Nghệ
sĩ
Minh
Cảnh
gây
bất
ngờ
khi
xuất
hiện
với
vóc
dáng
phong
độ
ở
tuổi
U.90.
Ông
vẫn
thỉnh
thoảng
đi
hát,
sống
cuộc
sống
bình
yên
ở
xứ
cờ
hoa.
Xem
tiếp...
Nữ
nghệ
sĩ
Bạch
Tuyết
Hồi
nhỏ
tôi
lên
tỉnh
học
tôi
rất
sợ
thố
lộ
là
mình
mê
cải
lương,
vì
sợ
bọn
học
trò
thành
thịnó
cứ
xúm
lại
chê
mình
“quê”
thì
kì
lắm.
Nhưng
sau
này
tôi
thấy
có
gì
đâu
mà
phải
quê
với
không
quê,
bởi
vì
mình
xuất
thân
từ
nhà
quê
mà!
Phải
tự
hào
là
dân
nhà
quê
mới
đúng
chứ.
Do
đó,
khi
lên
lớp
đệ
nhất
hay
đệ
nhị
(tức
là
lớp
11
hay
12
bây
giờ)
tôi
không
còn
dấu
diếm
là
mình
thích
nghe
cải
lương.
Theo
tôi
cải
lương
mới
chính
là
linh
hồn
của
dân
tộc,
là
nghệ
thuật
của
Việt
Nam;
còn
tân
nhạc
thì
mình
chỉ
bắt
chước
Tây
thôi,
đâu
phải
của
mình.
Mà,
đã
bắt
chước
người
thì
không
thể
nào
bằng
người
được.
Nhạc
sĩ
Phạm
Duy
có
một
câu
nhạc
rất
hay:
Tôi
yêu
tiếng
nước
tôi
từ
khi
mới
ra
đời
/
Mẹ
hiền
ru
những
câu
xa
vời
(Tình
ca).
Cái
“tiếng
nước
tôi
từ
khi
mới
ra
đời”
với
tôi
chính
là
những
làn
điệu
vọng
cổ
đã
có
mặt
và
tồn
tại
ở
miền
Nam
từ
hơn
100
năm
qua
[1].
Những
làn
điệu
vọng
cổ
như
lời
hát
ru
của
mẹ,
đã
đi
vào
tâm
tưởng
tôi
một
cách
tự
nhiên
như
tiếng
nói,
hơi
thở,
và
trở
thành
hành
trang
tinh
thần
cho
tôi
cả
50
năm
nay
(và
chắc
chắn
trong
quãng
đời
còn
lại).
Như
cá
sống
trong
nước,
khi
không
có
nước
mới
biết
nước
là
cực
kì
cần
thiết
cho
sự
sống
của
mình,
sinh
ra
và
lớn
lên
với
những
câu
hát,
câu
hò
vọng
cổ,
tôi
không
cảm
thấy
trân
quí
những
câu
ca
mà
có
người
diễu
cợt
là
“cải
lương”
đó.
Nhưng
từ
khi
đi
định
cư
ở
nước
ngoài,
một
thời
gian
dài
gần
hai
mươi
năm
tôi
không
có
dịp
nghe
vọng
cổ,
mới
thấy
như
mình
thiếu
một
cái
gì
rất
gần.
Những
câu
hát
rớt
lướt
thướt
và
ngậm
ngùi
như
những
mái
chèo
khuấy
động
dòng
sông
mặn
mà
trong
đêm
trăng
sáng
đưa
lời
ca
tiếng
nhạc
chập
chùng
theo
sóng
nước
đi
xa
tắp,
mất
hút
sau
rặng
trâm
bầu
…
tưởng
như
là
những
câu
hát
“tự
tại”,
nhưng
khi
vắng
rồi
mới
thấy
mình
nhớ
nhung
da
diết:
Tôi
đã
ra
đi
theo
bải
gió
ghềnh
trăng,
hay
giữa
đô
thành
hoa
mộng;
Nhưng
tôi
quên
làm
sao
khúc
nhạc
đồng
quê
với
tiếng
hò
tha
thiết
lẫn
tiếng
hát
ru
con
não
nuộc
giữa
đêm
…
tàn.
