.

Cố
nhạc
sĩ
Cao
Văn
Lầu
-
cha
đẻ
của
bản
Dạ
cổ
hoài
lang
Có
thể
bạn
quan
tâm
Chính
vì
vậy,
khi
tôi
hồi
tưởng
lại
những
chặng
đường
phát
triển
của
nghệ
thuật
sân
khấu
cải
lương,
tôi
theo
dấu
vết
phát
triển
của
những
đại
gia
đình
có
nhiều
đời
theo
nghề
hát,
từ
đời
ông
cố
tới
ông
nội,
đời
cha,
con,
cháu,
chắt…,
tôi
lần
được
ra
đầu
mối
của
cả
một
quá
trình
thay
da
đổi
thịt,
những
bước
đầu
sơ
khởi
từ
“ca
ra
bộ”
đến
nghệ
thuật
sân
khấu
cải
lương
như
hiện
nay.
Những
bước
ngoặt
ra
đời
của
cải
lương
Hồi
năm
1967,
Hội
Nghệ
sĩ
Ái
hữu
Tương
tế,
trụ
sở
số
131
–
133
đường
Cô
Bắc,
Sài
Gòn
có
tổ
chức
một
cuộc
hội
thảo
đề
tài
“Kỷ
niệm
50
năm
sân
khấu
cải
lương”.
Tham
dự
buổi
hội
thảo
có
các
ông:
học
giả
kiêm
nhà
khảo
cổ
Vương
Hồng
Sển,
cụ
Á
Nam
Trần
Tuấn
Khải,
ông
Thanh
Trung
Trần
Văn
Khải,
nhà
nghiên
cứu
hát
bội
Đốc
phủ
Đỗ
Văn
Rỡ;
các
ký
giả
kịch
trường
như
Trần
Tấn
Quốc
(người
sáng
lập
Giải
Thanh
Tâm,
tặng
huy
chương
vàng
cho
diễn
viên
ca,
diễn
hay
nhứt
trong
năm),
Nguyễn
Ang
Ca,
Tô
Yến
Châu,
Phùng
Mậu,
Lê
Hiền,
Phong
Vân,
Ngọc
Linh,
Hồng
Sơn,
Hoài
Ngọc;
các
soạn
giả
các
đoàn
hát
đang
diễn
ở
Sài
Gòn
và
các
nghệ
sĩ
tài
danh
Năm
Châu,
Phùng
Há,
Ba
Vân,
Duy
Lân,
Ba
Thâu,
Năm
Lâu,
Hai
Nữ,
Kim
Cúc,
Kim
Chưởng,
Minh
Tơ,
Thành
Tôn,
Chín
Viễn,
Tám
Vân,
Thành
Được,
Hữu
Phước,
Việt
Hùng,
Ngọc
Nuôi,
Hoàng
Giang,
Thanh
Nga,
Bích
Sơn,
Ngọc
Hương,
Kim
Giác,
Kim
Hoàng,
Như
Mai.
Ban
Thư
ký
đoàn
là:
Thu
An,
Ngọc
Văn,
Nguyễn
Phương,
Ngọc
Linh
và
Kiên
Giang.
Soạn
giả
Duy
Lân
kiêm
giáo
sư
phân
khoa
kịch
nghệ
trường
Quốc
gia
Âm
nhạc
viết
bản
tham
luận
về
“Lịch
sử
50
năm
sân
khấu
cải
lương”,
được
cử
tọa
buổi
hội
thảo
tán
thành.
Theo
Duy
Lân,
sân
khấu
cải
lương
đã
được
hình
thành
như
sau:
-
Năm
1910,
ở
Mỹ
Tho
có
Ban
tài
tử
của
ông
Nguyễn
Tống
Triều
hay
Tư
Triều
(đờn
kìm),
Chín
Quán
(đờn
độc
huyền),
Mười
Lý
(thổi
tiêu),
Bảy
Võ
(đờn
cò),
cô
Hai
Nhiểu
(đờn
tranh)
và
cô
Ba
Đắc
(ca).
