Nghệ
sĩ
Minh
Cảnh
gây
bất
ngờ
khi
xuất
hiện
với
vóc
dáng
phong
độ
ở
tuổi
U.90.
Ông
vẫn
thỉnh
thoảng
đi
hát,
sống
cuộc
sống
bình
yên
ở
xứ
cờ
hoa.
Xem
tiếp...
Kiếm
kho
tàng
trong
lăng
tẩm
Huế
Soạn
giả
Hoa
Phượng
trả
nợ
bà
Bầu
Thơ
Năm
1961,
bà
Bầu
Thơ
đưa
đoàn
hát
Thanh
Minh-Thanh
Nga
đi
lưu
diễn
miền
Trung.
Các
soạn
giả
thường
trực
phải
theo
đoàn
để
tập
tuồng
mới.
Hà
Triều,
Hoa
Phượng,
Kiên
Giang,
Nguyễn
Phương
ở
chung
một
phòng
trong
khách
sạn.
Trước
đây
trong
những
chuyến
lưu
diễn
các
tỉnh
miền
Hậu
Giang,
chúng
tôi
4
người
cũng
ở
chung
một
phòng,
thường
đi
ăn
điểm
tâm
chung,
ăn
cơm
hội
cùng
một
mâm,
đến
địa
phương
nào
chúng
tôi
cũng
tìm
chỗ
đi
du
ngoạn
hoặc
tìm
thưởng
thức
những
món
ngon
vật
lạ.
Nhưng
trong
chuyến
lưu
diễn
miền
Trung
kỳ
này,
đến
Nha
Trang
thì
Hà
Triều
và
Hoa
Phượng
tách
ra
đi
chơi
riêng,
hai
anh
sa
đà
trong
việc
bài
bạc
được
tổ
chức
ngay
trong
đoàn
hát.
Cô
Năm
Hay,
em
ruột
của
bà
Thơ,
bày
ra
việc
đánh
tứ
sắc
trong
phòng
khách
sạn
với
Út
Trà
Ôn,
Hoàng
Giang
và
bà
bầu
Thơ;
Hữu
Thìn,
con
bà
bầu,
tổ
chức
binh
xập
xám
với
các
soạn
giả
Hoàng
Việt,
Hà
Triều,
Hoa
Phượng.
Ba
ngày
liên
tiếp,
các
danh
thủ
'đỏ
đen'
sát
phạt
nhau
tận
tình.
Hà
Triều,
Hoa
Phượng
thua
15.000
đồng.
Hai
anh
bán
đứt
cho
bà
bầu
Thơ
một
vở
tuồng
để
có
tiền
trả
nợ
cờ
bạc.
Tôi
rủ
Hà
Triều,
Hoa
Phượng
và
Kiên
Giang
ra
quán
ở
bãi
biển,
nhậu
rượu,
giúp
cho
Hà
Triều,
Hoa
Phượng
mượn
tửu
binh
giãi
phá
thành
sầu.
Hoa
Phượng
cười
hề
hề
sảng
khoái,
nói:
'Thua
bạc,
bán
đứt
tuồng
cho
bà
bầu
được
hai
chục
ngàn
đồng.
Mười
lăm
ngàn
trả
nợ,
còn
lại
năm
ngàn,
tôi
bao
các
anh
ăn
xài
cho
hết,
vậy
là
vui
rồi!
Tôi
sẽ
viết
một
tuồng,
dài
40
trang,
như
vậy
mỗi
trang
giấy
đánh
máy
tuồng
của
tôi
đáng
giá
500
đồng'.
Mấy
ngày
sau,
Hoa
Phượng
rủ
tôi
và
Kiên
Giang
đi
viếng
Tháp
Bà,
đền
thờ
thần
Ponagar,
rồi
ra
bờ
sông
Cái
Nha
Trang,
đứng
trên
cầu
đá
chụp
hình
Cù
Lao
Xóm
Bóng.
Tôi
đinh
ninh
Hoa
Phượng
sẽ
viết
một
tuồng
với
cốt
truyện
về
thần
nữ
Thiên
Y
A
Na,
truyện
Vua
Chế
Bồng
Nga
hoặc
chuyện
Huyền
Trân
Công
Chúa.
Hoa
Phượng
nói
chưa
xài
hết
năm
ngàn
thì
chưa
có
tính
tới
chuyện
viết
tuồng
trả
nợ.
