Nhà
thơ
Kiên
Giang
(trái)
và
nhà
thơ
Thanh
Nhã
Nhà
thơ
-
soạn
giả
Kiên
Giang
đã
nói,
những
cuộc
tình
của
ông
đầy
rẫy
sự
trắc
trở,
bi
thương.
Với
mối
tình
đầu
và
cũng
là
người
vợ
đầu,
hình
ảnh
của
bà
chưa
bao
giờ
xuất
hiện
trong
thơ,
nhạc
nhưng
lại
có
sức
ảnh
hưởng
rất
lớn
đến
các
sáng
tác
của
ông.
“Tôi
thương
bà
Sương
vì
bà
là
người
phụ
nữ
chịu
thương
chịu
khó,
hết
mực
chiều
chồng.
Cả
những
lúc
khó
khăn
nhất,
một
mình
bà
vẫn
chống
chọi,
gánh
gồng
mưu
sinh.
Làm
vợ
của
một
soạn
giả,
một
thầy
giáo,
một
nhà
thơ
có
tên
tuổi
nhưng
bà
vẫn
chấp
nhận
về
quê
cất
chòi
giữ
đồng
nuôi
vịt…”,
nhà
thơ
Kiên
Giang
bồi
hồi
nhớ
lại.
Cưới
ngay
kẻo…
lỡ
Vợ
đầu
của
nhà
thơ
-
soạn
giả
Kiên
Giang
tên
Nguyễn
Ngọc
Sương,
người
phụ
nữ
đẹp
người
đẹp
nết.
Bà
Sương
là
người
con
gái
thứ
ba
của
thầy
giáo
làng
Nguyễn
Sử
Ký.
Trong
Đoàn
văn
nghệ
thiếu
nhi
lưu
động
do
ông
làm
Trưởng
đoàn
có
ca
sĩ
nhí
tên
Thanh
Phong.
Một
hôm,
sau
buổi
diễn,
ngồi
trên
xuồng
từ
rạch
Cái
Mới
về
xóm
Tổng
Quảng,
ông
quay
lại
hỏi
Phong:
“Nhà
mày
có
chị
hay
em
gái
không?”.
Người
được
hỏi
thiệt
tình
trả
lời:
“Có,
đông
lắm”.
Mặt
ông
rạng
rỡ:
“Vậy
về
nói
chị
gái
nấu
cơm
ăn
đi…”.
Mục
đích
của
ông
không
chỉ
để
ăn
cơm
mà
gặp
những
người
đẹp.
Sau
lần
gặp
đầu
tiên
đó,
hôm
ông
đưa
đoàn
đi
diễn
ở
xóm
Cái
Bần,
xã
Thủy
Liễu
thì
hai
người
chị
thứ
hai
và
thứ
ba
của
Thanh
Phong
đứng
lấp
ló
phía
góc
chùa.
Lần
gặp
nữa,
hai
chị
mời
ông
và
bà
Lê
Thị
Tị,
phụ
trách
y
tế
của
đoàn
đến
dự
tiệc.
Tiệc
đang
chuẩn
bị
ở
nhà
sau,
ông
luôn
để
mắt
tới
người
con
gái
mặc
áo
vá
vai.
Nét
đẹp
chân
phương,
tần
tảo
của
cô
gái
đã
“hớp
hồn”
Kiên
Giang.
Người
con
gái
đó
là
cô
ba
Nguyễn
Ngọc
Sương.
Mùa
dưa
hấu,
Kiên
Giang
cùng
ông
Nguyễn
Thành
Mân
(sau
này
là
chú
vợ)
mang
một
cặp
dưa
hấu
to,
đẹp
đến
nhà
biếu
gia
đình
Sương.
Sau
một
hồi
hỏi
han
qua
lại,
Kiên
Giang
bạo
miệng:
“Thưa
bác,
cháu
diễn
ở
đây,
được
gia
đình
bác
chăm
lo
chu
đáo,
cháu
rất
quý
tấm
lòng
thơm
thảo
của
gia
đình.
Cháu
sống
xa
nhà
thường
xuyên,
thấy
ở
đây
như
nhà
của
mình.
Cháu
để
ý
cô
Ba.
Bác
hỏi
ý
kiến
cô
Ba
thế
nào
rồi
cho
cháu
hay
ạ”.
Nói
thì
nói
vậy
nhưng
trong
đầu
ông
không
nghĩ
thầy
giáo
Ký
sẽ
đồng
ý
tác
hợp
cho
hai
người.
Nửa
tháng
sau,
khi
đoàn
chuẩn
bị
rời
làng
sang
làng
khác
diễn
thì
ông
hay
tin
cô
Ba
đã
“ưng”.
Người
ông
như
lâng
lâng
niềm
vui
khó
tả.
Bỗng
mặt
ông
chùng
xuống
vì
lo
lắng
phận
nghèo
sống
rày
đây
mai
đó
lấy
gì
để
cưới
xin.
Lo
nhưng
phải
cưới
ngay,
kẻo…
lỡ.
Một
sáng
đẹp
trời,
ông
chèo
xuồng
một
mạch
từ
U
Minh
Hạ
ra
mũi
Gảnh
rồi
sang
Rạch
Giá
nhờ
người
nhắn
má
sang
làm
đám
nói.