Bài
ca
được
hoan
nghênh
nhứt
lúc
đó
là
bản
Tứ
Đại
Oán
“Bùi
Kiệm
–
Nguyệt
Nga”,
cô
Ba
Đắc
vừa
ca
vừa
ra
bộ
rất
vui,
nên
khán
giả
khen
thưởng
nhiều.
-
Năm
1911,
ông
Trần
Chánh
Chiếu,
chủ
của
Minh
Tân
khách
sạn,
ngang
ga
xe
lửa
Mỹ
Tho
mời
Ban
tài
tử
Tư
Triều
đến
đờn
ca
ở
Minh
Tân
khách
sạn
nên
thu
hút
được
đông
đảo
khách
hàng.
Chủ
rạp
chiếu
bóng
Casino
ở
sau
chợ
Mỹ
Tho
thấy
vậy
mới
mời
Ban
ca
tài
tử
nầy
trình
diễn
mỗi
tối
thứ
tư
và
thứ
bảy
trước
khi
chiếu
phim.
Người
đàn
và
người
ca
ngồi
trên
bộ
ván
bày
trên
sân
khấu,
sau
đó
dẹp
vô
rồi
chiếu
phim.
Những
nhóm
đờn
ca
tài
tử
ra
đời
sớm
nhất
Nhà
hàng
Cửu
Long
Giang,
sau
chợ
Sài
Gòn,
đường
Espagne
(sau
gọi
là
đường
Lê
Thánh
Tôn)
cũng
mời
Ban
tài
tử
Tư
Triều
đờn
ca.
“Ca
ra
bộ”
được
hoan
nghênh
nhiệt
liệt
ở
Sài
Gòn
nên
lục
tỉnh
cũng
đua
nhau
noi
theo.

Ban
tài
tử
Nguyễn
Tống
Triều
dự
hội
chợ
các
nước
thuộc
địa
ở
Marseille,
Pháp,
năm
1906
-
Ảnh:
tư
liệu
-
Khoảng
năm
1910,
ở
Mỹ
Tho
(Tiền
Giang)
có
ban
tài
tử
của
Nguyễn
Tống
Triều,
người
xứ
Cái
Thia,
rất
nổi
tiếng.
-
Năm
1916,
thầy
André
Lê
Văn
Thận,
cò
tàu
ở
Sađéc
thành
lập
gánh
xiếc
có
phụ
diễn
vài
màn
ca
ra
bộ,
và
mời
ông
Mạnh
Tư
Trương
Duy
Toản
làm
soạn
giả
viết
tuồng
cho
gánh
hát
của
ông.
Tuồng
hát
thời
kỳ
nầy
chỉ
là
những
bài
ca
ra
bộ
được
kết
nối
nhau
theo
lối
kể
chuyện.
Bài
ca
thứ
nhứt,
bài
Tứ
Đại
Oán,
Bùi
Kiệm
thi
rớt
trở
về;
bài
thứ
2,
Bình
Bán
Vắn,
Bùi
Kiệm
và
Bùi
Ông
cãi
nhau
về
việc
thi
không
đậu,
bài
thứ
3
trở
lại
bài
Tứ
Đại
Oán
lớp
Xang
dài,
Bùi
Kiệm
ghẹo
Nguyệt
Nga.
-
Năm
1917,
ông
Pierre
Châu
Văn
Tú,
chủ
rạp
hát
thầy
Năm
Tú
sang
lại
gánh
hát
của
ông
André
Thận,
lập
gánh
hát
thầy
Tú,
có
tranh
cảnh,
y
trang,
dàn
nhạc
cổ
và
nhạc
Tây.
Soạn
giả
Mạnh
Tư
Trương
Duy
Toản
được
mời
về
viết
tuồng
cho
gánh
hát
thầy
Năm
Tú.
Các
vở
tuồng
nổi
tiếng
lúc
ấy
là
Hạnh
Nguyên
cống
Hồ,
Trang
Tử
cổ
bồn
ca.
