Nguyễn
Văn
Học
“Tai
nghe
trống
chiến
trống
chầu/
Xếp
ba
hột
đậu
phụng
lộn
đầu
lộn
đuôi”
Mỗi
độ
tết
đến
xuân
về,
khi
nắng
hanh
vàng
trên
những
đọt
non,
lộc
biếc,
trong
lòng
những
“
người
xưa
kẻ
cũ
ấy”
lại
nghe
như
trống
vẳng
trong
lòng
cứ
như
là
thúc
giục,
là
mời
gọi,
là
ru,
là
say,
là
quay
ngược
thời
gian
kéo
hồn
người
về
nơi
cố
xứ,
về
với
gánh
hát
bội
ngày
xuân
xưa
mà
da
diết
nhớ.
Những
độ
trăng
lên
“Xuân
kỳ
thu
tế”,
làng
làng
lại
vào
mùa
hát
bội.
Người
ta
hạ
cây,
dựng
rạp
với
màng
thùng,
với
nghi
môn
và
hương
án
ngay
trên
nền
Văn
Thánh
(Văn
Miếu)
cũ,
cạnh
hai
con
kỳ
lân
cao
to
sừng
sững.
Điện
thắp
sáng
choang,
các
tấm
bảng
vẽ
quảng
cáo
nhiều
vở
tuồng
đầy
màu
sắc,
chân
dung
của
nam
nữ
diễn
viên
được
phóng
lớn
treo
dọc
vách
tường
trước
cửa,
tiếng
trống
xen
lẫn
tiếng
máy
phóng
thanh
mời
gọi
mọi
người
dồn
dập...

Gánh
hát
bội
ngày
xuân
xưa
Khi
đoàn
hát
dựng
rạp
xong,
mặt
trời
vừa
xuống
núi,
bò
chưa
về
kịp
đến
chuồng,
dải
ruộng
cấy
chưa
hết
luống
đã
nghe
thùng!
thùng!…
tiếng
trống
chầu,
trống
chiến.
“Nghe
tiếng
trống
chầu
đâm
đầu
mà
chạy.
Nghe
tiếng
trống
chiến
chết
điếng
trong
ruột…”
Ai
nấy
vội
vội
vàng
vàng
bữa
cơm
chiều
với
cá
chiên,
mắm
ruốt.
Từ
trẻ
già
trai
gái,
ai
cũng
hối
hả
đến
sân
hát
tìm
một
chỗ
thật
tiện
lợi
để
vừa
nhận
rõ
mặt
diễn
viên,
vừa
nghe
được
lời
hát.
Đám
trẻ
con
chúng
tôi
thì
chen
chúc
sau
rạp
để
coi
cho
được
kép
hát
hoá
trang,
chuẩn
bị
đêm
diễn.
Ông
Quan
Công
mặt
đỏ
râu
dài,
cầm
thanh
đao
chống
cao
tới
mũ,
Trương
Phi
thì
mặt
rằn
râu
xoắn
bước
đi
rung
reng
tiếng
lục
lạc,
mắt
quẩn
quanh
liên
láo
hét
lên
một
tiếng
là
cả
bọn
chết
điếng,
dạt
ra
ngoài.
Trần
Tường
nguyên
trong
vai
Tạ
Ôn
Hầu
trong
vở
San
Hậu
Dứt
hồi
trống
khai
trường
là
tiếng
kèn
tiếng
nhị
rộ
lên,
đám
trẻ
con
chui
qua
chân
người
lớn
chen
cho
được
đến
trước
sân
khấu,
cạnh
người
cầm
chầu
rồi
ngồi
ngay
ngắn
xem
hát.
Những
vở
dài
như:
Tam
Hạ
Nam
Đường,
Sơn
Hậu,
hay
Quan
Công
hồi
cổ
Thành…
diễn
3-4
đêm
liền
từ
8-9
giờ
đêm
cho
tới
sáng
mà
khán
giả
vẫn
kín
chật
trước
sân
không
muốn
về
nếu
kép
hát
không
ngút
hơi
nghỉ
sức.