Anh
rủ
chúng
tôi
đi
thăm
Hải
học
viện,
viếng
Nha
Trang
thành
và
định
đi
đến
thăm
Lầu
Bảo
Đại
tức
biệt
thự
Cầu
Đá
trên
đỉnh
núi
Cảnh
Long
nhưng
chúng
tôi
chưa
kịp
đến
xem
Biệt
Thự
Cầu
Đá
thì
đoàn
hát
di
chuyển
qua
các
tỉnh
Phan
Thiết,
Qui
Nhơn,
sau
đó
ra
hát
ở
Huế.
Sân
khấu
được
dựng
trên
bãi
đất
trống
sát
bờ
sông
Hương,
gần
Phu
Văn
Lâu
và
Nghênh
Lương
Đường.
Thay
vì
ở
khách
sạn
Thuận
Hóa,
bốn
soạn
giả
chúng
tôi
mướn
ghe
để
ngủ
trên
sông
Hương,
ghe
đậu
gần
vòng
bao
của
sân
diễn.
Tôi
đã
quên
chuyện
Hoa
Phượng
phải
viết
tuồng
trả
nợ
cho
bà
Bầu
nên
khi
ra
hát
ở
Huế,
tôi
hoạch
định
một
chương
trình
đi
du
ngoạn,
viếng
chùa
Thiên
Mụ,
vô
thăm
các
lăng
tẩm
các
vua
triều
Nguyễn,
đi
ăn
cơm
âm
phủ,
ăn
cơm
hến,
đi
chợ
Đông
Ba
và
vào
nội
thành
Huế
kiếm
xem
các
rạp
hát
bội
của
vua.
Chúng
tôi
được
hướng
dẫn
viên
du
lịch
của
địa
phương
đưa
đến
xem
nhà
hát
bội
ở
cung
Diên
Thọ
dành
riêng
cho
Hoàng
Thái
Hậu
và
các
bà
Mẹ
khác
của
vua.
Nhà
hát
này
được
gọi
là
Thông
Minh
Đường,
xây
cất
bên
phải
sân,
sát
cửa
Chính
Điện,
trước
được
gọi
là
Hữu
Túc
Đường,
đối
diện
với
Tả
Túc
Đường
tức
là
nhà
Tả
Trà,
nơi
dùng
để
đãi
trà
các
quan
khách.
Nhà
hát
Duyệt
Thị
Đường
được
xây
dựng
từ
thời
vua
Minh
Mạng
thứ
7
(năm
1826).
Duyệt
Thị
Đường
ở
ngoài
tường
phía
đông
điện
Quang
Minh,
nằm
trong
phạm
vi
Cấm
Thành.
Đây
là
nhà
hát
lớn
nhất
trong
các
nhà
hát
ở
Hoàng
Cung.
Chiều
dài
của
nhà
hát
Duyệt
Thị
Đường
từ
trước
cửa
đến
sát
vách
sau
sân
khấu
dài
40
thước,
bề
ngang
16
thước.
Sân
khấu
để
trình
diễn
hình
vuông,
mỗi
bề
8
thước,
sân
khấu
cao
hơn
mặt
bằng
của
khán
phòng
8
tất
nên
khán
giả
ngồi
ở
các
hàng
ghế
đầu
có
thể
thấy
rõ
suốt
mặt
bằng
của
sân
khấu.
Trong
khán
phòng
có
hai
hàng
cột
gỗ
lim
thật
lớn
chống
đỡ.
Trần
nhà
và
vách
phông
trong
của
sân
khấu
được
chạm
nổi
cảnh
trăng
sao,
tinh
tú,
mặt
trời,
biểu
hiện
vũ
trụ.
Cách
mặt
tiền
sân
khấu
độ
ba
thước,
ngay
giữa
khán
phòng
có
hai
ghế
chạm
trổ
hình
con
rồng
nơi
tay
vịnh
để
cho
vua
và
hoàng
hậu
ngồi
xem
hát.
Phía
sau
là
hai
hàng
ghế
bọc
nệm
gấm
dành
cho
các
vị
quan
đại
thần
và
khách
của
vua.
Chỗ
ngồi
của
các
vị
quan
khách
là
hai
dãy
ghế
trường
kỷ
đặt
dọc
dài
từ
dãy
cột
lớn
đến
sát
vách
hai
bên
phải
trái
của
sân
khấu.