Gánh
hát
thầy
Năm
Tú
diễn
thường
trực
tại
rạp
hát
thầy
Năm
Tú
ở
sau
chợ
Mỹ
Tho,
thứ
bảy
lên
hát
ở
Sài
Gòn,
rạp
Eden.
Về
sau,
hát
thứ
bảy
và
chúa
nhựt
tại
rạp
Moderne
(tức
là
rạp
Long
Phụng
sau
nầy).
Nhóm
tài
tử
miền
Tây
ở
Bạc
Liêu
có
ông
bầu
hát
bội
Bầu
An
tục
gọi
là
Phó
tổng
An,
cha
của
nhạc
sĩ
Lê
Tài
Khị
mà
sau
nầy
giới
sân
khấu
cải
lương
tôn
vinh
là
Hậu
Tổ
của
cải
lương.
Con
ông
Khị
là
nhạc
sĩ
Ba
Chột
(Lê
Văn
Chột)
và
con
rể
Trịnh
Thiên
Tư
là
hai
nhạc
sĩ
có
công
lớn
trong
việc
ghi
chép
lại
các
bản
cổ
nhạc
giúp
cho
việc
truyền
dạy
cổ
nhạc
có
nề
nếp
quy
củ
hơn.
Ông
Trịnh
Thiên
Tư
lại
sáng
tác
các
bài
ca
cổ
nhạc
để
diễn
giải
lịch
sử
Việt
Nam
từ
đời
Hồng
Bàng
đến
lịch
sử
cận
kim.
Môn
đệ
của
ông
Hai
Khị
và
ông
Ba
Chột
có
nhạc
sĩ
Cao
Văn
Lầu,
cha
đẻ
của
bản
vọng
cổ,
có
ông
Trần
Văn
Trung
tức
soạn
giả
Mộng
Vân,
cha
đẻ
của
các
loại
tuồng
kiếm
hiệp
La
Mã,
người
đã
sáng
tác
các
bài
bản
ngắn
rất
phổ
biến
như:
Sương
Chiều,
Tú
Anh,
Phong
Ba
Đình,
Tô
Võ,
Giang
Tô
Điểu
Ngữ…
Nhóm
ca
tài
tử
miền
Đông
đứng
đầu
là
nhạc
sư
Ba
Đợi
(Nguyễn
Quang
Đại)
có
các
môn
đệ
như
giáo
Thinh,
Tư
Nghị,
Cao
Huỳnh
Cư,
Cao
Hoài
Sang
và
những
môn
đệ
kế
tiếp
như
Chín
Kỳ,
Hai
Phát,
Tư
Huyện,
Hai
Biểu,
Sáu
Quý,
Bảy
Hàm,
Văn
Vĩ,
Tư
Còn…
(còn
tiếp)
Như
đã
kể
trên,
từ
ca
ra
bộ
tới
tuồng
hát
cải
lương,
lối
ca
hát
mới
chỉ
cần
một
khoảng
thời
gian
7
năm
để
tự
khẳng
định
cho
mình
một
phong
cách
ca
diễn
mới.
Từ
bước
đầu
hình
thành,
sân
khấu
cải
lương
đã
chia
thành
hai
dòng
sân
khấu
lớn:
Tuồng
Tàu
và
tuồng
Tây
mà
người
dân
mê
xem
hát
thường
gọi
là
tuồng
cổ
và
tuồng
xã
hội.
Ca
ra
bộ
thì
chủ
yếu
là
ca,
người
ca
sĩ
phải
có
giọng
tốt,
lối
ca
hay,
chỉ
cần
ca
thật
hay
để
diễn
đạt
tình
cảm
của
bài
ca,
còn
điệu
bộ
thì
chỉ
là
những
cử
chỉ
minh
họa
theo
lời
ca.
Từ
ca
ra
bộ
đến
cải
lương
Hát
cải
lương
thì
bài
ca
là
bài
hát
mang
tính
sân
khấu
biểu
diễn.
