Chuyện Vui Sân Khấu Cải Lương Ngày Tết Của Các Nghệ Sĩ Tài Danh Xưa
- Chủ nhật - 28/02/2016 07:07
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
TTDT

Sân khấu cải lương không theo lệ đó, tuồng hát Tết để cho khán giả xem hát bói tuồng, phải có nội dung vui tươi, kết cuộc phải có hậu, đoàn tụ, làm ăn phát đạt, hôn nhơn hạnh phúc, không có cảnh đổ máu chết chóc và không đề cập đến con thú cầm tinh trong năm. Tuy nhiên có ngoại lệ là cầm tinh con Dê (Năm Mùi) và cầm tinh con Khỉ (Năm Thân) thì được nhiều soạn giả cải lương chú ý khai thác khi đoàn hát hát tuồng vào các năm Mùi và năm Thân.
Lý do đơn giản vì Năm Mùi tức là năm con Dê, chuyện những chàng trai dê gái thường tạo được những trò cười cho khán giả khi anh chàng mê gái bị gái cho “de”, hay bị lường gạt, bị bẻ gãy sừng dê, hoặc bị vợ bắt quả tang. Chuyện tình trong năm Mùi càng thêm phần đậm đà thi vị giữa những cặp yêu nhau chân thật; tình cảm thiết tha của cặp đôi lý tưởng đó thêm nổi bật khi có bóng dáng một chàng dê, một kẻ tay ba phá hoại. Kẻ tay ba tranh tình như một màu đen sậm làm nền, nâng mối tình chân thật nổi bật lên, rực rỡ hồng thắm.
Năm Thân, cầm tinh con Khỉ thì có thể khai thác những chuyện vui qua vai Tề Thiên Đại Thánh trong chuyện Tam Tạng thỉnh kinh, chuyện Chung Vô Diệm đấu kỳ bàn với Hầu Vương, Bạch Viên Tôn Các, chuyện con khỉ Abu với Aladin và Cây đèn thần trong Một Ngàn Lẻ Một Đêm… Các nghệ sĩ tài danh như kép độc Trường Xuân, Vua vọng cổ Út Trà Ôn, kép võ Văn Ngà, kép ba Chí Hiếu, hề Kim Quang đều có hát qua vai con khỉ trong các tuồng vừa kể.
Năm Bính Thân 1956, đoàn hát Tiếng Chuông – Bầu Cang hát ở nhà lồng chợ Cái Bè tỉnh Mỹ Tho. Hồi đó quận Cái Bè chưa có rạp hát dành cho các gánh cải lương. Khi nào có đoàn hát đến quận Cái Bè thì phải hát đình hoặc hát chợ. Hát đình thì chỗ chật hẹp, để được ít ghế cho khán giả thượng hạng và hạng nhứt, chỗ đứng để cho khán giả hạng ba cũng ít nên người mua dàn hát thường mướn chợ, dựng sân khấu, bao cà tăng chung quanh chợ để làm thành một cái rạp hát để được nhiều ghế cho khán giả hơn hát đình.
Đêm đầu tiên, đoàn Tiếng Chuông hát tuồng Trộm Mắt Phật, truyện Aladin, cây đèn thần và con khỉ Abu trong Một Ngàn Lẻ Một Đêm. Kép chánh Tuấn Sĩ thủ vai Aladin, Kép Trường Xuân thủ vai con khỉ Abu, Kép lão Hoàng Sâm đóng vai Ông Thần trong Cây Đèn Thần, đào chánh Ngọc An trong vai Công Chúa con vua Á Rập. Trong tuồng có lớp ông Thần trong Cây Đèn Thần hiện lên cho Aladin một tấm thảm bay để Aladin và con khỉ Abu đứng trên tấm thảm đó, bay lên vách thành cao để Aladin hội diện với Công Chúa.