Đám
trẻ
con
thì
mơ
mơ
tỉnh
tỉnh,
có
đứa
nằm
lăn
dưới
cỏ
cạnh
người
cầm
chầu
đánh
một
giấc
dài
rồi
bừng
thức
dậy
khi
nghe
tiếng
Trương
Phi
thúc
lính
hạ
thành.
Các
diễn
viên
nhí
trong
một
tiểu
phẩm
Trước
khi
gánh
hát
lục
đục
dọn
đến
cả
tuần
lễ,
người
ta
đã
biết
rõ
tin
tức,
loan
báo
cho
nhau
nhiều
chi
tiết
hấp
dẫn:
Gánh
hát
sẽ
tăng
cường
thêm
diễn
viên
nào
diễn
viên
nào,
sẽ
hát
tuồng
gì
tuồng
gì,
tại
sao
bà
Mộng
Thu
sẽ
đóng
vai
Tiết
Nhơn
Quý
thay
Văn
Chinh
trong
tuồng
"Tiết
Nhơn
Quý
Chinh
Đông"...
Tóm
lại,
mỗi
ngày,
mỗi
người,
không
biết
đã
đào
ở
đâu
ra
những
điều
mới
lạ
quanh
gánh
hát
chưa
kịp
dọn
đến
rạp
để
mà
bàn
chuyện.
Kép
thì
có
Văn
Chinh,
Long
Trọng,
Tư
Cá,
Nguyên
Lai.
Đào
thì
có
Mộng
Thu,
Ngọc
Cầm,
Thu
An,
Bích
Thủy.
Hề
thì
ngoài
Hề
Công,
còn
có
thêm
Tư
Lé,
Minh
Hiện...
Cái
không
khí
mùa
xuân,
ngày
Tết
cũng
vì
thế
thêm
gần,
thêm
rõ,
thúc
giục
mọi
người...
Đi
coi
hát
bộ
mỗi
khi
ra
giêng
là
một
điều
hết
sức
tuyệt
vời
mà
bất
cứ
đứa
trẻ
nhà
quê
nào.
Cũng
chẳng
phải
vì
say
coi
hát
bội,
hay
bất
cứ
điều
gì
khác
mà
tới
để
mua
bong
bóng
bay,
kẹo
ú...
bên
ngoài,
dể
tò
mò
coi
đào
kép
hoá
trang
phía
sau
tấm
màn
bên
cánh
gà.
Tới
để...
lạc
nhau
và
dớn
dác
kiếm
tìm
nhau
trong
dòng
người
đông
đúc.
Tới
để
được
chóa
mắt
bởi
ánh
đèn
sáng
trưng
rọi
trên
sân
khấu,
bởi
các
thứ
binh
khí
xiêm
y
mũ
mão
rực
rỡ...
Khác
với
người
lớn,
thường
lũ
trẻ
chỉ
chú
ý
đến
các
vai
hề.
Chúng
cũng
tụ
nhau
nhắc
kể
lại
các
pha
chọc
cười
của
các
vai
hề
của
mỗi
gánh
hát
đã
được
xem.
Bọn
chúng
tôi
đều
chịu
nhất
là
Hề
Công-
ông
ta
gây
cười
rất
duyên
dáng,
và
cũng
rất
sâu
độc.
Giống
như
cuộc
đời
mà
không
có
những
"tay
hề"
nhũng
nhiễu
múa
may
thì
cũng
buồn...
Tác
phẩm
Đổng
mẫu
di
chí
Đám
hát
bội
ngày
xuân
ngoài
tiếng
trống
chầu
ra
còn
có
những
câu
đối
đỏ
dán
trên
cột
rạp.
Thời
ấy
một
đám
hát
bội
mà
không
có
câu
đối
dán
như
thế,
xem
ra
có
vẽ
mộc
mạc
khô
cằn
rạp
hát,
các
câu
đối
tựa
như
những
cành
hoa
cài
lên
các
trụ
cột.
Thêm
một
điểm
nữa
nếu
thiếu
các
câu
đối
đỏ,
khách
quan
đến
coi
hát
có
thể
hiểu
rằng
làng
xã
này
dốt
chữ.
Như
vậy
câu
đối
còn
thể
hiện
lên
sự
học
chữ
nghĩa
văn
vẻ
của
làng.
