MỘT CHÚT NỖI NIỀM VỀ BÚT HIỆU, BÚT DANH
- Thứ bảy - 24/10/2015 07:41
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Một
lẽ
thực
tiễn,
mà
có
lẽ
bất
kỳ
ai
cũng
phải
công
nhận.
Đến
với
“nghề”
viết
đã
khó,
thành
công
trên
lĩnh
vực
này
lại
càng
khó
hơn.
Nếu
như
không
có
một
chút
“duyên”,
thêm
vào
đó
một
chút
may
mắn,
thì
khó
có
thể
“trụ”
nổi
với
cái
“nghề”
nhiều
vinh
quang,
cũng
lắm
đoạn
trường
này!
Nếu
như
viết
là
một
“nghề”
thì
điều
cốt
lõi
phải
nuôi
nổi
bản
thân
và
gia
đình.
Nếu
như
viết
mà
sống
không
nổi
với
cây
viết,
thì
không
thể
gọi
đó
là
“nghề”.
Bởi
vì…
không
thiếu
chi
người
viết
không
nuôi
được
bản
thân,
phải
làm
thêm
những
công
việc
khác
như:
Chạy
xe
ôm,
buôn
bán
vặt
hoặc
là
sống
nhờ
nơi
sự
đảm
đang
của
người…
vợ,
thì
những
người
ấy
không
thể
xem
viết
là
một
“nghề”.
“Nghiệp”
khác
với
“nghề”
là
ở
chỗ
đó!
Bút
hiệu
–
Bút
danh
và
nghề
viết
Phàm, với những ai khi đến với cái “nghề”, hoặc “nghiệp” viết đều lấy làm đắn đo để chọn cho mình một bút hiệu. Trước 30-4-1975 người ta gọi thế, bây giờ là bút danh – mặc dù có những cây viết chưa hề nổi danh cũng vẫn được gọi như thế! Theo tôi, hai chữ bút hiệu thì đúng hơn. Bút hiệu – danh hiệu riêng của người cầm viết. Khi tập tễnh bước vào “nghề”, việc trước tiên là cố tìm cho mình một bút danh trước đã! Có người lấy tên thật, có người chỉ cần thêm dấu. Như soạn giả Điêu Huyền – ông tên thật Phạm Văn Điều. Điêu Huyền = Điều. Nghệ sỹ thời bấy giờ thường gọi ông thân mật là chú Sáu Điều. Ông là soạn giả của nhiều vở tuồng nổi tiếng như: Tìm lại cuộc đời, Tiếng hò sông Hậu, Khách sạn Hào Hoa, Ánh lửa rừng khuya, v.v… Soạn giả Quy Sắc – ông tên là Nguyễn Phú Quí, Quy Sắc = Quí, ông vốn là nhà giáo đã từng dạy kèm cho cố nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Và rồi cái “duyên” sáng tác lại đến với ông, khi ông gặp hai soạn giả Nguyễn Phương và Kiên Giang (Hà Huy Hà) ông và nhà thơ Kiên Giang hợp soạn vở tuồng “Người vợ không bao giờ cưới”, ông lấy bút hiệu là Phúc Nguyên – tên đứa con gái đầu lòng của ông. Những vở tuồng sau này ông lấy bút hiệu là Quy Sắc được nổi tiếng và bút hiệu Phúc Nguyên ông không dùng nữa. Từ một thầy giáo, sau đó “chuyển hệ” làm soạn giả cải lương thì rõ ràng rằng đây là “nghề chọn người” rồi! Với soạn giả Hà Triều, ông tên thật là Đặng Ngươn Chức. Bút hiệu Hà Triều ông lấy tên hai người em của ông ghép lại mà thành. Nhưng gì thì gì, nếu như bút hiệu mà không có đi kèm theo một chút “duyên”, thì rất ít khi được nhiều người biết đến.
