Hát
chèo
ở
chợ
đêm
phố
cổ
Đã
hơn
nửa
thế
kỷ
đất
nước
ta
thực
hiện
công
cuộc
bảo
tồn
và
phát
triển
văn
hóa
nghệ
thuật
truyền
thống
theo
phương
châm
khoa
học
hóa,
hiện
đại
hóa
để
hội
nhập
với
thời
đại.
Gần
đây,
sau
những
sự
kiện
các
di
sản
âm
nhạc
cổ
truyền
được
đề
nghị
tôn
vinh
là
di
sản
văn
hóa
thế
giới,
người
ta
mới
nhìn
lại
toàn
cảnh
bức
tranh
âm
nhạc
dân
tộc
và
giật
mình
thấy
rằng
nhiều
giá
trị
tốt
đẹp,
nhiều
bản
sắc
quý
giá
đã
bị
thất
truyền...
Đâu
rồi
những
giá
trị
kinh
điển?
Có
lẽ
chưa
bao
giờ
người
ta
nhắc
nhiều
đến
vấn
đề
giữ
gìn
bản
sắc
văn
hóa
dân
tộc
như
hiện
nay.
Trên
tất
cả
các
phương
tiện
thông
tin
đại
chúng,
ở
tất
cả
các
cuộc
hội
thảo
tọa
đàm
đều
thấy
xuất
hiện
ngày
càng
nhiều
những
tiếng
kêu
cứu
trước
thực
trạng
một
số
loại
hình
văn
hóa
truyền
thống
đang
rơi
vào
khủng
hoảng
trầm
trọng.
Ở
mọi
phương
diện
của
văn
hóa
nghệ
thuật,
các
giá
trị
hiện
đại
phương
Tây
đang
tràn
ngập
và
lấn
lướt,
thậm
chí
đè
bẹp
một
số
giá
trị
truyền
thống
dân
tộc.
Trong
bối
cảnh
đó,
các
loại
hình
âm
nhạc
cổ
truyền
dân
tộc
cũng
không
tránh
khỏi
sự
mất
mát
của
riêng
mình.
Nhiều
vốn
liếng
tinh
hoa
của
âm
nhạc
truyền
thống
đã
đội
nón
ra
đi
theo
các
nghệ
nhân
về
nơi
đất
lạnh.
Một
số
loại
hình
thì
bị
đứt
đoạn,
sự
tồn
tại
hiện
nay
chỉ
còn
là
những
mảnh
vỡ.
Một
số
khác
lại
đang
được
phát
huy,
phát
triển
theo
cái
cách
mà
dù
không
nói
ra
song
nhiều
nhà
hoạt
động
văn
hóa
nghệ
thuật
cho
rằng
hoặc
rất
xa
rời
với
nguyên
gốc
hoặc
thụt
lùi,
đi
xuống.
Nhạc
sĩ
Đặng
Hoành
Loan,
nguyên
Viện
trưởng
Viện
Âm
nhạc
Việt
Nam
kể:
Ngót
8
năm
trước,
Viện
Âm
nhạc
tiến
hành
một
cuộc
điền
dã
sưu
tầm
chèo
Khuốc
và
chèo
Sáo
đền
ở
Thái
Bình,
những
mong
cố
gắng
giữ
lại
được
đôi
ba
“mảnh
vỡ”
của
chèo
cổ
“xịn”
làm
vật
chứng
cho
một
quá
khứ
sáng
tạo
với
những
thành
công
lớn
lao
của
ngành
sân
khấu
dân
gian.
Thật
tiếc
lần
ấy,
Viện
Âm
nhạc
chỉ
thu
lượm
được
3
mảng
chèo
bao
gồm:
Múa
đèn
đeo
vai;
Múa
tắm
tiên;
Hề
canh
điếm.
Phần
lớn
di
sản
cổ
chèo
còn
lại
đều
đã
bị
“trung
ương
hóa”,
bị
“kịch
bản
và
đạo
diễn
hóa”
cả
rồi.
Quả
thật,
tìm
lại
các
vở
diễn
của
Nhà
hát
Chèo
Trung
ương
từ
khi
thành
lập
cho
đến
nay
chỉ
thấy
có
một
vở
do
các
nghệ
nhân
làng
chèo
tự
dựng,
đó
là
vở
Quan
Âm
-
Thị
Kính,
kịch
bản
do
cụ
Trần
Huyền
Trân
chỉnh
lý.
Còn
lại
tất
tần
tật
các
vở
như:
Lưu
Bình
Dương
Lễ,
Súy
Vân
(tên
cổ
là
Kim
Nham),
Trinh
Nguyên,
Đôi
ngọc
truyền
kỳ
(tên
cổ
là
Trương
viên),
Từ
Thức...