Sau
hai
hàng
ghế
dành
cho
vua,
hoàng
hậu
và
các
quan
đại
thần,
hai
bên
sân
khấu
có
cầu
thang
gỗ
để
lên
trên
gác
cao
bằng
gỗ
đen
bóng,
nơi
dành
cho
khán
giả
là
các
bà
các
mệ
trong
nội
cung.
Trên
hai
gác
lầu
này,
bên
mặt
có
một
giá
gỗ
treo
vài
chục
chuông
bằng
đồng
đen
lớn
nhỏ
khác
nhau.
Trên
gác
bên
trái
có
giá
giàn
đờn
đá
và
nhiều
mỏ.
Minh
Khiêm
Đường
là
nhà
hát
bội
dành
để
hát
cho
vua
Tự
Đức,
Hoàng
hậu,
các
nội
thị
hầu
cận
và
các
quan
thân
cận
của
vua
xem.
Minh
Khiêm
Đường
nằm
trong
khuôn
viên
của
Khiêm
Lăng
(tức
lăng
mộ
của
vua
Tự
Đức),
được
xây
dựng
năm
1864,
nằm
giữa
khoảng
Hòa
Khiêm
Điện
(nơi
vua
Tự
Đức
làm
việc)
và
Lương
Khiêm
Điện
(nơi
vua
Tự
Đức
ăn
ngủ,
nghỉ
ngơi
mỗi
khi
lên
chơi
ở
Khiêm
Cung).
Có
một
đêm,
Nha
Du
Lịch
tổ
chức
tại
nhà
hát
Duyệt
Thị
Đường
một
chương
trình
múa
cung
đình
và
đờn
ca
nhã
nhạc
cho
du
khách
xem.
Chúng
tôi
mua
vé
vào
xem.
Vãn
hát,
về
đến
đoàn
Thanh
Minh-Thanh
Nga,
chúng
tôi
thấy
vắng
mặt
Hà
Triều.
Có
người
nghĩ
Hà
Triều
đi
ăn
khuya
ở
các
quán
cơm
âm
phủ
hay
cơm
hến.
Có
người
nghĩ
anh
ta
bắt
bồ
được
với
một
nàng
Huế
nào
đó
nên
đi
chơi
hoang
một
đêm.
Lần
đầu
tiên
chúng
tôi
mới
đến
Huế
nên
không
dám
thả
rong
ban
đêm
để
kiếm
Hà
Triều,
đành
nói
cho
bà
bầu
Thơ
biết
để
bà
nhờ
thầy
bảy
Liêm
quản
lý
của
đoàn
hát
báo
cho
cảnh
sát
địa
phương
biết
để
nhờ
cảnh
sát
giúp.
Hôm
sau,
9
giờ
sáng,
khi
các
nghệ
sĩ
đang
tập
tuồng
thì
cảnh
sát
địa
phương
dẫn
Hà
Triều
đến
gặp
bà
bầu
Thơ.
Cảnh
sát
cho
biết
nhân
viên
cảnh
vệ
trong
Lăng
thấy
Hà
Triều
ngủ
ngồi
trong
vách
Nhà
Bia
trong
lăng
Minh
Mạng.
Hỏi
ra
họ
biết
là
soạn
giả
của
đoàn
hát,
đêm
rồi
coi
hát
trong
Duyệt
Thị
Đường,
khi
về
đi
lạc
nên
phải
ngủ
tạm
nơi
Nhà
Bia
để
chờ
sáng.
Bà
Bầu
xin
đóng
tiền
phạt
nhưng
cảnh
sát
cười:
Người
lạ
đi
lạc
ban
đêm
trong
lăng
tẩm
là
chuyện
thường,
có
chi
mô
mà
phạt?
Các
nghệ
sĩ
cười
Hà
Triều,
có
người
nói
cốt
tử
của
Hà
Triều
thuộc
về
hoàng
tộc
nên
ra
Huế
ngủ
đêm
trong
lăng
vua
là
hạnh
phúc
lắm.
Hà
Triều
cười:
'Mấy
cha
nói
hạnh
phúc
thì
thử
ngủ
một
đêm
trong
lăng
thì
sẽ
biết
nó
ra
sao!
Lạnh
thấy
mẹ!
