Giữ hồn cổ nhạc
- Thứ hai - 15/04/2013 09:37
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Hát chèo ở chợ đêm phố cổ
Đã hơn nửa thế kỷ đất nước ta thực hiện công cuộc bảo tồn và phát triển văn hóa nghệ thuật truyền thống theo phương châm khoa học hóa, hiện đại hóa để hội nhập với thời đại. Gần đây, sau những sự kiện các di sản âm nhạc cổ truyền được đề nghị tôn vinh là di sản văn hóa thế giới, người ta mới nhìn lại toàn cảnh bức tranh âm nhạc dân tộc và giật mình thấy rằng nhiều giá trị tốt đẹp, nhiều bản sắc quý giá đã bị thất truyền...
Đâu
rồi
những
giá
trị
kinh
điển?
Có lẽ chưa bao giờ người ta nhắc nhiều đến vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc như hiện nay. Trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng, ở tất cả các cuộc hội thảo tọa đàm đều thấy xuất hiện ngày càng nhiều những tiếng kêu cứu trước thực trạng một số loại hình văn hóa truyền thống đang rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Ở mọi phương diện của văn hóa nghệ thuật, các giá trị hiện đại phương Tây đang tràn ngập và lấn lướt, thậm chí đè bẹp một số giá trị truyền thống dân tộc.
Trong bối cảnh đó, các loại hình âm nhạc cổ truyền dân tộc cũng không tránh khỏi sự mất mát của riêng mình. Nhiều vốn liếng tinh hoa của âm nhạc truyền thống đã đội nón ra đi theo các nghệ nhân về nơi đất lạnh. Một số loại hình thì bị đứt đoạn, sự tồn tại hiện nay chỉ còn là những mảnh vỡ. Một số khác lại đang được phát huy, phát triển theo cái cách mà dù không nói ra song nhiều nhà hoạt động văn hóa nghệ thuật cho rằng hoặc rất xa rời với nguyên gốc hoặc thụt lùi, đi xuống.
Nhạc sĩ Đặng Hoành
Loan ,
nguyên
Viện
trưởng
Viện
Âm
nhạc
Việt
Nam
kể:
Ngót
8
năm
trước,
Viện
Âm
nhạc
tiến
hành
một
cuộc
điền
dã
sưu
tầm
chèo
Khuốc
và
chèo
Sáo
đền
ở
Thái
Bình,
những
mong
cố
gắng
giữ
lại
được
đôi
ba
“mảnh
vỡ”
của
chèo
cổ
“xịn”
làm
vật
chứng
cho
một
quá
khứ
sáng
tạo
với
những
thành
công
lớn
lao
của
ngành
sân
khấu
dân
gian.
Thật
tiếc
lần
ấy,
Viện
Âm
nhạc
chỉ
thu
lượm
được
3
mảng
chèo
bao
gồm:
Múa
đèn
đeo
vai;
Múa
tắm
tiên;
Hề
canh
điếm.
Phần
lớn
di
sản
cổ
chèo
còn
lại
đều
đã
bị
“trung
ương
hóa”,
bị
“kịch
bản
và
đạo
diễn
hóa”
cả
rồi.
Quả thật, tìm lại các vở diễn của Nhà hát Chèo Trung ương từ khi thành lập cho đến nay chỉ thấy có một vở do các nghệ nhân làng chèo tự dựng, đó là vở Quan Âm - Thị Kính, kịch bản do cụ Trần Huyền Trân chỉnh lý. Còn lại tất tần tật các vở như: Lưu Bình Dương Lễ, Súy Vân (tên cổ là Kim Nham), Trinh Nguyên, Đôi ngọc truyền kỳ (tên cổ là Trương viên), Từ Thức... đều có tên người làm kịch bản, người đạo diễn, người viết nhạc, người làm mỹ thuật. “Chèo nhà hát” ngày nay đã khác chèo sân đình xưa rất nhiều, không còn là sân khấu ứng diễn giữa khán giả và nghệ nhân nữa mà đã trở thành sân khấu của tác giả kịch bản và đạo diễn. Không còn tính truyền miệng và lối trình diễn ngẫu hứng như nó vốn có tự thưở nào.