Phàm, với những ai khi đến với cái “nghề”, hoặc “nghiệp” viết đều lấy làm đắn đo để chọn cho mình một bút hiệu. Trước 30-4-1975 người ta gọi thế, bây giờ là bút danh – mặc dù có những cây viết chưa hề nổi danh cũng vẫn được gọi như thế! Theo tôi, hai chữ bút hiệu thì đúng hơn. Bút hiệu – danh hiệu riêng của người cầm viết. Khi tập tễnh bước vào “nghề”, việc trước tiên là cố tìm cho mình một bút danh trước đã! Có người lấy tên thật, có người chỉ cần thêm dấu. Như soạn giả Điêu Huyền – ông tên thật Phạm Văn Điều. Điêu Huyền = Điều. Nghệ sỹ thời bấy giờ thường gọi ông thân mật là chú Sáu Điều. Ông là soạn giả của nhiều vở tuồng nổi tiếng như: Tìm lại cuộc đời, Tiếng hò sông Hậu, Khách sạn Hào Hoa, Ánh lửa rừng khuya, v.v… Soạn giả Quy Sắc – ông tên là Nguyễn Phú Quí, Quy Sắc = Quí, ông vốn là nhà giáo đã từng dạy kèm cho cố nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Và rồi cái “duyên” sáng tác lại đến với ông, khi ông gặp hai soạn giả Nguyễn Phương và Kiên Giang (Hà Huy Hà) ông và nhà thơ Kiên Giang hợp soạn vở tuồng “Người vợ không bao giờ cưới”, ông lấy bút hiệu là Phúc Nguyên – tên đứa con gái đầu lòng của ông. Những vở tuồng sau này ông lấy bút hiệu là Quy Sắc được nổi tiếng và bút hiệu Phúc Nguyên ông không dùng nữa. Từ một thầy giáo, sau đó “chuyển hệ” làm soạn giả cải lương thì rõ ràng rằng đây là “nghề chọn người” rồi! Với soạn giả Hà Triều, ông tên thật là Đặng Ngươn Chức. Bút hiệu Hà Triều ông lấy tên hai người em của ông ghép lại mà thành. Nhưng gì thì gì, nếu như bút hiệu mà không có đi kèm theo một chút “duyên”, thì rất ít khi được nhiều người biết đến.
Mỗi
bút
hiệu
đều
“ẩn
chứa”
một
cái
riêng
nào
đó.
Chẳng
hạn
như
tên
của
người
yêu,
đây
cũng
là
trường
hợp
của
nhạc
sĩ
Y
Vân,
ông
có
người
yêu
tên
Vân.
Y
Vân.
Y
có
nghĩa
là
yêu.
Y
Vân
=
Yêu
Vân,
chữ
Yêu
viết
tắt
thành
Y.
Và
một
chút
về
bản
thân
tôi
Người có lòng tự trọng thì ít có ai viết về mình. Gần hai mươi năm trước đây, không ít người hỏi tôi: “Sao ông lấy bút hiệu là A Lý Phượng Tuyền, ông có thể kể cho tôi nghe với!”. Tôi cười, nói vui: “Lấy như vậy để khỏi phải đụng hàng”. Và cách nay khoảng chừng hơn một tháng, tôi về Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh Đồng Nai nhận nhuận bút được đăng trong tập san. Tôi có gặp anh Lê Khắc Sinh – Giám đốc Trung tâm. Khi cùng uống cà phê với nhau, anh Khắc Sinh hỏi tôi: “Tôi hỏi ông câu này nghe, ông cho tôi biết là tại vì sao ông lấy bút danh là A Lý Phượng Tuyền”. Tôi cứ phân vân mãi, không lẽ mình lại trả lời theo cách… không thật của gần hai mươi năm về trước – “lấy như vậy để khỏi phải đụng hàng” làm như thế là không tôn trọng người đối diện. Bởi lẽ, người ta nghĩ đến mình mới hỏi bút hiệu của mình. Tôi đành tỏ thật với anh Lê Khắc Sinh. Anh Sinh là người rất khoái vọng cổ – cải lương, thành ra vì vậy mà anh muốn tìm hiểu bút hiệu của tôi.
Người có lòng tự trọng thì ít có ai viết về mình. Gần hai mươi năm trước đây, không ít người hỏi tôi: “Sao ông lấy bút hiệu là A Lý Phượng Tuyền, ông có thể kể cho tôi nghe với!”. Tôi cười, nói vui: “Lấy như vậy để khỏi phải đụng hàng”. Và cách nay khoảng chừng hơn một tháng, tôi về Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh Đồng Nai nhận nhuận bút được đăng trong tập san. Tôi có gặp anh Lê Khắc Sinh – Giám đốc Trung tâm. Khi cùng uống cà phê với nhau, anh Khắc Sinh hỏi tôi: “Tôi hỏi ông câu này nghe, ông cho tôi biết là tại vì sao ông lấy bút danh là A Lý Phượng Tuyền”. Tôi cứ phân vân mãi, không lẽ mình lại trả lời theo cách… không thật của gần hai mươi năm về trước – “lấy như vậy để khỏi phải đụng hàng” làm như thế là không tôn trọng người đối diện. Bởi lẽ, người ta nghĩ đến mình mới hỏi bút hiệu của mình. Tôi đành tỏ thật với anh Lê Khắc Sinh. Anh Sinh là người rất khoái vọng cổ – cải lương, thành ra vì vậy mà anh muốn tìm hiểu bút hiệu của tôi.
Tôi
liền
vào
chuyện.
Nếu
như
anh
Sinh
đã
nghe
qua
hai
bài
vọng
cổ “Tâm
tình
cô
công
nhân” và “Hoa
cao
su” được
phát
trên
đài
Tiếng
nói
Nhân
dân
TP.
HCM
vào
đầu
thập
niên
90,
hai
bài
ca
đó
cũng
là
nỗi
niềm
của
riêng
tôi.