Một em quân sĩ đóng vai con khỉ Abu bị bịnh bất ngờ, ông Bầu nhờ kép độc Trường Xuân thế vai. Trường Xuân sẽ được lãnh lương đôi nên anh bằng lòng với điều kiện là Tuấn Sĩ trong vai Aladin phải lấy tay chà cây Đèn Thần để ông Thần hiện lên và yêu cầu ông Thần hóa phép cho con khỉ Abu nói được tiếng người để giao tiếp dễ dàng với Aladin. Trường Xuân đã nghĩ ra những cảnh giễu từ lúc con khỉ chỉ biết nhăn mặt kêu khọt khẹt tới lúc nói được tiếng người và những màn chọc phá ông Thần Đèn và Aladin, tạo những trận cười nghiêng ngửa và anh viết một câu vọng cổ giễu để làm tăng thêm phần vui nhộn cho cuộc tâm tình của Aladin và công chúa. Anh đã vô Sở thú, quan sát điệu bộ của những con vượn, con khỉ và tập theo để diễn tả động tác của con khỉ Abu.
Trường Xuân nhờ tôi lấy giấy hồng đơn viết chữ bằng nhũ vàng, câu: “Khỉ Abu Trường Xuân kính chúc quí khán giả tấn Tài, tấn Lộc, tấn Bình An”. Anh dán một đầu vô cây sắt tròn nhỏ, đầu kia anh dán vô tấm thảm thần rồi cuộn tờ giấy hồng đơn đó lại. Khi con khỉ Abu nắm tấm thảm thần bay, anh sẽ bay thẳng ra phía khán giả và giũ mạnh thì tờ hồng đơn sẽ tự động bung ra, khán giả sẽ đọc được lời chúc Tết của con khỉ Abu.
Khi hát ở rạp hát, sân khấu rộng và có chiều cao hơn 6 thước, kép Tuấn Sĩ đứng trên tấm “thảm thần”, thảm đó được trải trên một tấm ván mỏng, nhẹ, ở giữa tấm ván có hai cái quay bằng thiếc ló lên để cho Tuấn Sĩ xỏ hai chân vô hai cái quay đó như đi guốc. Tuấn Sĩ mặc áo giáp bay, có móc sắt sau lưng móc vô dây kéo cho Tuấn Sĩ bay lên, chân của Tuấn Sĩ xỏ vô móc sắc trên miếng ván như vậy khi anh bay thì anh kéo miếng ván trải tấm thảm bay lên theo. Khán giả sẽ thấy Aladin Tuấn Sĩ đứng trên thảm thần để bay lên hoàng thành gặp Công Chúa. Nghệ sĩ Trường Xuân đóng vai con khỉ Abu, trên lưng cũng có móc dây bay, chạy theo giả vờ nắm tấm thảm thần, khi tấm thảm bay nâng Aladin – Tuấn Sĩ lên thì khỉ Abu cũng được dây bay rút lên, bay theo Aladin Tuấn Sĩ.
Khi hát ở bất cứ rạp hát nào, màn bay của Aladin và con khỉ Abu trên tấm thảm thần cũng được khán giả vỗ tay khen nhiệt liệt.
Hát trong nhà lồng chợ Cái Bè thì màn bay này không thể thực hiện vì chiều cao của mái chợ cách sàn sân khấu chỉ có 3 thước. Chiều rộng của sân khấu được hơn 8 thước nhưng từ mặt tiền sân khấu vô tới trong phông trắng thì chỉ có 3 thước, nếu móc dây bay trên lưng thì khi bay lên 2 thước là đầu của diễn viên sẽ đụng nóc chợ. Tôi là Giám đốc kỷ thuật, sau khi đo kích thước của sân khấu, tôi nói với ông Bầu Cang và kép Tuấn Sĩ là bỏ cái lớp Aladin bay vì nó rất nguy hiểm, nếu kéo dây bay mạnh thì đầu của kép Tuấn Sĩ sẽ chạm vô nóc chợ hay đụng vô mấy cây đà ngang của nóc chợ; Tuấn Sĩ sẽ bể đầu mà chết chớ chẳng phải giỡn chơi. Nếu Aladin không bay thì con khỉ Abu cũng không bay, do đó tôi gặp Trường Xuân để nói cho anh biết là đã bỏ màn bay của Aladin.