Trong
hát
cải
lương,
ca
và
diễn
quan
trọng
như
nhau,
có
những
trường
hợp
phải
múa,
phải
có
những
động
tác
hình
thể
diễn
đạt
tâm
trạng
nhân
vật
mà
không
cần
lời
nói,
có
khi
nói
lời
thoại
bình
thường
mà
hiệu
quả
cao
hơn
ca.
Từ
ca
ra
bộ
tiến
tới
hát
cải
lương,
nghệ
thuật
cải
lương
đã
chịu
nhiều
ảnh
hưởng
của
hát
bội
và
của
các
loại
hình
sân
khấu
khác
như
Hý
khúc
Trung
Quốc,
kịch
của
Pháp,
của
nước
Anh.
Hát
cải
lương,
nghệ
sĩ
nào
ca
hay
thì
được
gọi
là
kép
ca
hay
đào
ca,
kép
mùi
hay
đào
mùi.
Những
người
không
có
giọng
tốt
nhưng
diễn
hay
thì
là
đào
kép
diễn,
kép
độc,
kép
lẳng,
hề.
Người
nước
ngoài
muốn
tìm
hiểu
về
văn
hóa
-
nghệ
thuật
Việt
Nam,
khi
nghiên
cứu
hát
bội
và
cải
lương,
sẽ
rất
thích
thú
khi
thấy
rằng
cùng
một
đề
tài
sân
khấu,
khi
diễn
trên
sân
khấu
hát
bội
thì
mang
một
nội
dung
phong
kiến,
với
những
đạo
đức
khắt
khe
gò
bó,
nhưng
khi
phát
triển
thành
một
vở
ca
kịch
cải
lương
thì
nội
dung
mang
hơi
thở
thời
đại,
phát
triển
theo
chiều
hướng
cởi
mở
hơn,
tiến
bộ
hơn,
phù
hợp
với
tâm
tình
và
ý
nguyện
của
mọi
tầng
lớp
khán
giả
mới.
Hát
bội
và
cải
lương
có
nhiều
dị
biệt:
Tuồng
hát
bội
thường
đề
cập
đến
đạo
đức
Nho
giáo,
Phật
giáo
theo
quan
niệm
phong
kiến
với
một
trật
tự
xã
hội
khắt
khe:
Quân,
sư,
phụ.
Quân
xử
thần
tử,
thần
bất
tử
bất
trung;
Phụ
xử
tử
vong,
tử
bất
vong
bất
hiếu.
Tuồng
cải
lương
phá
bỏ
cái
vỏ
phong
kiến
đó,
đề
cao
tính
Người
và
tình
Người.
Yêu
cha
mẹ
vì
công
cha
như
núi
Thái
Sơn,
nghĩa
mẹ
như
nước
trong
nguồn
chảy
ra…
Yêu
mến
thầy
dạy
vì
không
thầy
đố
mày
làm
nên.
Muốn
sang
phải
bắc
cầu
kiều,
muốn
con
hay
chữ
phải
yêu
lấy
thầy.
Từ
chỗ
yêu
thương
cha
mẹ,
kính
trọng
biết
ơn
thầy,
tiến
đến
tình
cảm
nhớ
ơn
tổ
tiên,
thương
yêu
làng
mạc,
ăn
ở
có
nghĩa
nhân
với
bạn
bè
khiến
cho
nội
dung
tuồng
cải
lương
gần
gũi
với
cảm
quan
của
khán
giả,
với
tính
nhân
ái,
lòng
nhân
hậu
của
người
Việt
Nam.
Bà
bầu
Thơ
và
gia
đình
cố
NSƯT
Thanh
Nga.
Trong
tuồng
hát
bội,
người
phụ
nữ
phải
giữ
đạo
tam
tòng
tứ
đức:
Ở
nhà
phải
theo
cha,
lấy
chồng
phải
theo
chồng,
chồng
chết
theo
con
và
phải
ở
góa
suốt
đời
thủ
tiết.