Thầy
giáo
Ký
không
đòi
hỏi
gì
ở
nhà
trai
ngoài
những
câu
căn
dặn
bọn
trẻ
“có
phước
cùng
hưởng,
có
họa
cùng
chia”.
Đám
cưới
diễn
ra
trong
trại
đóng
ghe
của
hàng
xóm
ở
ấp
Xẻo
Trát,
làng
Long
Thạnh
vào
một
đêm
trăng
sáng.
Ngày
vui,
ông
mặc
chiếc
áo
cẩm
tự,
đó
là
món
quà
ông
vừa
nhận
được
khi
đạt
giải
II
cuộc
thi
Thơ
đồng
bằng
sông
Cửu
Long.
Vợ
soạn
giả
nuôi
vịt
Bà
Sương
có
mang
cũng
là
lúc
ông
đi
chiến
dịch
Long
Châu
Hà
(Long
Xuyên,
Châu
Đốc,
Hà
Tiên).
Vợ
chuyển
dạ,
ông
Ký
và
người
cậu
vợ
đưa
bà
Sương
bằng
xuồng
qua
Rạch
Giá
để
vào
nhà
bảo
sanh.
Bà
hạ
sinh
đứa
con
đầu
lòng,
đặt
tên
là
Trương
Thị
Ngọc
Nữ.
Năm
1957,
ông
rước
vợ
con
lên
Sài
Gòn
sinh
sống
ở
đình
Phú
Thạnh,
nay
thuộc
Q.Tân
Phú.
Ở
tạm
cùng
gia
đình
ông
tại
đình
này
còn
có
soạn
giả
Minh
Nguyên.
Thời
gian
sống
ở
đây,
soạn
giả
Kiên
Giang
đã
viết
3
đĩa
vọng
cổ.
Khi
Đoàn
ca
nhạc
vũ
kịch
Thúy
Nga
thành
lập,
ông
rời
Báo
Tiếng
Chuông
để
về
đây
phụ
trách
kỹ
thuật.
Khi
trở
thành
soạn
giả
tên
tuổi,
ông
mới
có
tiền
mua
nhà
ở
đường
Trần
Bình
Trọng,
Q.5.
Các
con
kế
của
ông
lần
lượt
sinh
ra
tại
căn
nhà
này
là
Trương
Thị
Ngọc
Thùy,
Trương
Huy
Ngọc,
Trương
Hà
Châu.
Trước
Hà
Châu,
ông
còn
có
một
người
con
nữa
là
Nguyễn
Ngân
Hà.
Sở
dĩ
Ngân
Hà
mang
họ
Nguyễn
của
mẹ
là
vì
tháng
ngày
loạn
lạc,
ông
phải
trốn
cảnh
bắt
bớ.
Ngân
Hà
còn
được
ba
đặt
cho
cái
tên
khác
là
Phà
Ca.
Lúc
bấy
giờ,
soạn
giả
cải
lương
Quy
Sắc
(tức
Nguyễn
Phú
Quý,
quê
Sông
Bé
cũ,
nay
là
Bình
Dương,
đã
mất)
có
viết
kịch
bản
cải
lương
Đời
sơn
nữ.
Kịch
bản
này
được
Kiên
Giang
xem
và
sửa
lại
theo
yêu
cầu
của
Quy
Sắc
và
đổi
tên
thành
Người
vợ
không
bao
giờ
cưới,
hay
còn
gọi
là
Sơn
nữ
Phà
Ca.
Kịch
bản
viết
xong
ký
tên
là
Phúc
Nguyên
-
Kiên
Giang
(Phúc
Nguyên
là
tên
con
gái
đầu
của
Quy
Sắc).
Con
trai
đầu
của
Quy
Sắc
là
Mộng
Long
nên
Kiên
Giang
đặt
tên
con
gái
Ngân
Hà
là
Phà
Ca.
(Mộng
Long
và
Phà
Ca
là
hai
nhân
vật
trong
Người
vợ
không
bao
giờ
cưới).
Soạn
giả
Kiên
Giang
và
Quy
Sắc
còn
hứa
gả
con
cho
nhau.
Với
Kiên
Giang,
bà
Sương
là
người
phụ
nữ
quê
mùa,
tần
tảo
hết
lòng
vì
chồng
con.
Ông
nhớ
lại
những
ngày
khó
khăn
nhất,
bà
đã
tích
cóp
mua
cho
ông
một
cái
bàn
để
ông
viết
lách.
Chiếc
bàn
này
đối
với
ông
là
một
kỷ
vật.
Dù
phải
liên
tục
thay
đổi
chỗ
ở,
ông
vẫn
mang
theo
suốt
60
năm.
Những
năm
ông
bán
căn
nhà
ở
đường
Trần
Bình
Trọng
để
về
quê,
đó
là
quãng
thời
gian
khó
khăn
nhất.
Đêm
lại
ông
chèo
xuồng
đi
dạy
học.
Còn
bà
nằm
giữa
đồng
để
trông
coi
đàn
vịt.
Soạn
giả
Kiên
Giang
kể:
“Thời
gian
tôi
phải
ở
lại
bên
xã
Thủy
Liễu,
ở
nhà
không
may
vịt
nhiễm
bệnh
và
chết
hết.
Vợ
tôi
khóc
nức
nở,
tiếc
hùi
hụi
bao
vốn
liếng,
tôi
thấy
thương
làm
sao”.
Trần
Tuy
An
Ý kiến bạn đọc