Lại
còn
bị
muỗi
chích,
bù
mắc
với
kiến
cắn
nổi
mận
đầy
mình
đây
nè...
May
mà
đêm
hôm
có
gói
thuốc
và
cái
ống
quẹt
này,
phì
phà
suốt
đêm
cho
nó
đỡ
buồn.
Ngủ
gà
ngủ
gật
trong
lăng,
chết
còn
sướng
hơn!'
Hoa
Phượng
bỗng
phá
cười
thật
lớn:
'Cám
ơn,
Hà
Triều!
Mầy
ngủ
quên
trong
lăng
làm
cho
tao
nảy
ra
ý
tuồng
để
viết
trả
nợ
cho
bà
Bầu'.
Bà
Bầu
Thơ
nghe
Hoa
Phượng
nói
vậy,
bà
hỏi
liền:
'Chú
nói
chú
có
ý
tuồng
mới,
vậy
đó
là
tuồng
gì?
Tuồng
xã
hội
hay
tuồng
hương
xa?'
-
Dạ,
chỉ
mới
có
cái
tựa,
nhưng
mà
nội
trong
một
tuần
lễ
là
tôi
sẽ
viết
xong.
-
Tựa
gì?
Nói
cho
tôi
biết,
được
hông?
-
Dạ,
được
chớ
chị
Năm...
Tựa
tuồng
là
Giấc
Mộng
Giữa
Hoàng
Lăng.
Tựa
tuồng
vừa
được
Hà
Triều
gợi
hứng
bằng
cái
chuyện
ngủ
trong
lăng
vua
nhưng
cốt
chuyện
mới
tượng
hình,
tôi
xin
phép
vắng
mặt
trong
một
tuần
để
thai
nghén
cái
chuyện
này
mới
được.
Hoa
Phượng
lặn
đâu
mất
trong
bốn
ngày
hát
chót
ở
kinh
thành
Huế.
Khi
hát
ở
tỉnh
Quảng
Ngãi
được
ba
bữa
chúng
tôi
mới
thấy
Hoa
Phượng
trên
xe
đò
từ
Huế
vô.
Anh
ta
đã
có
cốt
chuyện
và
bắt
đầu
viết
vở
Giấc
Mộng
Giữa
Hoàng
Lăng.
Câu
chuyện
tuồng
như
sau:
Tướng
cướp
Vi
Hạc
Linh
bồng
thây
vợ
là
Lạc
Thy
Kim
vô
hoàng
lăng
để
chôn.
Anh
ta
bất
mãn
vì
vua
khi
sống
thì
được
ở
trong
cung
điện
nguy
nga,
khi
chết
được
an
táng
trong
hoàng
lăng
tráng
lệ.
Còn
dân
nghèo
sống
thì
chui
rúc
trong
chòi
lá,
khi
chết
không
mảnh
đất
chôn
thây,
nên
Vi
Hạc
Linh
muốn
cho
vợ
anh
sau
khi
chết
cũng
được
ngang
hàng
với
các
vì
vua
đang
an
nghỉ
nơi
chốn
hoàng
lăng.
Y
sĩ
Sa
Tần
đang
lẫn
trốn
trong
hoàng
lăng
vì
bị
hoàng
hậu
Thúy
Nhi
đuổi
bắt,
ông
ta
dùng
thuốc
cứu
sống
Lạc
Thy
Kim.
Lúc
đó
Ý
Mỹ
Thơ,
vợ
của
Sa
Tần,
mang
bình
nước
đến
cho
Sa
Tần
mang
theo
khi
vượt
qua
sa
mạc.
Ý
Mỹ
Thơ
đẹp
đến
nỗi
Vi
Hạc
Linh
quên
ơn
của
Sa
Tần,
muốn
cướp
đoạt
Ý
Mỹ
Thơ
và
phụ
rẫy
vợ
nhà.
Sa
Tần
đi
khỏi
hoàng
lăng,
hoàng
hậu
Thúy
Nhi
đến,
Vi
Hạc
Linh
biết
Sa
Tần
vì
không
tuân
lịnh
thuốc
chết
vua
Sĩ
Tước
Hoa
theo
lịnh
của
hoàng
hậu
nên
mới
bị
truy
sát.