Trong
tuồng
cải
lương
thì
quan
niệm
hạnh
phúc
và
đạo
đức
là
thuận
vợ,
thuận
chồng,
tát
biển
Đông
cũng
cạn,
là
chung
thủy,
là
chân
tình
cả
về
phía
vợ
cũng
như
phần
chồng.
Về
văn
chương,
tuồng
hát
bội
dùng
văn
biền
ngẫu,
văn
vần,
các
thể
thơ
ngũ
ngôn,
thất
ngôn
hoặc
song
thất
lục
bát
với
nhiều
chữ
Nho
và
điển
tích
khiến
cho
các
tầng
lớp
khán
giả
xem
khó
hiểu,
mất
đi
cảm
hứng.
Hóa
trang
và
diễn
xuất
theo
lối
cách
điệu,
tượng
trưng,
nhiều
khán
giả
cho
là
ngây
ngô,
quá
đáng.
Tuồng
cải
lương
trong
những
thập
niên
20-30
còn
chịu
ảnh
hưởng
nặng
của
hát
bội
nên
văn
chương
cũng
có
phần
bị
gò
bó,
cũng
có
nhiều
điển
tích
Tàu,
chữ
Nho,
nhưng
cải
lương
bắt
mạch
được
cảm
quan
của
khán
giả
và
không
bị
gò
bó
vì
những
quy
luật
của
nghệ
thuật
hát
bội
nên
cải
lương
cải
cách
lối
viết
tuồng,
cách
trang
trí,
lối
ca,
lối
diễn,
để
dần
dần
gần
gũi
với
cuộc
đời
thường,
giúp
cho
khán
giả
dễ
hiểu,
dễ
bị
lôi
cuốn,
thích
thú
với
tuồng
tích
và
yêu
mến
diễn
viên.
Các
vở
tuồng
có
các
tựa
đề
như:
Bội
phu
thiên
xử,
Châu
Trần
Tiết
Nghĩa,
Tư
Sinh
Tử,
Tối
Độc
Phụ
Nhơn
Tâm
của
những
năm
20-30
đã
biến
mất,
thay
vào
đó
những
tựa
tuồng
dễ
hiểu
và
bình
dân
hơn
như:
Tội
của
ai,
Tiếng
nói
trái
tim,
Khi
người
điên
biết
yêu…
Chúng
ta
biết
rằng
nghệ
thuật
hát
cải
lương
được
truyền
dạy,
đào
tạo
diễn
viên
bằng
cách
truyền
nghề.
Thời
Việt
Nam
Cộng
hòa,
các
giáo
sư
phân
khoa
kịch
nghệ
trường
Quốc
gia
Âm
nhạc
là
những
nghệ
sĩ
tài
danh
như:
Năm
Châu,
Phùng
Há,
Duy
Lân,
Năm
Nở,
Kim
Cúc,
Ngọc
Ánh,
Hai
Khuê,
Sáu
Tửng.
Chương
trình
dạy
diễn
xuất
và
ca
hát
là
đều
dựa
theo
trích
đoạn
các
tuồng
nổi
tiếng
như:
Đoạn
tuyệt,
Trường
hận,
Khi
người
điên
biết
yêu…
mà
các
giáo
sư
chính
là
những
nghệ
sĩ
đã
từng
thủ
diễn
thành
công
các
vai,
các
nhân
vật
tuồng
đó,
nên
đem
kinh
nghiệm
bản
thân
truyền
dạy
lại
cho
các
học
viên
kịch
nghệ.
Cách
truyền
nghề
nầy
là
thầy
ca,
diễn
một
lớp
tuồng
và
học
viên
bắt
chước
theo.
Thầy
dạy
bẻ
tay,
bẻ
chân,
luyện
giọng,
dạy
cách
ca,
cách
nói,
cách
nhả
chữ,
luyến
láy,
ngân
nga.