Bài
vọng
cổ “Tâm
tình
cô
công
nhân” thể
hiện
lúc
tôi
với
nàng
yêu
nhau.
Còn
bài“Hoa
cao
su” là
sau
ngày
cô
ấy
đi
lấy
chồng.
Anh
Khắc
Sinh
như
đã
hiểu
ra
phần
nào
câu
chuyện.
Anh
hỏi:
“Vậy
người
yêu
của
ông
tên
Tuyền”.
Tôi
đáp
nhanh:
“Đúng
vậy!”.
Anh
Khắc
Sinh
lại
hỏi:
“Sao
lại
có
hai
từ
A
Lý?”.
Tôi
liền
bày
giải:
“Lúc
đó
tôi
đang
viết
tuồng
cải
lương Nước
trở
về
nguồn,
lấy
bối
cảnh
tướng
Mông
Cổ
là
A
Lý
Hải
Nha
xâm
lược
nước
Tống,
người
theo
cha
chinh
phạt
là
quận
chúa
A
Lý
Phượng
Tuyền
(nhân
vật
hư
cấu).
Vào
lúc
này,
chương
trình
Phụ
nữ
Đài
thành
phố
do
chị
Trâm
Hoàng
phụ
trách
khởi
xướng
chủ
đề
viết
về
“Tứ
đức”
của
người
phụ
nữ.
Tôi
viết
và
bài
được
chọn
phát.
Tôi
lấy
tên
nhân
vật
hư
cấu
trong
tuồng
là
A
Lý
Phượng
Tuyền
ký
làm
bút
danh.
Trong
một
lần
về
Đài,
cố
soạn
giả
Hải
Đăng
nói
với
tôi:
“Ông
bỏ
bút
danh
Dạ
Ngân
Châu
đi,
nên
lấy
bút
danh
A
Lý
Phượng
Tuyền.
Bút
danh
này
có
duyên,
thư
từ
thính
giả
gởi
về
Đài
đều
hỏi
về
bút
danh
này”
(gần
nguyên
văn).
Và,
bút
hiệu
A
Lý
Phượng
Tuyền
“có
duyên”
với
khán,
thính
giả
xa
gần
từ
đó.
Chỉ
vài
năm
nữa
tôi
đã
bước
vào
cái
tuổi
“cổ
lai
hy”
thì
còn
chi
để
mà
dấu
giếm?
Xin
quý
vị
độc
giả
hãy
xem
đây
như
lời
tri
ân
của
tôi
dành
cho
khán,
thính
giả
nghe
Đài
như:
Bạn
Thanh
Phương
ở
Mõ
Cày
–
Bến
Tre,
bạn
Nguyễn
Thị
Nữ
ở
Đồng
Xoài
–
Bình
Phước
đã
biên
thư
hỏi
Đài:
“Xin
cho
biết
tác
giả
A
Lý
Phượng
Tuyền
là
nam
hay
nữ?”.
Một
kỷ
niệm
vui
khác
đó
là
ngày
tôi
dự
trại
sáng
tác
ở
huyện
Tân
Châu.
Nhà
thơ
Trịnh
Bửu
Hoài
điện
mời
tôi
nói:
“Anh
có
đi
Tân
Châu
dự
trại
được
không?”.
Tôi
hỏi:
“Tân
Châu
nào
vậy
anh?
Có
phải
là
Tân
Châu
trong
bài
vọng
cổ Trên
đường
lưu
diễn của
soạn
giả
Viễn
Châu
(ngày
ấy
soạn
giả
Viễn
Châu
chưa
được
vinh
danh)
có
câu: “Lúc
theo
đoàn
qua
bắc
đến
Tân
Châu” không?
Nhà
thơ
Trịnh
Bửu
Hoài
trả
lời:
“Đúng
rồi!”.
Và
rồi,
trong
lần
đi
dự
trại
ở
huyện
Tân
Châu
(nay
là
thị
xã),
cô
Liên
(tạm
gọi
như
thế,
vì
cô
nhỏ
tuổi
hơn
tôi
rất
nhiều)
đến
mời
tôi
ly
rượu
và
nói:
“Nhờ
anh
về
viết
địa
phương
em,
nên
em
mới
biết
anh
là
nam.
Chớ
trước
đây
nghe
qua
Đài
em
cứ
tưởng
anh
là
nữ”
(gần
nguyên
văn).
Với
tôi,
đây
là
những
kỷ
niệm
êm
đềm
không
thể
nào
phai!
A LÝ PHƯỢNG TUYỀN
A LÝ PHƯỢNG TUYỀN
Chú
ý:
Việc
đăng
lại
bài
viết
trên
ở
website
hoặc
các
phương
tiện
truyền
thông
khác
mà
không
ghi
rõ
nguồn
http://www.cailuongvietnam.com
là
vi
phạm
bản
quyền