Kép Tuấn Sĩ đồng ý bỏ lớp Aladin bay nhưng Trường Xuân thì muốn cầm tấm thảm bay một vòng để lấy tiếng vỗ tay của khán giả. Anh nói là anh cầm tấm thảm, căng ra trên tấm ván rồi anh chạy một vòng trên sân khấu để lấy trớn, anh sẽ phóng thằng ra phía khán giả, anh giũ cho tấm giấy viết lời chúc Tết cho khán giả xem, sau đó thì các anh dàn cảnh kéo dây bay ngược trở vô sân khấu, Trường Xuân nghiêng mình, bay lượn một vòng lớn để rồi bay vô sân khấu, lúc đó thì màn hạ nhanh, anh không bay vút lên thì không sợ đầu đụng vô đà ngang hay nóc chợ.
Gần tới lớp “con khỉ Abu Trường Xuân nắm tấm thảm bay”, tôi còn cố thuyết phục Trưởng Xuân bỏ cái lớp bay này đi nhưng Trường Xuân trấn an tôi là không có gì nguy hiểm vì anh bay vòng, bề cao chỉ cao nửa sân khấu, không thể đụng đầu vô đà ngang trên nóc chợ. Anh bảo tôi ra khán phòng xem, khi nào tôi thấy anh phóng mình ra phía khán giả thì tôi vỗ tay và lớn tiếng khen để làm cò mồi cho khán giả vỗ tay khen theo.
Tôi ra khán phòng, chưa được coi hát thì đã phải ra trước cửa rạp để dàn xếp vụ mấy đứa nhỏ xé dàn bao, chui vô coi hát cọp. Tôi trở vào khán phòng thì đúng lúc đó con khỉ Abu Trường Xuân căng tấm thảm thần, chạy một vòng sân khấu lấy trớn rồi hét lớn “Bay”. Anh phóng mình ra phía khán giả, tôi la lớn: “hay quá” và vỗ tay cuồng nhiệt. Khán giả cũng vỗ tay theo nhưng liền sau đó tôi nghe tiếng thét: “Trời ơi! Chết tôi!”
Trường
Xuân
phóng
mình
ra
phía
khán
giả,
thông
thường
thì
các
anh
dàn
cảnh
kéo
dây
bay,
giựt
ngược
lại
thì
Trường
Xuân
có
trớn
để
bay
lượn
trở
vô
sân
khấu
nhưng
các
anh
dàn
cảnh
nghe
kép
chánh
Tuấn
Sĩ
nói
là
bỏ
bay
nên
không
ai
nắm
giây
bay
để
kéo
lại.
Trường
Xuân
phóng
mình
ra
thì
cắm
đầu
bay
luôn
xuống
hàng
ghế
của
khán
giả
thượng
hạng.
Khán
giả
thấy
Trường
Xuân
từ
trên
sân
khấu
lao
xuống,
họ
sợ,
chạy
né
qua
một
bên.
Trường
Xuân
bay
vô
hàng
ghế
đầu
tiên,
cái
mặt
đập
vô
thành
ghế,
máu
mũi
phun
có
vòi.
Tiếng
nhiều
người
la
ó:
“Bể
đầu
rồi!
Ngất
xỉu
rồi,
đưa
đi
nhà
thương
mau
đi…”
Tôi
chạy
lại
đỡ
Trường
Xuân,
lấy
khăn
tay
đưa
cho
anh
bụm
cái
lỗ
mũi
lại
để
chận
không
cho
máu
ra
nhiều
nữa,
tôi
dìu
anh
ra
trước
cửa
rạp,
kêu
xe
kéo
đưa
anh
đi
nhà
thương
của
quận
Cái
Bè
ở
gần
chợ.
Đêm
hát
tiếp
tục
nhưng
không
có
con
khỉ
Abu.
Cái
mặt
của
Trường
Xuân
được
quấn
băng
trắng
quanh
trán
xuống
tới
miệng,
trông
giống
như
cái
xác
ướp
ở
các
ngôi
mộ
cổ
Ai
Cập.
Ông
Bầu
Cang
la
mắng
mấy
anh
dàn
cảnh,
mấy
anh
dàn
cảnh
thì
nói
tại
kép
chánh
Tuấn
Sĩ
nói
bỏ
bay
rồi
nên
các
anh
không
kéo
dây
bay.
Tuấn
Sĩ
cũng
gấu
ó
lại:
“Tao
nói
bỏ
bay
là
bỏ
phần
của
tao,
còn
có
người
khác
bay
thì
tụi
bây
phải
hỏi
chớ!”
