
ngủ
một
giấc,
lấy
sức
để
mai
hát
nữa.
Mấy
cô
đó
tới
tặng
quà,
tặng
tiền.
Tui
làm
lơ
thì
phụ
lòng
người
ta.
Nhận
tiền,
nhận
quà
mà
hỏng
nói
chuyện
thì
coi
cũng
hỏng
được.
Vậy
đó,
lửa
gần
rơm,
hỏng
cháy
thì
cũng
trèm
trụa.
Tui
có
rũ
quyến
ai
đâu.
Họ
rù
quyến
tui…
ông
Bầu
thông
cảm
cho
tôi
chớ!”
Ông
Bầu
Sanh:
“Trâu
tìm
cột
chớ
không
có
chuyện
cột
đi
tìm
trâu.
Mầy
hát
trên
sân
khấu
mà
tao
thấy
mầy
liếc
ngang
liếc
dọc
xuống
khán
giả,
cười
tình
rồi
nhấp
nháy
con
mắt.
Mầy
đá
lông
nheo
với
mấy
cổ,
tao
già
đời
trên
sân
khấu
rồi,
tao
biết:
muốn
rù
quyến
một
cô
nào
đó,
đâu
có
cần
phải
nói
ất
nói
giáp
gì
đâu.
Họ
thương
thì
họ
liều,
họ
nhào
tới
thì
mầy
phải
biết
mà
tránh
xê
ra
chớ.
Cô
nào
nhào
tới,
mầy
cũng
hốt
hết…
hốt
hết.
Mầy
coi
chừng
có
ngày
bị
đánh
ghen,
bể
đầu
chảy
máu,
có
khi
ủ
tờ…ở
tù,
nghe
con!”
Gánh
hát
hát
ở
chợ
Cao
Lãnh
một
tuần.
Tôi
thấy
một
cô
gái
nước
da
trắng
như
bông,
môi
đỏ,
má
hường,
dáng
người
thon
thon,
nói
năng
nhỏ
nhẹ,
rõ
là
con
gái
nhà
giàu
ở
thôn
quê,
cô
thường
đi
coi
hát,
vãn
hát,
cô
vô
hậu
trường
tặng
quà
cho
kép
Văn
Ngân,
khi
thì
mật
ong
với
cam
sành,
khi
đưa
bao
thơ
viết
đôi
dòng
tâm
sự
có
kèm
tiền.
Gánh
hát
qua
hát
ở
quận
Cái
Tàu
Hạ,
quận
Nha
Mân
rồi
qua
chợ
Sa
Đéc,
mấy
bến
hát
đó,
bến
nào
tôi
cũng
thấy
cô
đó
đến
tìm
Văn
Ngân.
Những
khi
cô
mời
Văn
Ngân
dùng
cơm
trong
các
tiệm
ăn
lớn
ở
phố
chợ
thì
cô
mời
tôi
và
Trường
Xuân
cùng
đi,
có
lẽ
vì
thấy
chúng
tôi
như
là
đệ
tử
của
Văn
Ngân,
hoặc
là
cô
muốn
dùng
chúng
tôi
làm
bình
phong
che
đậy
mối
tình
của
Văn
Ngân
và
cô.
Theo
tôi
biết
thì
cha
mẹ
của
cô
chắc
chắn
là
người
hào
phú
danh
giá
của
tỉnh
Sa
Đéc
vì
tôi
thấy
cô
quen
biết
rất
nhiều
người
ở
những
nơi
mà
đoàn
hát
đến
hát.
Lần
hát
bán
dàn
ở
đình
Nha
Mân
thì
cô
mang
khăn
gói
xuống
mướn
nhà
gần
đình
để
ở
với
Văn
Ngân.
Đêm
hát
thứ
nhì
vừa
vãn
hát,
khán
giả
ra
về
hết
rồi,
đèn
sân
khấu
đã
tắt,
cả
xóm
đình
chìm
trong
đêm
tối,
thình
lình
tôi
nghe
đánh
mõ
hồi
một,
mõ
hồi
một
là
mõ
đánh
báo
động
có
cướp
nên
mọi
người
lo
sợ,
rút
vô
trong
đình,
gài
cây
song
hồng,
đóng
cửa
lại,
rồi
ngồi
im,
chụm
lại
với
nhau
mà
chờ
nghe
động
tĩnh.
Ông
bầu
Sanh
rọi
đèn
pin
kiểm
điểm
người
trong
đoàn,
chưa
đếm
để
biết
thiếu
hay
đủ
thì
tiếng
dọng
cửa
đình
rầm
rầm
và
tiếng
nhiều
người
la
thét
bên
ngoài:
“Mở
cửa,
mở
cửa.
Không
mở
cửa
tao
đốt
đình,
đốt
cháy
tụi
bây
ra
tro
đa”
Ông
Bầu
làm
gan,
tới
gần
cửa,
lớn
tiếng
trả
lời:
“Mấy
ông
ơi,
tụi
tui
là
gánh
hát,
nghèo
lắm,
không
có
gì
đâu
mà
cướp.