Mấy
dãy
bàng
thưa
lẳng
lặng
đứng
mơ
màng;
ánh
trăng
khuya
trên
nền
trời
trong
vắt,
đang
êm
đềm
soi
lạnh
bến
đò
ngang.
Nửa
khuya
rồi
ai
đứng
nhìn
trăng
nghe
tiếng
chèo
khua,
có
tưởng
nhớ
một
người
bụi
giang
hồ
đã
nãn
gót
phiêu
linh,
sao
chưa
thấy
phản
hồi
nơi
làng
xưa
cảnh
cũ.
(Khúc
nhạc
đồng
quê,
Văn
Hường
ca).
Hơn
ba
mươi
năm
trước
tôi
lên
tỉnh
theo
học
trung
học
và
cùng
ba
đứa
em
họ
ở
trọ
trong
một
căn
nhà
khá
rộng
và
thoáng.
Hành
trang
của
tôi
lúc
đó
là
cái
radio
hiệu
Philip
và
những
cuộn
băng
…
cải
lương.
Những
tuồng
thuộc
loại
cổ
điển
như
Lục
Vân
Tiên,
Đắc
Kỷ
thọ
hình,
Lá
trầu
xanh,
Phạm
Công
Cúc
Hoa,
Lưu
Bình
-
Dương
Lễ,
Ni
cô
Diệu
Liên,
đến
những
tuồng
dã
sử
như
Áo
vũ
cơ
hàn,
Đêm
lạnh
chùa
hoang,
Đợi
anh
mùa
lá
rụng,
Chuyện
tình
An
Lộc
Sơn,
v.v…
tôi
đều
nằm
lòng!
Thuở
đó
tôi
không
để
ý
đến
ý
nghĩa
của
tuồng,
mà
chỉ
thích
nghe
hát.
Sau
này
mới
thấy
mỗi
tuồng
cải
lương
đều
hàm
chứa
một
thông
điệp
về
đạo
đức
xã
hội
–
gia
đình,
và
nhất
là
tình
tự
dân
tộc.
Mỗi
tuồng
cải
lương
dù
gây
cấn
và
éo
le
cách
mấy
cũng
đều
được
kết
thúc
bằng
một
“đoạn
kết
có
hậu”
và
mở
ra
một
tia
sáng
mới.
Người
ngay
thẳng,
chính
trực
luôn
luôn
chiến
thắng
kẻ
gian
tà,
cho
dù
phải
trải
qua
trăm
đắng
ngàn
cay.
Cho
đến
nay,
nghe
lại
những
tuồng
cải
lương
bất
hủ
trong
thập
niên
1970s,
tôi
thấy
cái
thông
điệp
đạo
đức
không
hề
lỗi
thời
chút
nào.
Nghệ
thuật
cải
lương
còn
có
một
sức
quyến
rũ
cực
kì
lớn,
vì
nó
có
khả
năng
khai
thác,
khám
phá
những
góc
tối,
những
nơi
sâu
kín
trong
tâm
hồn
con
người,
thậm
chí
lột
trần
được
những
mặt
trái
thối
tha,
tha
hóa
của
con
người.
Nhiều
người,
nhất
là
giới
trẻ,
không
thích
cải
lương,
vì
họ
cho
rằng
loại
hình
nghệ
thuật
này
mang
tính
bi
lụy,
dìm
người
xem
và
nghe
trong
nước
mắt.
Nhưng
tôi
nghĩ
nhận
xét
này
không
chính
xác.
Trong
thực
tế,
nghệ
thuật
cải
lương
rất
phong
phú
với
hàng
trăm
bài
bản,
cách
hát,
có
khả
năng
thể
hiện
những
hỉ,
nộ,
ái,
ố
của
con
người.