Vi
Hạc
Linh
nhận
thực
hiện
kế
của
hoàng
hậu,
giết
vua
Sĩ
Tước
Hoa
để
lấy
ngôi
vua
lại
cho
con
trai
của
bà.
Khi
giết
được
vua
Sĩ
Tước
Hoa,
Vi
Hạc
Linh
cướp
luôn
ngôi
vua
và
giết
hoàng
hậu
Thúy
Nhi
và
hoàng
tử.
Có
quyền
thế
trong
tay,
Vi
Hạc
Linh
cướp
luôn
vợ
của
y
sĩ
Sa
Tần.
Ý
Mỹ
Thơ
không
theo
Vi
Hạc
Linh
được
vì
còn
vợ
của
Hạc
Linh
là
Lạc
Thy
Kim.
Vi
Hạc
Linh
bèn
cho
lịnh
đưa
vợ
đến,
định
giết
đi
để
chiếm
cho
được
Ý
Mỹ
Thơ.
Lúc
đó
Sa
Tần
xuất
hiện,
nói
rằng
ông
ta
có
phương
thuốc
Trường
sinh
nhưng
cần
đôi
mắt
của
người
vợ
chung
thủy,
tự
nguyện
hiến
mắt
để
làm
thuốc
cho
chồng.
Lạc
Thy
Kim
đến,
Vi
Hạc
Linh
giả
đau,
cần
đôi
mắt
của
vợ
để
chữa
trị.
Lạc
Thy
Kim
thương
chồng,
hiến
đôi
mắt
để
y
sĩ
Sa
Tần
làm
thuốc
cho
Vi
Hạc
Linh.
Thuốc
đã
chế
xong
nhưng
khi
bỏ
đôi
mắt
của
Lạc
Thy
Kim
vào
thì
sấm
nổ
vang,
đôi
mắt
bay
lên
trời
và
y
sĩ
Sa
Tần
cũng
biến
mất.
Sau
khi
Lạc
Thy
Kim
hiến
đôi
mắt,
Vi
Hạc
Linh
bỏ
vợ
vô
rừng
sâu
để
cho
thú
dữ
ăn
thịt.
Bà
khóc
vì
sự
bội
phản
của
ông
chồng.
Nước
mắt
của
người
vợ
hiền
nhỏ
xuống
làm
cho
khối
đá
nơi
bà
ngồi
vỡ
tan.
Một
vị
thần
bị
nhốt
trong
khối
đá
đó
với
lời
nguyền
là
khi
nào
có
nước
mắt
của
người
vợ
hiền
nhỏ
xuống
thì
vị
thần
sẽ
được
giải
thoát
khỏi
bị
giam
cầm
trong
đá.
Nước
mắt
của
Lạc
Thy
Kim
cứu
được
vị
thần.
Ông
cho
bà
được
ba
điều
ước:
1-
giàu
có
với
vàng
bạc
châu
báu
đầy
kho,
2-
làm
nữ
vương
cai
trị
một
vùng
đất
rộng
lớn
phì
nhiêu,
3-
có
một
cái
hộp
thần
kỳ,
bất
cứ
kẻ
nào
muốn
xâm
phạm
đến
quyền
lực
và
tài
sản
của
bà,
chỉ
cần
mở
nắp
hộp
ra
là
sẽ
tiêu
diệt
kẻ
đó.
Vi
Hạc
Linh
biết
có
một
vương
quốc
giàu
sang
mới
ra
đời,
anh
ta
đem
quân
đến
định
xâm
chiếm,
bất
ngờ
gặp
lại
vợ
cũ
là
Lạc
Thy
Kim.
Lạc
Thy
Kim
mở
nắp
hộp
ra
định
giết
Vi
Hạc
Linh
trả
thù
người
chồng
bội
phản
thì
tiếng
sấm
nổ
vang,
tất
cả
đều
biến
mất,
hiện
lại
cảnh
hoàng
lăng,
Vi
Hạc
Linh
còn
bồng
xác
vợ,
anh
ta
qua
một
giấc
mộng
dài
để
thể
hiện
dục
vọng
của
con
người
trước
sắc
đẹp
và
quyền
thế.
Ý
Mỹ
Thơ
là
tượng
đá
trên
vách
hoàng
lăng,
vị
thần
và
y
sĩ
là
một
người,
tất
cả
đã
đi
vào
giấc
mộng
của
Vi
Hạc
Linh
để
nói
lên
mặt
trái
của
những
lời
ơn
nghĩa
lúc
đầu
hôm
và
khiến
cho
con
người
sống
thật
với
lòng
mình
cho
đến
khi
tàn
mộng
đẹp.