Gánh
hát
với
ăn
cướp
cũng
thờ
một
tổ
nghiệp
với
nhau.
Ăn
cướp
không
có
cướp
gánh
hát.
Mình
bồ
nhà
mà!”
–
“Bồ
cái
mồ
tổ
mầy,
chớ
bồ
cái
gì?
Lính
partisan
trên
quận
đây.
Xét
bắt
Việt
Minh.
Hỏng
mở
cửa,
tao
bắn
chết
bỏ
mẹ.
Mở
cửa
mau!”
–
“Dạ,
dạ,
để
chúng
tôi
mở
cửa.
Đốt
đèn
măng
xông
lên
bây
ơi”
Ông
Bầu
run
giọng,
sợ
thiệt
tình
rồi!
Hồi
đó.
gặp
ăn
cướp
chận
đường,
năn
nỉ
ỉ
ôi
thì
có
thể
họ
tha,
chớ
cái
thời
chiến
tranh
thì
chớ
có
nói
dang
ca,
lính
biểu
mở
cửa
thì
phải
mở
cửa,
biểu
ngồi
yên
hai
tay
để
trên
đầu
hay
là
để
sau
ót
thì
cứ
ngoan
ngoản
làm
theo
thì
may
mà
tai
qua
nạn
khỏi,
yên
thân
khỏi
ăn
đạn
đồng.
Đèn
măng
xông
đốt
lên
sáng
trưng,
cửa
đình
được
mở
ra,
lính
ùa
vô,
súng
lên
cò
nghe
rắc
rắc.
–
“Ngồi
dưới
đất,
xếp
hàng
ba,
tay
đưa
lên
sau
ót.
Đứa
nào
chạy,
bắn
bỏ!”
Mọi
người
riu
ríu
tuân
lịnh.
Tôi
với
Trường
Xuân
ngồi
đầu
hàng.
Đèn
măng
xông
sáng
choang
như
vậy
mà
mấy
ông
xếp
Partisan
vẫn
rọi
đèn
pin,
soi
nhìn
mặt
từng
người.
Ông
Bầu
Trương
Gia
Kỳ
Sanh
và
anh
quản
lý
Năm
Anh
cầm
tờ
khai
và
sổ
sách
ghi
tên
nhơn
viên
gánh
hát,
đi
theo
sau
lưng
ông
xếp
để
phòng
khi
ông
hỏi
để
trả
lời
hay
trình
giấy
tờ.
Ổng
soi
đèn
nhìn
mặt
kiếm
Văn
Ngân,
không
thấy
bèn
hỏi:
“Còn
thằng
Lữ
Bố
đâu?”
–
“Dạ,
vãn
hát,
Lữ
Bố
đi
ăn
cháo
khuya,
chưa
thấy
về.
Dạ
hỏng
biết
Lữ
Bố
nó
ngủ
ở
đâu,”
–
Thằng
Lữ
Bố
dụ
dỗ
cô
Hai
Hường,
con
gái
cưng
của
ông
Hội
Đồng
Tiên,
xã
Mỹ
Thọ
bên
Cao
Lãnh.
Ông
Hội
đồng
Tiên
là
sui
gia
với
ông
Quận
Trưởng
ở
Nha
Mân.
Ông
đâm
đơn
kiện,
xin
trát
tới
bắt
quả
tang
thằng
Lữ
Bố
nó
ngủ
với
cô
Hường
để
đem
về
nhốt.
Ông
mau
kiếm
cái
thằng
kép
đó,
biểu
nó
trả
cô
con
gái
của
ông
Hội
đồng
rồi
nó
trốn
về
Saigon
đi.
Ở
đây
rủ
rê
con
gái
người
ta,
có
ngày
mất
mạng.
Cái
thứ
xướng
ca
vô
loại,
sánh
với
con
gái
nhà
quyền
quý
sao
xứng?
Gà
muốn
sánh
với
phụng
hả?
Đừng
hòng!”
Khi
lính
bạt
ti
dăng
rút
về
bót,
ông
bầu
biểu
tôi
và
Trường
Xuân
đi
kiếm
anh
Văn
Ngân,
báo
tin,
biểu
ảnh
ra
bến
xe,
đón
xe
về
Saigon
ngay.
Chúng
tôi
tới
nhà
trọ
của
Văn
Ngân
mướn
ở
với
cô
Hường.
Tới
nơi
thì
cô
Hường
đang
tom
góp
đồ
đạc,
anh
Văn
Ngân
thì
còn
núp
dưới
ao
bèo
chưa
dám
ló
mặt
lên.
Tôi
và
Trường
Xuân
ra
kéo
anh
lên.
Anh
lạnh
run,
môi
tím
bầm.
Anh
hỏi:
“Lính
rút
về
hết
chưa?”
Tôi
hỏi
“Tại
sao
anh
biết
là
lính
tới
kiếm
bắt
anh?”