“Năm
bảy
bước
tới
lui,
ngâm
Tông
thất
ngâm
Đường
ban,
thành
thị
chiến
trường
coi
cũng
dễ
/Chín
mười
người
qua
lại,nọ
công
hầu
nọ
mỹ
nữ,
quan
binh
tướng
sĩ
thấy
còn
dư.”
Hay: “Ngàn
dặm
quan
san,
tốc
lực
lại
qua
năm
bảy
bước/
Trăm
năm
sự
nghiệp,
thành
công
thâu
lại
một
hai
giờ.”
Hoặc
nhìn
cảnh
đào
kép
dốt
nát
đóng
vai
sắm
tuồng
xưng
ông
nghè
này
quan
trạng
nọ,
gặp
gỡ
thoáng
qua
thắp
lại
thì
đã
nên
đạo
vợ
chồng,
các
cụ
ngày
xưa
còn
làm
câu
đối
dán
lên
cột,
trong
đó
ẩm
hiện
nét
hóm
hỉnh:
Lục
lễ
vị
giai,
bán
khắc
kết
thành
phu
phụ
đạo.
Ngũ
kinh
bất
đọc,
phiến
thời
thí
trúng
trạng
nguyên
khoa.
Dịch
là:
Sáu
lễ
chưa
trình,
nửa
phút
vợ
chồng
duyên
kết
hợp
Năm
kinh
chẳng
học
tức
thời
thi
đậu
bản
trạng
nguyên.
Hoặc
để
nói
lên
cái
hay
của
nghệ
thuật
diễn
tuồng
hát
bội,
qua
cách
thể
hiện
của
giới
đào
kép
cũng
có
câu:
Tướng
hữu
dũng
tướng
hữu
tài,
vạn
cổ
binh
qua
can
bất
chiết
Hề
hà
trung
hề
hà
hiếu,
nhất
trường
oanh
liệt
mã
vô
đề.
Dịch
là:
Tướng
đủ
mạnh
tướng
đủ
tài,
vạn
cổ
chiến
tranh
gươm
chẳng
gãy.
Nọ
là
trung
nọ
là
hiếu,
một
trường
oanh
liệt
ngựa
không
chân.
Để
điểm
xuyết
thêm
còn
có
tiếng
trống
chầu,
làm
cho
hương
sắc
xuân
tưng
bừng
trổi
dậy
cả
đất
trời.
Thuở
ấy
gần
như
mọi
làng
xã
đều
có
tiếng
trống
hát
bội
hoặc
tiếng
trống
hô
bài
chòi,
nhìn
nơi
nào
cũng
thấy
xuân,sắc
xuân
trên
ngàn
cây
nội
cỏ,
trên
gương
mặt
e
ấp
tươi
rói
của
các
cô
thô
nữ,
trên
áng
mây
trôi
lờ
lững
trong
ánh
ban
mai.
Vị
được
dân
làng
đề
cử
cầm
roi
chầu
khai
lễ
hát
bội
phải
thiện
thủ
ngón
chầu,
thông
tuồng
tích
hiểu
từng
câu
hát.
Biết
khen
thưởng
đúng
tài
năng
của
đào
kép
đang
diễn
xuất,
tiếng
trống
biến
tấu
theo
câu
hát
bi
thương
hay
hùng
tráng,
kèm
theo
trống
chầu
đó
là
thẻ
thưởng
tiền.
Người
giỏi
đánh
chầu
sẽ
làm
cho
người
sành
điệu
nghe
chầu
dù
ngồi
ở
nhà
gần
đó,
vẫn
biết
là
tuồng
hát
đang
diễn
xuất
đoạn
nào,
nam
ai
hay
nam
xuân
hoặc
tẩu
mã…
Hát
bội
ngày
xưa
là
vậy.
Còn
bây
giờ,
người
ở
gần
thì
nôn
nao,
kẻ
ở
xa
thì
vương
vấn
mỗi
lúc
nghe
tiếng
trống
chầu
dẫu
chỉ
trên
màn
ảnh
nhỏ.
Mùa
xuân,
mùa
hát
bội
đã
lại
về!
Ý kiến bạn đọc