Soạn
giả
Hoa
Phượng
có
biệt
tài
viết
những
đoạn
văn
mượt
mà,
làm
tăng
thêm
chất
văn
học
cho
các
tuồng
của
anh.
Dưới
đây
là
đoạn
văn
thể
hiện
miệng
lưỡi
của
kẻ
háo
sắc
minh
biện
cho
dục
vọng
của
mình:
-
Vi
Hạc
Linh
(nói
với
vợ
của
Sa
Tần):
Ý
Mỹ
Thơ!
Nếu
ta
muốn
bắt
buộc
khanh
thì
chắc
chắn
là
ta
bắt
buộc
được.
Nhưng
không!
Ta
muốn
nói
cho
khanh
hiểu
rằng:
bất
cứ
người
đàn
ông
nào,
khi
bước
ra
khỏi
ngưỡng
cửa
của
gia
đình,
đều
mang
tâm
trạng
của
một
con
thú
trở
về
rừng
cũ.
Và
sự
chung
tình
của
vợ
nhà
chỉ
có
giá
trị
bằng
một
sợi
dây
xích
có
tâm
hồn.
Những
đêm
rừng
ngóng
mỏ
đợi
cô
đơn,
thú
nhớ
xích
nhưng
ngại
vòng
dây
ràng
buộc.
Còn
khanh,
khanh
hãy
nghĩ
kỹ
đi.
Nếu
khanh
chết,
có
ai
chịu
bỏ
một
số
thời
giờ
vô
ích,
ngồi
tán
dương
người
tiết
phụ
hay
chăng?
Trong
khi
đó
thì
gả
Sa
Tần
lo
cưới
vợ
để
yên
bề
gia
thất.
Tại
sao
khanh
cứ
mãi
tôn
thờ
đạo
đức,
không
hay
rằng
thời
gian
đã
biến
nó
thành
chiếc
áo
vá
quàng.
Luân
lý
của
sanh
linh
phải
tùy
thuộc
chiếc
ngai
vàng,
mà
hoàng
đế
là
kẻ
cầm
cân
nảy
mực.
Ý
Mỹ
Thơ,
tất
cả
trân
châu
bảo
ngọc,
đợi
chờ
khanh
để
bay
đến
cổ
tay
khanh
và
vị
hoàng
đế
như
ta
cũng
phải
cúi
mình
hôn
gót
ngọc
của
người
giai
nhân
tuyệt
sắc.
Và
đây
là
lời
phỉnh
gạt
của
Vi
Hạc
Linh,
nói
dối
với
vợ
là
Lạc
Thi
Kim
để
xin
đôi
mắt
luyện
thuốc
trường
sinh:
-
Vi
Hạc
Linh
(nói
với
vợ
là
Lạc
Thy
Kim):
Khanh
có
biết
khi
ta
đội
chiếc
vương
miện
này
thì
ta
nhớ
đến
gì
chăng?
Ta
hồi
tưởng
lại
một
đêm
mưa
như
trút,
sấm
chớp
liên
hồi;
từ
sa
mạc
xa
xôi,
ta
ghì
lưng
ngựa
phi
nhanh
về
xóm
cũ.
Vết
thương
trên
ngực
này
vẫn
loang
máu
đỏ,
mặc
tình
cho
đàn
chó
hoang
buông
những
tiếng
sủa
vô
tư.
Ngựa
mò
về
ngôi
nhà
cũ
với
ngọn
đèn
xanh
leo
lét
hiền
từ.
Qua
phên
rách
ta
thấy
khanh
ngồi
chống
tay
ủ
rũ.
Lạc
Thy
Kim!
Tất
cả
những
hình
ảnh
đó
đã
nói
lên
lòng
người
thiếu
phụ...
(Ca
vọng
cổ)
1-
đang
thắt
thẻo
mong
chồng...
Trong
đêm
khuya
đối
ngọn
đèn
mờ,
nàng
lắng
nghe
từng
tiếng
động
trong
mưa.
Như
một
linh
hồn
dò
dẫm
lối
hư
vô.