Ngũ
đại
gia
sân
khấu
cải
lương
Sau
1975,
các
trường
nghệ
thuật
sân
khấu
hay
các
lớp
đào
tạo
diễn
viên
của
các
đoàn
hát
Trần
Hữu
Trang
cũng
dùng
phương
pháp
truyền
nghề
như
kể
trên
và
đặt
tên
là
phương
pháp:
Thị
phạm.
Có
một
loại
trường
dạy
nghề
hát
mà
không
mang
danh
nghĩa
Trường
Nghệ
thuật,
nhưng
kết
quả
đào
tạo
thật
là
xuất
sắc,
đó
là
cách
truyền
nghề
trong
các
gia
đình
nghệ
sĩ
qua
các
thế
hệ
ông,
cha,
đến
các
con
cháu.
Sân
khấu
cải
lương
tồn
tại
và
phát
triển
được
gần
trăm
năm
nay
cũng
nhờ
vào
sự
tạo
dựng
vững
chắc
của
nhiều
gia
đình
nghệ
sĩ
hát
bội
và
cải
lương,
những
người
đã
tận
tâm
tận
lực,
sống
chết
vì
nghề
nghiệp
và
nuôi
dạy
con
cái
gìn
giữ
lấy
nghề
nghiệp.
Gia
đình
NSND
Thành
Tôn
Văn
học
Tàu
có
cái
hay
là
họ
cô
đọng
lại
trong
một
cái
tên
hay
một
câu
ngắn
gọn
mà
tóm
lược
được
một
ý
đồ,
một
câu
chuyện
lớn
như
khi
họ
nói
“Tứ
đại
mỹ
nhân
Trung
Quốc”
thì
người
đọc
truyện
Tàu
nhớ
ngay
bốn
người
đẹp
cổ
điển
của
Trung
Quốc
xa
xưa:
Tây
Thi
trầm
ngư,
Chiêu
Quân
lạc
nhạn,
Điêu
Thuyền
bế
nguyệt,
Dương
Thái
Chân
tu
hoa.
“Trầm
ngư,
Lạc
nhạn,
Bế
nguyệt,
Tu
hoa”
là
thẩm
mỹ
quan
của
Trung
Quốc
nói
về
cái
đẹp
của
mỹ
nhân.
Nghệ
sĩ
cải
lương
miền
Nam
cũng
được
hình
thành
và
phát
triển
qua
các
gia
đình
nghệ
sĩ
mà
tôi
gọi
là
“NGŨ
ĐẠI
GIA”
của
sân
khấu
cải
lương
miền
Nam:
1.
Gia
đình
nghệ
sĩ
Minh
Tơ.
2.
Gia
đình
nghệ
sĩ
Thành
Tôn.
3.
Gia
đình
nghệ
sĩ
Tư
Hélène.
4.
Gia
đình
nghệ
sĩ
Năm
Nghĩa.
5.
Gia
đình
nghệ
sĩ
Năm
Phỉ.
Ngũ
đại
gia
đều
có
năm,
sáu
thế
hệ
theo
nghề
hát,
thể
hiện
rõ
chiều
dài
của
một
quá
trình
phát
triển
từ
sân
khấu
hát
bội
truyền
thống
qua
hát
bội
pha
cải
lương…
qua
hát
bội
Hồ
Quảng,…
qua
cải
lương
tuồng
cổ…
cải
lương
tuồng
lịch
sử…
cải
lương
xã
hội.
Trong
năm
đại
gia
đình
nghệ
sĩ
(Ngũ
đại
gia),
tôi
xin
đề
cập
đến
đại
gia
đình
nghệ
sĩ
Năm
Phỉ
sau
cùng,
không
phải
vì
bốn
đại
gia
đình
đã
được
kể
trên
có
gì
đặc
biệt
hơn,
mà
chỉ
vì
tôi
muốn
theo
trình
tự
phát
triển
của
các
loại
hình
nghệ
thuật
sân
khấu
trong
hơn
50
năm
qua,
để
từ
đó
mà
nhớ
lại
các
tên
tuổi,
cuộc
đời
và
sự
nghiệp
của
các
nghệ
sĩ
đã
một
thời
góp
tinh
thần,
tài
nghệ
và
công
sức
để
xây
dựng
nên
một
nền
nghệ
thuật
sân
khấu
Việt
Nam.