Ấn
tượng
về
bi
lụy
có
lẽ
xuất
phát
từ
những
vở
tuồng
nổi
tiếng
như
Đời
cô
Lựu,
Tuyệt
tình
ca,
hay
Nửa
đời
hương
phấn,
mà
nội
dung
là
những
câu
chuyện
éo
le,
buồn
bã.
Nhưng
cải
lương
cũng
có
những
vở
tuồng
để
đời
không
mang
tính
bi
lụy
như
Thái
hậu
Dương
Vân
Nga,
thậm
chí
mang
tính
cách
mạng
như
Đoạn
tuyệt.
Cải
lương
còn
có
thể
diễn
đạt
cả
kinh
Phật
như
trong
một
DVD
gần
đây,
Bạch
Tuyết
(có
sự
đóng
góp
của
Lệ
Thủy)
đã
chuyển
lời
kinh
Pháp
cú
thành
một
trường
ca
cải
lương.
Tôi
xem
tác
phẩm
này
của
Bạch
Tuyết
như
một
tác
phẩm
để
đời.
Có
người
cho
rằng
cải
lương
có
vẻ
khuếch
đại
quá.
Cũng
như
các
loại
hình
nghệ
thuật
khác,
trong
cải
lương
có
kịch
tính
(dĩ
nhiên),
có
cường
điệu
hóa.
Những
ai
xem
qua
Tuyệt
tình
ca
có
lẽ
hơi
“bực
mình”
vì
thấy
người
vợ
cũ
không
nhận
ra
ông
chồng
dù
chỉ
mới
20
năm
xa
cách,
và
đúng
là
tính
cách
của
…
cải
lương.
Nhưng
khác
với
các
loại
hình
nghệ
thuật
như
tân
nhạc
hay
hát
chèo,
cải
lương
còn
mang
tính
chân
chất,
rất
gần
gũi
với
cách
nói
của
người
dân.
Người
ta
có
thể
đang
nói
chuyện
và
vào
câu
vọng
cổ
một
cách
tự
nhiên
(không
cần
phải
uốn
giọng
như
hát
bội
hay
tân
nhạc).
Thành
ra,
có
thể
nói
cải
lương
là
một
nghệ
thuật
hát
nói.
Vì
là
nghệ
thuật
hát
nói,
nên
nghệ
sĩ
cải
lương
phải
có
chất
giọng
tốt.
Về
giọng
hát,
cải
lương
Việt
Nam
không
bao
giờ
thiếu
những
nghệ
sĩ
tài
ba.
Có
lẽ
nói
không
ngoa
rằng
thập
niên
1960
đến
1970s
là
thời
vàng
son
của
sân
khấu
cải
lương,
với
sự
xuất
hiện
của
nhiều
ngôi
sao
sáng
chói
mà
cho
đến
nay
đóng
góp
của
họ
đã
trở
thành
một
di
sản
văn
hóa
nghệ
thuật.
Thời
đó,
mỗi
nghệ
sĩ
làm
chủ
một
phong
cách,
chiếm
lĩnh
một
giọng
hát
mà
khi
xem
và
nghe
khán
giả
không
thể
nào
lầm
lẫn
được.
Từ
những
giọng
ca
mộc
mạc
của
“Vua
vọng
cổ”
Út
Trà
Ôn,
đến
những
giọng
ca
mượt
mà
của
Hữu
Phước,
trong
trẻo
của
Thành
Được,
êm
dịu
của
Hùng
Cường,
trầm
ấm
của
Tấn
Tài
và
Minh
Cảnh,
trong
veo
của
Minh
Phụng,
réo
rắt
của
Minh
Vương,
truyền
cảm
của
Thanh
Sang,
hài
hước
của
Văn
Hường,
ray
rức
của
“sầu
nữ”
Út
Bạch
Lan,
buồn
man
mát
của
Ngọc
Giàu,
ấm
áp
của
Hồng
Nga,
sang
trọng
của
Thanh
Nga,
liêu
trai
của
Mỹ
Châu,
chứa
chan
của
Phượng
Liên,
giọng
thổ
tha
thiết
của
Lệ
Thủy,
ngọt
ngào
của
Bạch
Tuyết,
v.v…
(khó
mà
kể
ra
hết
ở
đây!)