đều
có
tên
người
làm
kịch
bản,
người
đạo
diễn,
người
viết
nhạc,
người
làm
mỹ
thuật.
“Chèo
nhà
hát”
ngày
nay
đã
khác
chèo
sân
đình
xưa
rất
nhiều,
không
còn
là
sân
khấu
ứng
diễn
giữa
khán
giả
và
nghệ
nhân
nữa
mà
đã
trở
thành
sân
khấu
của
tác
giả
kịch
bản
và
đạo
diễn.
Không
còn
tính
truyền
miệng
và
lối
trình
diễn
ngẫu
hứng
như
nó
vốn
có
tự
thưở
nào.
Đành
rằng
trong
thời
đại
mới,
cần
phải
cải
biên,
cải
tiến,
phát
triển
cho
phù
hợp.
Đành
rằng
sự
cải
biên,
cải
tiến,
phát
triển
ấy
cũng
có
nhiều
mặt
tốt.
Song
điều
này
cũng
khiến
cho
những
người
có
tấm
lòng
với
âm
nhạc
cổ
truyền
dân
tộc
cảm
thấy
mất
mát
và
tiếc
nuối.
Người
ta
ước
gì
lối
diễn
ngày
xưa
vẫn
được
lưu
giữ:
Hát
chèo
không
có
phông
cảnh,
không
có
bài
trí,
không
có
mở
màn
hạ
màn
gì
hết.
Đào
kép
cứ
tuần
tự
từ
trong
buồng
trò
vén
màn
ra
hát.
Khán
giả
thuộc
lòng
tuồng
tích
nên
thấy
vai
nào
ra
là
biết
ngay
vai
gì,
hiểu
ngay
đã
đổi
màn
đổi
cảnh...
Có
như
vậy
con
cháu
ngày
nay
mới
có
thể
hiểu
được
những
sáng
tạo
của
cha
ông
trong
trường
kỳ
lịch
sử
vĩ
đại
như
thế
nào.
Sự
đứt
đoạn
truyền
thống
tương
tự
cũng
diễn
ra
trong
các
ngành
tuồng,
cải
lương,
ca
trù,
hát
xẩm...
Kết
quả
bảo
tồn
và
phát
huy
giá
trị
truyền
thống
của
các
loại
hình
này
ở
thế
hệ
tiếp
nối
được
các
nhà
chuyên
môn
đánh
giá
là
suy
giảm
cả
về
chất
và
lượng.
Nhiều
nghệ
sĩ
tuồng
bây
giờ
không
biết
đọc
bản
cổ
nhạc
theo
hệ
thống
Hò
-
Xự
-
Xang
-
Cống
-
Xế...
mà
chỉ
biết
hệ
thống
ký
âm
pháp
hiện
đại.
Phong
cách
nghệ
thuật
tuồng
Bắc
(vốn
được
coi
là
cổ
hơn
tuồng
Nam)
đã
tan
vỡ,
cũng
chỉ
còn
lại
vài
mảnh
vụn.
Hàng
trăm
vở
tuồng
cổ
với
nhiều
dạng
thức
khác
nhau
đã
một
đi
không
trở
lại.
Nghệ
sĩ
tuồng
bây
giờ
thuộc
rất
ít
các
pho
diễn
cổ...
Một
buổi
tập
hát
chèo
Lối
“kịch
bản
và
đạo
diễn
hóa”,
“văn
công
hóa”
còn
ăn
sâu
vào
các
làn
điệu
dân
ca,
các
hình
thức
diễn
xướng
dân
gian
khác.
Xin
đơn
cử
thể
loại
hát
quan
họ.
Ngoài
lối
hát
cổ
(hát
đôi,
có
giọng
chính,
giọng
luồn
với
các
kỹ
thuật
vang,
rền,
nền,
nảy,
không
có
nhạc
cụ
đệm
và
sinh
hoạt
theo
canh
hát)
của
các
cụ
được
tiếp
nối
bởi
một
số
ít
những
người
đứng
tuổi,
gọi
là
“quan
họ
làng”,
hiện
nay
còn
có
“quan
họ
đài”,
“quan
họ
đoàn”
với
một
lối
hát
khác
mang
tính
trình
diễn
sân
khấu
nhiều
hơn
(hát
đơn
từng
tiết
mục
và
có
nhạc
đệm).
Mà
hình
thức
hát
kiểu
mới
này
chính
là
hình
thức
đang
được
truyền
bá
rộng
rãi
và
được
nhiều
người
biết
đến.