Xin
nhắc
lại
các
đặc
điểm
của
mỗi
đại
gia
đình
nghệ
sĩ:
1.
Gia
đình
nghệ
sĩ
Bầu
Thắng,
Minh
Tơ,
Thanh
Tòng,
theo
nhu
cầu
thưởng
thức
của
khán
giả
đã
góp
phần
“cải
lương
hóa”
nghệ
thuật
hát
bội
truyền
thống
sang
nghệ
thuật
hát
bội
pha
cải
lương,
tiến
tới
hình
thức
hát
cải
lương
tuồng
Tàu,
cải
lương
tuồng
cổ
(dã
sử
Việt
Nam).
2.
Gia
đình
nghệ
sĩ
Thành
Tôn
-
Bạch
Lê
cùng
với
gia
đình
Bầu
Thắng
-
Minh
Tơ
canh
tân
hóa
nghệ
thuật
hát
bội
thành
loại
hình
nghệ
thuật
hát
bội
pha
cải
lương,
hát
tuồng
Tàu,
hát
Hồ
Quảng.
3.
Gia
đình
nghệ
sĩ
Hai
Nuối,
Tư
Hélène,
Kim
Hoa,
Thanh
Hằng,
Thanh
Ngân,
từ
loại
cải
lương
tuồng
Tàu,
sáng
lập
một
trường
phái
cải
lương
tuồng
kiếm
hiệp.
Nghệ
sĩ
Thiện
Tâm
(tức
Ba
Tẹt,
bầu
gánh
Phát
Thanh)
định
hình
loại
tuồng
kiếm
hiệp
với
công
thức
“Đấu
poignard,
nhảy
cửa
sổ,
ca
vọng
cổ,
phựt
đèn
màu”.
Cùng
trong
trường
phái
tuồng
cải
lương
kiếm
hiệp
có
hai
đoàn
hát
lớn
mang
bảng
hiệu
“Hậu
Tấn
-
Bảy
Cao”
và
“Hậu
Tấn
-
Năm
Nghĩa”.
Hậu
Tấn
-
Bảy
Cao
được
đổi
bảng
hiệu
là
Đoàn
Hoa
Sen
với
chủ
trương
hát
cải
lương
tuồng
chiến
tranh
hiện
đại
(được
gọi
nôm
na
là
loại
tuồng
“Cắc
Bùm”).
4.
Gia
đình
nghệ
sĩ
Năm
Nghĩa
-
Bầu
Thơ,
Thanh
Nga,
Bảo
Quốc,
xuất
thân
từ
hệ
phái
tuồng
cải
lương
kiếm
hiệp,
sáng
lập
ra
một
hệ
phái
cải
lương
tuồng
xã
hội
Việt
Nam,
xã
hội
cận
đại
và
hiện
đại.
5.
Gia
đình
nghệ
sĩ
Năm
Phỉ
-
Bảy
Nam
-
Kim
Cương,
xuất
thân
từ
phong
trào
ca
ra
bộ
đã
góp
phần
xây
dựng
loại
hình
nghệ
thuật
cải
lương
tuồng
Tây,
tuồng
Tàu,
thoại
kịch
xã
hội,
phim
ảnh
và
kịch
truyền
hình.
Sân
khấu
là
một
loại
hình
nghệ
thuật
của
nhiều
tài
năng
tổng
hợp
lại.
Từ
kịch
bản
văn
học
đến
người
đạo
diễn,
đến
các
ngành
nghề
khác
như
hội
họa,
trang
trí,
hóa
trang,
y
phục,
âm
nhạc,
tất
cả
đều
nhằm
làm
tăng
thêm
hiệu
quả
diễn
xuất
của
nghệ
thuật
diễn
viên.
Nguyễn
Phương
/
Duyên
Dáng
Việt
Nam
Ý kiến bạn đọc