–
Thì
cổ
nói
ba
của
cổ
hăm
sẽ
cho
lính
bắt
nhốt
tôi.
Tôi
tưởng
là
ông
hăm
suông
thôi.
Ai
dè
ổng
làm
thiệt.
Bây
giờ
lỡ
rồi
làm
sao?
–
Thì
dĩ
đào
vi
thượng!
Trốn
là
cái
chắc!
Lữ
Bố
vì
mê
Điêu
Thuyền
mà
bị
phanh
thây
ở
Bạch
Mã
Thành.
Anh
là
Lữ
Bố
kép
hát
chớ
đâu
có
phải
Lữ
Bố
thiệt!
Hỏng
bỏ
trốn
thì
Lữ
Bố
sẽ
bỏ
xác
ở
Nha
Mân
Thành
đó.
–
Thôi
mậy.
tao
biết
rồi,
đừng
có
dọa.
Anh
nhờ
tôi
và
TrườngXuân
thu
xếp
dùm
tủ
làm
tuồng
của
anh
chớ
anh
không
dám
trở
vô
rạp
hát.
Ngay
đêm
đó
anh
ra
lộ
đón
xe
đi
về
Saigon.
Về
Saigon,
tôi
biết
anh
Văn
Ngân
vì
ngâm
mình
dưới
ao
bèo
lâu,
lạnh
quá
bị
cảm,
sưng
phổi,
phải
nằm
nhà
thương
Chợ
Rẫy
cả
tháng.
Chúng
tôi
theo
ông
Bầu
Sanh
vô
nhà
thương
thăm,
anh
Văn
Ngân
nói:
“Nói
thiệt
với
ông
Bầu,
tôi
thương
cô
Hường
thiệt
tình.
Tôi
muồn
cưới
cô
làm
vợ,
lập
gia
đình
đàng
hoàng.
Gánh
hát
cứ
dời
bến
hát,
mỗi
tuần
một
lần.
Hết
quận
nầy
đến
xã
kia,
khi
thì
ở
thành
phố,
lúc
thì
ra
miền
trung
xa
tít
mù.
Vừa
mới
làm
quen
với
cô
nầy,
chưa
hỏi
được
gia
thế
của
cổ
ra
sao
thì
đã
phải
xa
nhau.
Người
ta
coi
kép
hát
là
xướng
ca
vô
loại,
không
chịu
gả
con.
Làm
sao
mà
kiếm
cho
được
một
cô
vợ
đàng
hoàng
như
người
dân
bình
thường
trong
thôn
xóm?
Đành
phải
hy
vọng
vào
cô
nào
đó
ôm
gói
theo
gánh
hát,
sống
chung
với
tôi,
khi
có
con
cái
thì
kéo
về
nhà
lạy
cha
mẹ
đàng
gái,
xin
tha
thứ,
tác
thành
cho.
Chớ
ngoài
cách
đó
ra,
kép
hát
chỉ
có
thể
cưới
đào
hát
mà
thôi!”
Ông
Bầu
thông
cảm
Văn
Ngân
nhưng
không
có
cách
giải
quyết.
Ông
nói:
“Thành
kiến
phong
kiến
là
những
người
ca
hát
không
đuợc
xếp
trong
hàng
Sĩ,
Nông,
Công,
Thương,
nên
người
ta
gán
cho
là
phường
xướng
ca
vô
loại.
Vua
Lê
Thánh
Tôn,
năm
1468
ra
sắc
lệnh
về
định
lệ
thi
hương,
nguyên
văn
có
đoạn:”Nhà
phường
chèo,
con
hát
và
những
kẻ
phản
nghịch,
ngụy
quan
có
tiếng
xấu
thì
bản
thân
và
con
cháu
đều
không
được
dự
thi.
Nếu
man
sách
(tức
khai
gian)
thì
bị
trị
tội
theo
luật(
trang
400
Đại
Việt
Sử
Ký
Toàn
Thư).
Tôi
trước
khi
làm
bầu
gánh
và
soạn
giả,
tôi
đi
dạy
học
nên
biết
trong
sách
sử
có
ghi
như
vậy,
Đến
nay
hơn
500
năm,
vậy
mà
thành
kiến
đó
vẫn
còn.
Là
nghệ
sĩ,
các
em
phải
làm
sao
giữ
gìn
phẩm
cách
trong
sạch,
để
góp
phần
xóa
cái
thành
kiến
ác
nghiệt
đó”.
Anh
Văn
Ngân
có
quyền
cưới
một
người
vợ
như
cô
con
gái
của
ông
Hội
Đồng
Tiên
không?
Anh
không
đến
nhà
cô
gái
đó
để
rù
quyến,
không
bắt
cóc
cô
Hường,
vậy
tại
sao
anh
bị
ghép
tội?
Có
công
bằng
xã
hội
hay
không?
Nhớ
chuyện
xướng
ca
vô
loại
trong
đầu
thập
niên
1950.
.

Tháng
8
năm
2017
Soạn
giả
Nguyễn
Phương
Ý kiến bạn đọc