Đành rằng trong thời đại mới, cần phải cải biên, cải tiến, phát triển cho phù hợp. Đành rằng sự cải biên, cải tiến, phát triển ấy cũng có nhiều mặt tốt. Song điều này cũng khiến cho những người có tấm lòng với âm nhạc cổ truyền dân tộc cảm thấy mất mát và tiếc nuối. Người ta ước gì lối diễn ngày xưa vẫn được lưu giữ: Hát chèo không có phông cảnh, không có bài trí, không có mở màn hạ màn gì hết. Đào kép cứ tuần tự từ trong buồng trò vén màn ra hát. Khán giả thuộc lòng tuồng tích nên thấy vai nào ra là biết ngay vai gì, hiểu ngay đã đổi màn đổi cảnh... Có như vậy con cháu ngày nay mới có thể hiểu được những sáng tạo của cha ông trong trường kỳ lịch sử vĩ đại như thế nào.
Sự đứt đoạn truyền thống tương tự cũng diễn ra trong các ngành tuồng, cải lương, ca trù, hát xẩm... Kết quả bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống của các loại hình này ở thế hệ tiếp nối được các nhà chuyên môn đánh giá là suy giảm cả về chất và lượng. Nhiều nghệ sĩ tuồng bây giờ không biết đọc bản cổ nhạc theo hệ thống Hò - Xự - Xang - Cống - Xế... mà chỉ biết hệ thống ký âm pháp hiện đại. Phong cách nghệ thuật tuồng Bắc (vốn được coi là cổ hơn tuồng Nam) đã tan vỡ, cũng chỉ còn lại vài mảnh vụn. Hàng trăm vở tuồng cổ với nhiều dạng thức khác nhau đã một đi không trở lại. Nghệ sĩ tuồng bây giờ thuộc rất ít các pho diễn cổ...
Một buổi tập hát chèo
Lối “kịch bản và đạo diễn hóa”, “văn công hóa” còn ăn sâu vào các làn điệu dân ca, các hình thức diễn xướng dân gian khác. Xin đơn cử thể loại hát quan họ. Ngoài lối hát cổ (hát đôi, có giọng chính, giọng luồn với các kỹ thuật vang, rền, nền, nảy, không có nhạc cụ đệm và sinh hoạt theo canh hát) của các cụ được tiếp nối bởi một số ít những người đứng tuổi, gọi là “quan họ làng”, hiện nay còn có “quan họ đài”, “quan họ đoàn” với một lối hát khác mang tính trình diễn sân khấu nhiều hơn (hát đơn từng tiết mục và có nhạc đệm). Mà hình thức hát kiểu mới này chính là hình thức đang được truyền bá rộng rãi và được nhiều người biết đến. Những sự biến tấu, biến dạng như vậy diễn ra hằng ngày kéo theo nhiều giá trị kinh điển, cổ truyền cứ dần dần bị lấn lướt, bị mai một đi và một lúc nào đó sẽ hoàn toàn thất truyền.
“Cách tân phải hợp lý”
Ứng xử thế nào với âm nhạc cổ truyền trong xu hướng toàn cầu hóa? Đó là câu hỏi khó đối với những người làm quản lý văn hóa. Đến nay, vẫn tồn tại nhiều luồng ý kiến trái chiều về vấn đề này. Phái chủ trương kế thừa cho rằng: Sự biến đổi truyền thống là hợp lý. Nếu truyền thống gắn được với nhu cầu của xã hội thì truyền thống sẽ tồn tại, bằng không sẽ mất đi. Dẫn chứng là sự thành công của các dàn nhạc dân tộc kiểu mới ở Trung Quốc hay sự kết hợp dàn nhạc truyền thống Okinawa của Nhật và dàn nhạc hiện đại của Mỹ. Còn những người theo quan điểm bảo tồn thì trái lại, nhất định muốn giữ nguyên trạng những giá trị âm nhạc cổ mà cha ông để lại. Thậm chí không ít người còn gay gắt kết án mọi sự pha trộn truyền thống - hiện đại thiếu cẩn trọng đều là “đánh mất bản sắc dân tộc của mình một cách thiển cận”.
Theo nhạc sĩ Đặng Hoành Loan: Nghệ thuật của quá khứ đã trải qua bao thăng trầm còn tồn tại đến ngày nay là thứ nghệ thuật đã đạt đến đỉnh cao. Và đó là di sản văn hóa của cả quốc gia chứ không chỉ riêng vùng miền nào. Trách nhiệm của con người, của xã hội hiện đại là phải bảo vệ nó. Tuy nhiên, xu hướng cải tiến, cách tân các loại hình nghệ thuật truyền thống hiện nay là một xu hướng tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu của con người trong thời đại mới. Thực tế là một số cải tiến, cách tân đã hấp dẫn được khán giả đồng thời vẫn chuyển tải được những câu chuyện đương thời vào đó. Chúng ta có thể thay đổi sân khấu nhưng vẫn giữ nguyên những vai diễn và mảng diễn của các nghệ nhân. Chúng ta cũng hoàn toàn có thể khôi phục lại những vở chèo, tuồng, những điệu hát cổ nhưng là dưới con mắt đương đại và ánh đèn đương đại...