Những
giọng
ca
mà
nói
theo
Nguyễn
Du
là
mỗi
người
một
vẻ,
mười
phân
vẹn
mười,
khó
mà
nói
chất
giọng
của
ai
hay
hơn
ai.
Trong
các
nghệ
sĩ
thời
đó,
Bạch
Tuyết
là
người
tôi
có
ấn
tượng
nhiều
nhất.
Nếu
nói
tôi
là
“fan”
của
Bạch
Tuyết
cũng
không
sai.
Báo
chí
Sài
Gòn
lúc
đó
từng
trìu
mến
gọi
Bạch
Tuyết
là
“Cải
lương
chi
bảo”,
một
danh
xưng
mà
tôi
nghĩ
rất
xứng
đáng
với
tài
năng
của
chị.
Lúc
đó
tôi
không
biết
gì
về
người
nghệ
sĩ
tài
hoa
này,
mà
chỉ
biết
qua
những
tuồng
cải
lương
chị
thủ
diễn.
(Tôi
gọi
“chị”
vì
đoán
là
Bạch
Tuyết
hơn
tôi
khoảng
năm
bảy
tuổi).
Sau
này
đọc
sách
mới
biết
Bạch
Tuyết
quê
quán
ở
huyện
Phú
Tân,
tỉnh
An
Giang,
tức
“dân
miền
Tây
thứ
thiệt”.
Có
lẽ
vùng
đất
sông
nước
và
đời
sống
chất
phác
bên
bờ
ruộng
nương
khoai
này
đã
tạo
cho
Bạch
Tuyết
một
phong
cách
hát
và
diễn
rất
thật
của
người
dân
quê
Nam
bộ.
Mấy
năm
gần
đây
có
dịp
về
nước,
tôi
nghe
lại
và
xem
các
vai
diễn
của
Bạch
Tuyết
trong
các
vở
tuồng
sáng
tác
sau
năm
1975,
mà
lòng
hâm
mộ
vẫn
không
suy
giảm
chút
nào.
Tôi
thấy
tiếng
hát
của
chị
bây
giờ
có
vẻ
còn
điêu
luyện
hơn,
tự
tin
hơn,
thoải
mái
hơn
vài
thập
niên
trước
đây.
Nghe
Bạch
Tuyết
hát,
tôi
có
cảm
giác
như
người
nghệ
sĩ
hoàn
toàn
làm
chủ
cách
nhả
chữ,
gieo
câu,
hoàn
toàn
điều
khiển
làn
điệu
trầm
bổng,
luyến
láy
như
người
giáo
sư
đứng
trên
bục
giảng
làm
chủ
bài
giảng
của
mình.
Cách
phát
âm
chuẩn
xác
theo
cách
nói
của
người
miền
Nam
làm
cho
người
nghe
rất
gần
gũi
với
cảm
xúc
của
câu
chuyện
người
nghệ
sĩ
muốn
truyền
đạt.
Nghe
Bạch
Tuyết
hát
vọng
cổ
tôi
có
cảm
giác
hình
như
chị
được
sinh
ra
chỉ
để
…
hát
vọng
cổ!
Nhưng
nghe
Bạch
Tuyết
hát
không
thích
bằng
xem
chị
diễn
trên
sân
khấu.