Những
sự
biến
tấu,
biến
dạng
như
vậy
diễn
ra
hằng
ngày
kéo
theo
nhiều
giá
trị
kinh
điển,
cổ
truyền
cứ
dần
dần
bị
lấn
lướt,
bị
mai
một
đi
và
một
lúc
nào
đó
sẽ
hoàn
toàn
thất
truyền.
“Cách
tân
phải
hợp
lý”
Ứng
xử
thế
nào
với
âm
nhạc
cổ
truyền
trong
xu
hướng
toàn
cầu
hóa?
Đó
là
câu
hỏi
khó
đối
với
những
người
làm
quản
lý
văn
hóa.
Đến
nay,
vẫn
tồn
tại
nhiều
luồng
ý
kiến
trái
chiều
về
vấn
đề
này.
Phái
chủ
trương
kế
thừa
cho
rằng:
Sự
biến
đổi
truyền
thống
là
hợp
lý.
Nếu
truyền
thống
gắn
được
với
nhu
cầu
của
xã
hội
thì
truyền
thống
sẽ
tồn
tại,
bằng
không
sẽ
mất
đi.
Dẫn
chứng
là
sự
thành
công
của
các
dàn
nhạc
dân
tộc
kiểu
mới
ở
Trung
Quốc
hay
sự
kết
hợp
dàn
nhạc
truyền
thống
Okinawa
của
Nhật
và
dàn
nhạc
hiện
đại
của
Mỹ.
Còn
những
người
theo
quan
điểm
bảo
tồn
thì
trái
lại,
nhất
định
muốn
giữ
nguyên
trạng
những
giá
trị
âm
nhạc
cổ
mà
cha
ông
để
lại.
Thậm
chí
không
ít
người
còn
gay
gắt
kết
án
mọi
sự
pha
trộn
truyền
thống
-
hiện
đại
thiếu
cẩn
trọng
đều
là
“đánh
mất
bản
sắc
dân
tộc
của
mình
một
cách
thiển
cận”.
Theo
nhạc
sĩ
Đặng
Hoành
Loan:
Nghệ
thuật
của
quá
khứ
đã
trải
qua
bao
thăng
trầm
còn
tồn
tại
đến
ngày
nay
là
thứ
nghệ
thuật
đã
đạt
đến
đỉnh
cao.
Và
đó
là
di
sản
văn
hóa
của
cả
quốc
gia
chứ
không
chỉ
riêng
vùng
miền
nào.
Trách
nhiệm
của
con
người,
của
xã
hội
hiện
đại
là
phải
bảo
vệ
nó.
Tuy
nhiên,
xu
hướng
cải
tiến,
cách
tân
các
loại
hình
nghệ
thuật
truyền
thống
hiện
nay
là
một
xu
hướng
tất
yếu
nhằm
đáp
ứng
nhu
cầu
của
con
người
trong
thời
đại
mới.
Thực
tế
là
một
số
cải
tiến,
cách
tân
đã
hấp
dẫn
được
khán
giả
đồng
thời
vẫn
chuyển
tải
được
những
câu
chuyện
đương
thời
vào
đó.
Chúng
ta
có
thể
thay
đổi
sân
khấu
nhưng
vẫn
giữ
nguyên
những
vai
diễn
và
mảng
diễn
của
các
nghệ
nhân.
Chúng
ta
cũng
hoàn
toàn
có
thể
khôi
phục
lại
những
vở
chèo,
tuồng,
những
điệu
hát
cổ
nhưng
là
dưới
con
mắt
đương
đại
và
ánh
đèn
đương
đại...
Tất
cả
những
điều
này
đòi
hỏi
một
tầm
nhìn
vĩ
mô
của
các
nhà
quản
lý
văn
hóa,
làm
công
tác
văn
hóa.
Nếu
nhất
thiết
phải
cải
tiến,
phải
cách
tân
thì
cần
có
sự
chọn
lọc
khắt
khe
cải
tiến
chỗ
nào,
cách
tân
những
gì
sao
cho
dung
hòa,
cân
xứng
cả
truyền
thống
và
hiện
đại
đồng
thời
vẫn
bảo
tồn
được
một
cách
đầy
đủ
nhất
ở
mức
có
thể
những
tinh
hoa
vốn
cổ.
Chỉ
có
như
vậy
chúng
ta
mới
có
cơ
sở
để
tin
rằng
nền
âm
nhạc
Việt
Nam
sẽ
trường
tồn
và
phát
triển,
sẽ
hòa
nhập
mà
không
hòa
tan.
Ý kiến bạn đọc