Tất cả những điều này đòi hỏi một tầm nhìn vĩ mô của các nhà quản lý văn hóa, làm công tác văn hóa. Nếu nhất thiết phải cải tiến, phải cách tân thì cần có sự chọn lọc khắt khe cải tiến chỗ nào, cách tân những gì sao cho dung hòa, cân xứng cả truyền thống và hiện đại đồng thời vẫn bảo tồn được một cách đầy đủ nhất ở mức có thể những tinh hoa vốn cổ. Chỉ có như vậy chúng ta mới có cơ sở để tin rằng nền âm nhạc Việt Nam sẽ trường tồn và phát triển, sẽ hòa nhập mà không hòa tan.
Có lẽ chưa bao giờ người ta nhắc nhiều đến vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc như hiện nay. Trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng, ở tất cả các cuộc hội thảo tọa đàm đều thấy xuất hiện ngày càng nhiều những tiếng kêu cứu trước thực trạng một số loại hình văn hóa truyền thống đang rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Ở mọi phương diện của văn hóa nghệ thuật, các giá trị hiện đại phương Tây đang tràn ngập và lấn lướt, thậm chí đè bẹp một số giá trị truyền thống dân tộc.
Trong bối cảnh đó, các loại hình âm nhạc cổ truyền dân tộc cũng không tránh khỏi sự mất mát của riêng mình. Nhiều vốn liếng tinh hoa của âm nhạc truyền thống đã đội nón ra đi theo các nghệ nhân về nơi đất lạnh. Một số loại hình thì bị đứt đoạn, sự tồn tại hiện nay chỉ còn là những mảnh vỡ. Một số khác lại đang được phát huy, phát triển theo cái cách mà dù không nói ra song nhiều nhà hoạt động văn hóa nghệ thuật cho rằng hoặc rất xa rời với nguyên gốc hoặc thụt lùi, đi xuống.
Nhạc sĩ Đặng Hoành
Quả thật, tìm lại các vở diễn của Nhà hát Chèo Trung ương từ khi thành lập cho đến nay chỉ thấy có một vở do các nghệ nhân làng chèo tự dựng, đó là vở Quan Âm - Thị Kính, kịch bản do cụ Trần Huyền Trân chỉnh lý. Còn lại tất tần tật các vở như: Lưu Bình Dương Lễ, Súy Vân (tên cổ là Kim Nham), Trinh Nguyên, Đôi ngọc truyền kỳ (tên cổ là Trương viên), Từ Thức... đều có tên người làm kịch bản, người đạo diễn, người viết nhạc, người làm mỹ thuật. “Chèo nhà hát” ngày nay đã khác chèo sân đình xưa rất nhiều, không còn là sân khấu ứng diễn giữa khán giả và nghệ nhân nữa mà đã trở thành sân khấu của tác giả kịch bản và đạo diễn. Không còn tính truyền miệng và lối trình diễn ngẫu hứng như nó vốn có tự thưở nào.
Đành rằng trong thời đại mới, cần phải cải biên, cải tiến, phát triển cho phù hợp. Đành rằng sự cải biên, cải tiến, phát triển ấy cũng có nhiều mặt tốt. Song điều này cũng khiến cho những người có tấm lòng với âm nhạc cổ truyền dân tộc cảm thấy mất mát và tiếc nuối. Người ta ước gì lối diễn ngày xưa vẫn được lưu giữ: Hát chèo không có phông cảnh, không có bài trí, không có mở màn hạ màn gì hết. Đào kép cứ tuần tự từ trong buồng trò vén màn ra hát. Khán giả thuộc lòng tuồng tích nên thấy vai nào ra là biết ngay vai gì, hiểu ngay đã đổi màn đổi cảnh... Có như vậy con cháu ngày nay mới có thể hiểu được những sáng tạo của cha ông trong trường kỳ lịch sử vĩ đại như thế nào.