Nghệ
sĩ
Tám
Cao
nói:
“Tại
vì
đêm
30
ngày
cúng
rước
ông
bà
với
Tổ
nghiệp
theo
lệ,
ông
Bầu
nói
gánh
hát
phải
dọn
đi
ngay
xuống
Cái
Bè
để
kịp
hát
Tết,
không
cúng
nên
Tổ
mới
trát
đó!”,
Ông
Bầu
nghe
nói
vậy,
mặc
cảm
là
lỗi
nầy
do
ông
không
cúng
rước
ông
Tổ,
ông
vô
thắp
nhang
xá
xá
trước
bàn
thờ
Tổ
rồi
nói:
“Hát
đình
hát
chợ
thì
thiếu
thốn
đủ
thứ,
nếu
đang
hát
chợ
mà
cúng
Tổ
thì
cũng
cúng
sơ
sài.
Tôi
tính
khi
trở
về
Saigon
rồi
hãy
cúng.
Tổ
hỏng
chịu
thì
ngày
mai
tôi
cúng
một
con
heo
quay.”
Hôm
sau
cúng
Tổ,
mọi
người
trong
đoàn
hát
được
một
bữa
no
say
với
bánh
hỏi
thịt
heo
quay,
nhậu
lai
rai
với
rượu
nếp
Cai
Lậy.
Chỉ
có
Trường
Xuân
ê
hàm
răng,
mặt
mày
băng
bó
không
ăn
uống
được,
cằn
nhằn:
“Ông
Bầu
hỏng
điệu.
Mình
bị
“ắc
xi
đăng
đờ
trà
quay”
mà
ổng
không
bồi
thường,
cũng
không
thưởng!
Ô
là
là!
Mẹt
xà
lù
!…
Ý!
Mà
mình
tuổi
Thân,
đúng
cái
năm
Canh
Thân,
năm
tuổi
lại
đóng
vai
con
khỉ,
té
bể
cái
mặt
là
đúng
số
rồi!
Còn
than
gì
nữa?”
Chuyện
những
nghệ
sĩ
đóng
vai
con
khỉ
còn
nhiều,
nhưng
xin
chuyển
qua
chuyện
vui
trên
đường
lưu
diễn…
Tết
năm
1958
(Mậu
Tuất)
lại
có
nhiều
kỷ
niệm
nhớ
đời!
Đoàn
Thanh
Minh
bán
dàn
cho
bà
chủ
rạp
hát
Trưng
Vương
Đà
Nẵng.
Xuất
hát
đầu
tiên
ở
rạp
hát
Qui
Nhơn
vào
trưa
ngày
mùng
Một
Tết,
nhân
dịp
chánh
quyền
địa
phương
tổ
chức
lễ
hội
Quang
Trung
Nguyễn
Huệ
ở
thành
phố
Qui
Nhơn.
6 giờ sáng ngày 28 âm lịch, tất cả các nghệ sĩ đoàn tập trung tại rạp hát Thành Xương, xe đò chở các nghệ sĩ không có xe hơi riêng và hai xe hàng chở cảnh trí, đồ hội do thầy Bảy Liêm, quản lý hướng dẫn. Xe hơi của các nghệ sĩ Út Trà Ôn, Thành Được – Út Bạch Lan, Hữu Phước, Hoàng Giang, Việt Hùng – Ngọc Nuôi chạy theo xe của bà Bầu do tài xế Năm Địa hướng dẫn.
Xe
của
đoàn
hát
đến
Nha
Trang
vào
lúc
2
giờ
chiều.
Các
nghệ
sĩ
có
xe
hơi
riêng
ngừng
ở
Nha
Trang,
dùng
cơm,
nghỉ
ngơi
một
hai
tiếng
đồng
hồ
rồi
chạy
xe
đến
Qui
Nhơn
sau.
Thầy
Bảy
Liêm,
quản
lý
quyết
định
các
xe
chở
phong
màn,
cảnh
trí
và
xe
đò
chở
nghệ
sĩ
chạy
luôn
đến
Qui
Nhơn
sớm,
để
chưng
dọn
sân
khấu
và
mặt
tiền
rạp
hát
cho
thật
đẹp
đón
Tết.