Thương
làm
sao
mái
tóc
buông
hờ
như
giòng
suối
con
lặng
lờ
chảy
luồn
qua
hoang
vắng.
-
Kim:
Tâu
hoàng
thượng,
những
lúc
ấy
không
phải
thần
thiếp
buồn
thân
mình
đơn
chiếc,
mà
chính
là
lo
cho
người
đang
lăn
lóc
giữa
rừng
gươm.
-
Linh
(ca
câu
2):
Ngày
ngày
làm
bạn
với
xe
tơ
cùng
tiếng
thoi
đưa
dìu
dịu
tấu
thành
một
bản
đàn
độc
điệu
u
trầm...
Tuổi
xuân
trôi
theo
tiếng
nhạc
âm
thầm
mà
khanh
không
một
lời
than
thân
trách
phận.
Kẻ
làm
chồng
như
ta
thật
là
vinh
hạnh.
Nhưng
mà,
Lạc
Thy
Kim
ơi,
khanh
càng
tỏ
ra
kiên
nhẫn
thì
ta
càng
cảm
thấy
lòng
mình
đau
đớn
xót
xa.
-
Kim:
Đã
là
vợ
chồng,
sao
hoàng
thượng
còn
nghĩ
đến
những
việc
đó
làm
chi
cho
sanh
ra
phiền
muộn.
Đời
người
ta
cũng
có
khi
trầm
khi
bổng
đâu
phải
bản
đàn
độc
điệu
như
tiếng
thoi
đưa.
Nếu
nghĩ
đến
ngày
cay
đắng
thuở
xưa
thì
tình
nghĩa
ngày
nay
xin
đừng
phai
lạt.
-
Linh
(ca
câu
3):
Làm
sao
ta
quên
được
hình
bóng
của
khanh
khi
ta
đội
chiếc
vương
miện
này.
Ngai
vàng
kia
không
phải
là
bức
rào
ngăn
đôi
chồng
vợ.
Nên
ta
vội
vàng
cho
triệu
khanh
về
để
cùng
chung
hưởng
những
ngày
phú
quý.
Nhưng
mà
định
mạng
trớ
trêu
có
lẽ
đây
là
lần
gặp
mặt
sau
cùng.
Khanh
ở
lại
hoàng
cung
còn
ta
thì
trở
về
nơi
cát
bụi,
ngàn
năm
sương
khói
lạnh
lùng.
-
Kim:
Hoàng
thượng,
tại
sao
hoàng
thượng
lại
thốt
ra
những
lời
trăn
trối
trong
khi
sức
khỏe
vẫn
khang
cường?
-
Linh:
Y
sĩ
Sa
Tần
vừa
báo
cho
ta
biết,
ta
vướng
phải
một
chứng
bịnh
vô
phương
điều
trị,
nội
ngày
nay
sẽ
gặp
mặt
các
tiên
vương.
Trừ
phi
khanh
bằng
lòng
cho
ta
đôi
mắt
thì
Sa
Tần
mới
cứu
ta
thoát
chết...
Đầu
thập
niên
60,
dưới
chế
độ
Việt
Nam
Cộng
Hòa,
soạn
giả
được
tự
do
sáng
tác
nên
chỉ
trong
7
ngày
cao
hứng,
soạn
giả
Hoa
Phượng
đã
sáng
tác
được
vở
tuồng
Giấc
Mộng
Giữa
Hoàng
Lăng,
vừa
có
tác
phẩm
hay
để
cho
đào
kép
thi
tài
ca
diễn,
vừa
có
những
đêm
hát
lý
thú
cho
khán
giả
giải
trí
mua
vui
và
cũng
là
một
cách
trả
số
nợ
20.000
đồng
một
cách
rất
có
ý
nghĩa.
Nếu
chuyện
xảy
ra
sau
năm
1975,
khi
bắt
buộc
phải
viết
tuồng
theo
định
hướng
chính
trị
của
đảng
thì
10
anh
Hoa
Phượng
hợp
lại
cũng
không
thể
nào
viết
được
một
tuồng
cải
lương
theo
định
hướng
cho
ra
hồn!
Nhớ
thời
vàng
son
của
cải
lương.
Nguyễn
Phương,
2012
Theo:
phuongdiep
Tác
giả
bài
viết:
phuongdiep
Nguồn
tin:
SG
Nguyễn
Phương
Ý kiến bạn đọc