Đã
nhiều
lần,
từ
thuở
còn
là
học
sinh
cho
đến
nay,
Bạch
Tuyết
đã
làm
cho
tôi
phải
nhiều
lần
sụt
sùi
trong
các
vở
tuồng
để
đời
như
Đời
cô
Lựu,
Nguyệt
khuyết,
Tuyệt
tình
ca,
v.v…
và
sau
này
là
những
tuồng
Kim
Vân
Kiều,
Má
hồng
phận
bạc,
Hoàng
hậu
của
hai
vua,
v.v…
Tôi
xem
đi
xem
lại
vở
tuồng
Nguyệt
khuyết
cả
chục
lần,
và
càng
xem
tôi
càng
thán
phục
Bạch
Tuyết
trong
vai
người
đàn
bà
góa
phụ,
người
mẹ,
người
bệnh
trong
nhà
thương
một
cách
rất
thật,
như
là
chính
chị
đã
hóa
thân
mình
vào
nhân
vật
ngoài
đời.
Xem
Kim
Vân
Kiều
mới
thấy
Bạch
Tuyết
nhập
vai
một
nàng
Kiều
tài
hoa
nhưng
bạc
phận
một
cách
suất
sắc,
làm
mê
hoặc
khán
giả
từ
đầu
chí
cuối
vở
tuồng.
Viết
về
Bạch
Tuyết,
Nhà
văn
Sơn
Nam
có
một
nhận
xét
chính
xác
rằng
“Bạch
Tuyết
là
nghệ
sĩ
định
hình
...
Cô
có
nét
quyến
rũ,
đưa
người
nghe,
người
xem
vào
thế
giới
riêng,
mà
thực
và
mộng
không
có
ranh
giới
nữa.”
Mấy
năm
gần
đây,
công
chúng
tỏ
ra
quan
tâm
về
sự
suy
sút
của
nghệ
thuật
cải
lương
ở
trong
nước,
và
tôi
nghĩ
quan
tâm
này
cũng
có
cơ
sở.
Tôi
đã
xem
qua
khá
nhiều
tuồng
cải
lương
gần
đây
do
các
nghệ
sĩ
trẻ
trình
diễn.
Tuy
các
nghệ
sĩ
trẻ
ngày
nay
có
chất
giọng
cực
kì
tốt,
nhưng
hình
như
họ
chưa
tạo
cho
mình
một
phong
cách
hay
một
làn
hơi
riêng
như
những
người
đi
trước
trong
thập
niên
1960
–
1970.
Rất
khó
phân
biệt
giọng
ca
của
các
nghệ
sĩ
trẻ
bây
giờ
vì
họ
đều
có
giọng
hát
giông
giống
nhau.
Tuồng
cải
lương
ngày
nay
có
vẻ
nhiều
hơn
trước,
nhưng
chất
lượng
thì
không
cao
như
khán
giả
kì
vọng.
Một
số
vở
tuồng
được
dàn
dựng,
theo
tôi
là,
quá
hấp
tấp
và
chất
lượng
nghệ
thuật
giống
như
một
tác
phẩm
loại
“mì
ăn
liền”.
Cũng
có
thể
đây
là
“thời
kì
quá
độ”
để
nghệ
thuật
cải
lương
Việt
Nam
tìm
một
định
hướng
mới
hơn.
Có
người
cho
rằng
cải
lương
không
còn
khả
năng
thu
hút
khán
giả
trẻ
như
thời
thập
niên
1970s.
Nhưng
lấy
kinh
nghiệm
cá
nhân,
tôi
có
thể
nói
nghệ
thuật
cải
lương
sẽ
phát
triển
trong
tương
lai,
khi
đời
sống
kinh
tế
được
nâng
cao
và
người
ta
sẽ
tìm
về
những
giá
trị
văn
hóa
dân
tộc,
trong
đó
có
nghệ
thuật
cải
lương.
Thuở
còn
đi
học,
dù
rất
mê
cải
lương,
tôi
ít
khi
nào
dám
thố
lộ
với
bè
bạn
vì
sợ
bị
chê
là
“dân
cải
lương”,
tức
đồng
nghĩa
với
quê
mùa.
Nhưng
bây
giờ
tôi
lại
thấy
cải
lương
mới
đích
thực
là
một
nghệ
thuật
của
dân
tộc,
và
không
ngần
ngại
nói
tôi
yêu
cải
lương.