Đoàn
xe
của
chúng
tôi
ngừng
trước
khi
lên
Đèo
Cả,
các
nghệ
sĩ
được
cho
vô
các
quán
bên
vệ
đường
ăn
uống,
nghỉ
ngơi.
Đào
Lệ
Hoa
cùng
các
vũ
nữ
ngồi
ăn
chung
một
bàn
mười
người.
Tôi
và
các
nhạc
sĩ
tân
cổ
nhạc
ăn
cơm
phần,
Thanh
Hiền,
hề
Kim
Quang
và
anh
Má
Xã
nhạc
sĩ
người
Hoa
(thổi
trompette)
uống
la
ve,
ăn
hột
vịt
lộn,
hột
gà
lộn.
Hai giờ bốn mươi phút, tất cả lên xe chuẩn bị qua Đèo Cả. Anh tài xế và thầy Bảy Liêm quản lý căn dặn tất cả mọi người, khi xe lên đèo hay xuống đèo thì đừng có nói chuyện lớn tiếng, trửng giỡn làm phân tâm ông tài xế. Đây là lần đầu tiên đoàn Thanh Minh đi lưu diễn miền Trung, sẽ còn nhiều ngọn đèo mà đoàn xe phải vượt qua nên ông Quản lý phải dặn dò trước.
Xe ca chở nghệ sĩ lên đèo trước. Nối theo sau là hai xe hàng chở cảnh trí và đồ hội. Xe lên đèo chạy thật chậm. Tiếng máy xe nghe rù rì, rù rì, mọi người im lặng, cảm thấy buồn ngủ. Tôi nghe sau lưng tôi có tiếng hít hà, rồi nghe cô Lệ Hoa, vợ của kép Thanh Hiền nói nhỏ: “Ráng…ráng chút nữa đi. Gần xuống đèo rồi…” Sau đó có nhiều tiếng rên… Đèo Cả không cao lắm, không nhiều dốc lên cao, xuống thấp, không có cua gấp ngoằn ngoèo như đèo Ngoạn Mục, xe chạy êm ru, hỏng lẽ có người chóng mặt muốn ói hay sao?
Xe bắt đầu xuống đèo, mỗi lúc xe chạy một nhanh như tăng thêm tốc độ, có những khúc quanh nếu tài xế không cứng tay lái thì xe có thể bị lao xống hố như chơi. Mọi người nín thở, nhìn hàng cây hai bên đường chạy vùn vụt về phía sau. Tôi bỗng nghe tiếng Thanh Hiền thét lớn, giọng thất thanh: “Dừng lại… Dừng lại… Chắc tui chết quá! chịu hết nổi rồi!”
Thầy
Bảy
Quản
lý
la
lên:”Im!…Im!…Làm
gì
mà
la
vậy?
Xe
đang
đổ
đèo
đó
nghe
mấy
cha!
La
giỡn
kiểu
đó,
tài
xế
giựt
mình
thì…thì…
(ông
không
dám
nói
trắng
ra
vì
sợ
xui
)
Lệ
Hoa:
“Hỏng
phải
giỡn,
anh
Thanh
Hiền
chồng
tôi
chịu
hết
nổi
rồi,
có
thể
nào
ngừng
xe
bên
lề
đường
một
chút
được
hông
?”
–
Không
được!
Xe
đang
đổ
đèo,
mà…
chuyện
gì
vậy?
–
Trời
ơi!
Nói
không
được.
Sắp
đứt
hơi
rồi
nè!
Má
Xã,
nhạc
sĩ
trompette
cũng
phát
la
lớn:
“Không
dừng
xe
lại
thì
ngộ
cũng
xí
á…Tiểu
la
má,
ngộ
chết
dồi…ối
lau
quá
mà…dừng
xe
lại
đi…
Tài
xế
nói:
“Gần
tới
cuối
đèo
rồi,
ai
ngồi
yên
chỗ
đó,
đừng
có
la
nữa,
để
từ
từ
tôi
thắng
xe
lại…”
Ông
tài
xế
nói
như
vậy
để
trấn
an
mọi
người,
chớ
tôi
nhìn
ra
ngoài
và
phía
trước
thì
xe
hơi
vẫn
còn
đổ
đèo
ào
ào,
lúc
này
xe
chạy
thật
mau,
xuống
dốc
đứng
chớ
không
phải
lài
lài
như
hồi
nãy,
nếu
thắng
xe
lại
thì
nguy
hiểm
lắm.