Sự đứt đoạn truyền thống tương tự cũng diễn ra trong các ngành tuồng, cải lương, ca trù, hát xẩm... Kết quả bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống của các loại hình này ở thế hệ tiếp nối được các nhà chuyên môn đánh giá là suy giảm cả về chất và lượng. Nhiều nghệ sĩ tuồng bây giờ không biết đọc bản cổ nhạc theo hệ thống Hò - Xự - Xang - Cống - Xế... mà chỉ biết hệ thống ký âm pháp hiện đại. Phong cách nghệ thuật tuồng Bắc (vốn được coi là cổ hơn tuồng Nam) đã tan vỡ, cũng chỉ còn lại vài mảnh vụn. Hàng trăm vở tuồng cổ với nhiều dạng thức khác nhau đã một đi không trở lại. Nghệ sĩ tuồng bây giờ thuộc rất ít các pho diễn cổ...
Một buổi tập hát chèo
Lối “kịch bản và đạo diễn hóa”, “văn công hóa” còn ăn sâu vào các làn điệu dân ca, các hình thức diễn xướng dân gian khác. Xin đơn cử thể loại hát quan họ. Ngoài lối hát cổ (hát đôi, có giọng chính, giọng luồn với các kỹ thuật vang, rền, nền, nảy, không có nhạc cụ đệm và sinh hoạt theo canh hát) của các cụ được tiếp nối bởi một số ít những người đứng tuổi, gọi là “quan họ làng”, hiện nay còn có “quan họ đài”, “quan họ đoàn” với một lối hát khác mang tính trình diễn sân khấu nhiều hơn (hát đơn từng tiết mục và có nhạc đệm). Mà hình thức hát kiểu mới này chính là hình thức đang được truyền bá rộng rãi và được nhiều người biết đến. Những sự biến tấu, biến dạng như vậy diễn ra hằng ngày kéo theo nhiều giá trị kinh điển, cổ truyền cứ dần dần bị lấn lướt, bị mai một đi và một lúc nào đó sẽ hoàn toàn thất truyền.
“Cách tân phải hợp lý”
Ứng xử thế nào với âm nhạc cổ truyền trong xu hướng toàn cầu hóa? Đó là câu hỏi khó đối với những người làm quản lý văn hóa. Đến nay, vẫn tồn tại nhiều luồng ý kiến trái chiều về vấn đề này. Phái chủ trương kế thừa cho rằng: Sự biến đổi truyền thống là hợp lý. Nếu truyền thống gắn được với nhu cầu của xã hội thì truyền thống sẽ tồn tại, bằng không sẽ mất đi. Dẫn chứng là sự thành công của các dàn nhạc dân tộc kiểu mới ở Trung Quốc hay sự kết hợp dàn nhạc truyền thống Okinawa của Nhật và dàn nhạc hiện đại của Mỹ. Còn những người theo quan điểm bảo tồn thì trái lại, nhất định muốn giữ nguyên trạng những giá trị âm nhạc cổ mà cha ông để lại. Thậm chí không ít người còn gay gắt kết án mọi sự pha trộn truyền thống - hiện đại thiếu cẩn trọng đều là “đánh mất bản sắc dân tộc của mình một cách thiển cận”.
Theo nhạc sĩ Đặng Hoành Loan: Nghệ thuật của quá khứ đã trải qua bao thăng trầm còn tồn tại đến ngày nay là thứ nghệ thuật đã đạt đến đỉnh cao. Và đó là di sản văn hóa của cả quốc gia chứ không chỉ riêng vùng miền nào. Trách nhiệm của con người, của xã hội hiện đại là phải bảo vệ nó. Tuy nhiên, xu hướng cải tiến, cách tân các loại hình nghệ thuật truyền thống hiện nay là một xu hướng tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu của con người trong thời đại mới. Thực tế là một số cải tiến, cách tân đã hấp dẫn được khán giả đồng thời vẫn chuyển tải được những câu chuyện đương thời vào đó. Chúng ta có thể thay đổi sân khấu nhưng vẫn giữ nguyên những vai diễn và mảng diễn của các nghệ nhân. Chúng ta cũng hoàn toàn có thể khôi phục lại những vở chèo, tuồng, những điệu hát cổ nhưng là dưới con mắt đương đại và ánh đèn đương đại...
Tất cả những điều này đòi hỏi một tầm nhìn vĩ mô của các nhà quản lý văn hóa, làm công tác văn hóa. Nếu nhất thiết phải cải tiến, phải cách tân thì cần có sự chọn lọc khắt khe cải tiến chỗ nào, cách tân những gì sao cho dung hòa, cân xứng cả truyền thống và hiện đại đồng thời vẫn bảo tồn được một cách đầy đủ nhất ở mức có thể những tinh hoa vốn cổ. Chỉ có như vậy chúng ta mới có cơ sở để tin rằng nền âm nhạc Việt Nam sẽ trường tồn và phát triển, sẽ hòa nhập mà không hòa tan.