Thật
ra,
đó
cũng
chỉ
là
một
tình
cảm
tự
nhiên.
Càng
sống
trong
thế
giới
văn
hóa
của
người
khác,
người
ta
có
khao
khát
tìm
về
nguồn
cội,
về
bản
sắc
văn
hóa
của
mình,
mà
cải
lương
là
một
bản
sắc
văn
hóa
dân
tộc.
Ở
phương
Tây
người
ta
có
nghệ
thuật
opera,
một
loại
hình
nghệ
thuật
thuộc
vào
hàng
trưởng
giả;
còn
ở
Việt
Nam
chúng
ta
có
hát
bội,
chèo,
và
cải
lương
thu
hút
mọi
thành
phần
trong
xã
hội.
Nói
như
một
số
nhà
phê
bình
văn
học
Tây
phương,
nếu
hát
bội
phản
ánh
chủ
nghĩa
anh
hùng,
chèo
nói
lên
cái
trào
lộng,
thì
cải
lương
thể
hiện
cái
trữ
tình
của
dân
tộc.
Giới
trẻ
trong
nước
ngày
nay
thích
chạy
theo
phong
trào
nhạc
hip
hop,
và
một
ngày
nào
đó
trong
tương
lai,
họ
cũng
sẽ
như
giới
giới
trẻ
ở
nước
ngoài
hiện
nay
đang
có
xu
hướng
về
nguồn
và
tìm
về
với
tình
tự
dân
tộc
qua
các
giai
điệu
cải
lương.
Tất
cả
các
nghệ
sĩ
cải
lương
trong
nước
ra
ngoài
trình
diễn
đều
được
đón
nhận
nồng
nhiệt.
Có
người
phải
lái
xe
hàng
trăm
cây
số
chỉ
để
nghe
lại
những
“giọng
ca
vàng”
một
thời
như
Minh
Vương,
Lệ
Thủy,
Bạch
Tuyết,
Thanh
Sang.
Đáng
chú
ý
là
trong
thời
gian
5
năm
qua,
với
sự
phát
triển
nhanh
chóng
của
công
nghệ
thông
tin,
nhiều
“ngôi
nhà”
cải
lương
đã
xây
dựng
trong
xa
lộ
internet
[1],
cung
cấp
cho
giới
hâm
mộ
nhiều
thông
tin
có
ích.
Khán
giả
thậm
chí
có
thể
nghe
và
xem
một
số
trích
đoạn
cải
lương
trực
tuyến.
Theo
tôi
nghệ
thuật
cải
lương
là
một
trong
những
bộ
môn
nghệ
thuật
thuần
Việt
Nam.
Chỉ
người
Việt
Nam
mới
có
vọng
cổ.
Nó
cần
phải
được
bảo
tồn
và
phát
huy
thành
một
môn
“vọng
cổ
học”
hay
“cải
lương
học”
nghiêm
chỉnh.
Qua
theo
dõi
báo
chí,
tôi
còn
biết
Bạch
Tuyết
đã
bảo
vệ
xong
luận
án
tiến
sĩ
nghệ
thuật
sân
khấu
ở
Bungari.
Hi
vọng
nghệ
thuật
cải
lương
sẽ
được
“hàn
lâm
hóa”
nay
mai
khi
một
đội
ngũ
nhà
nghiên
cứu
về
cải
lương
như
Bạch
Tuyết
đã
hình
thành.
Tôi
mong
ước
một
ngày
nào
đó,
các
nhà
nghiên
cứu
văn
hóa
nghệ
thuật
khảo
cứu
thêm
về
vọng
cổ
để
đưa
bộ
môn
này
vào
một
di
sản
văn
hóa
của
thế
giới
như
trường
hợp
của
nhã
nhạc
Huế.
Tác
giả
bài
viết:
tanconhac
Nguồn
tin:
NVT
Ý kiến bạn đọc