Tiếng
rên
trong
xe
nghe
lớn
hơn,
nhiều
người
hít
hà
chắt
lưỡi
hơn.
Có
người
nghiến
răng
chịu
đựng.
Anh
nhạc
sĩ
Má
Xã
phát
la
lên:
“Tiểu
na
má…
Nị
giết
ngộ
dồi!”
Xe xuống tới cuối dốc đèo, anh tài xế từ từ đạp thắng xe, tiếng bánh xe thắng kêu rít thật lớn trên mặt đường nhựa. Xe dừng. Tài xế giận dỗi: “Xe ngừng rồi đó mấy ông nội. Sao? Có chuyện gì mà la bài hãi vậy, hả? Ai muốn xuống xe thì xuống đi!”
Thanh
Hiền
trả
lời
xui
xị:
“Thôi…
Rồi…
rồi!..”
Thầy
Bảy
Liêm
đổ
quạu:
“Cái
gì
rồi?
Xe
đổ
đèo
mà
la
giỡn
kiểu
đó
là
chết
nát
xương
nghe
mấy
cha!
–
Ai
mà
giỡn?
Một
quần
đây
nè
…
Thanh
Hiền
nói
xong,
bụm
quần
đứng
lên,
chạy
một
mạch
xuống
bãi
biển
Đại
Lãnh,
nhào
trầm
mình
trong
nước
biển.
Anh
nhạc
sĩ
Má
Xã
cũng
bụm
quần
chạy
theo
Thanh
Hiền…
Hề
Kim
Quang
và
vài
anh
nữa
cũng
chạy
theo
Thanh
Hiền
để
xuống
biển
giặt
quần
sau
khi
họ
chịu
không
nỗi,
phải
xổ
cái
của
nợ
trong
quần
ngay
trong
lúc
xe
đang
đổ
đèo
vì
ban
chiều
họ
ăn
hột
vịt
lộn
thiu
nên
bị
nó
phá
bụng.
Trong xe một mùi không lấy gì thơm khiến cho mọi người phải xuống xe hết, đi ra xa xa để cho đỡ khổ. Các anh bạn làm xấu trên xe tỏ ra tự giác, họ mượn thùng múc nước của anh tài xế, xuống biển múc nước biển lên rửa các băng ghế cho sạch sẽ lại. Cô Lệ Hoa lấy trong bóp ra chai dầu thơm thường dùng của cô, xịt xịt các băng ghế cho nó thơm thơm, tẩy đi bớt cái mùi của chồng cô vừa vãi ra trên ghế xe.
Xe tiếp tục lên đường, anh em nói chuyện ồn ào, vui vẻ như là mới làm được một chuyện gì phi thường để tránh được một tai nạn chết người. Về tới Qui Nhơn, không ai muốn nhắc lại chuyện vừa xảy ra trong chuyến xe hơi đổ đèo nhưng rồi không hiểu tại sao bà Bầu cũng biết chuyện đó, bà bảo thầy Bảy Liêm trả thêm tiền xe cho ông tài xế để ông rửa xe. Bà hỏi các anh em bị phá bụng đó có cần thuốc gì thì thầy Bảy Liêm, quản lý của đoàn ra pharmacie mua cho, kẻo ngày mai mùng Một Tết, không có tiệm nào mở cửa bán.
Thật là một kỷ niệm khó quên trong chuyến đoàn hát đi lưu diễn lần đầu tiên ở miền Trung.
Lưu
lạc
tha
phương,
Tết
xứ
người,
Màn
nhung
rực
sáng,
chỉ
trong
mơ,
Đào
sâu
nỗi
nhớ,
tìm
sân
khấu,
Chợt
ngẫm
ra
mình
quá
chín
mươi.
Tôi bâng khuâng nhớ mãi về những cái Tết ở quê nhà, những cái Tết vui dưới ánh đèn sân khấu, những hình ảnh, những tình tự quê hương vẫn ngời sáng một cách thiêng liêng trong tâm hồn của kẻ bị bắt buộc phải xa quê hương.
Thêm một mùa xuân biệt xứ!
Nguyễn
Phương
2016