Vở
Núi
Liễu
Sông
Bằng
CLVNCOM
-
Nghệ
thuật
sân
khấu
là
một
loại
hình
nghệ
thuật
của
nhiều
ngành
nghệ
thuật
khác
tổng
hợp
lại
như
văn,
thơ,
nhạc,
múa,
hội
họa,
kiến
trúc...
những
thành
tựu
của
các
ngành
nghệ
thuật
này
góp
phần
phát
triển
ngành
nghệ
thuật
sân
khấu
cải
lương,
vì
vậy
muốn
tìm
hiểu
trong
quá
khứ
sân
khấu
cải
lương
hoạt
động
như
thế
nào,
ta
dò
theo
nền
văn
học
nghệ
thuật
và
bối
cảnh
lịch
sử
đã
sản
sinh
ra
nó.
Tuồng
lịch
sử
Việt
Nam
trên
sân
khấu
cải
lương
?
Góp
ý
với
bạn
HQ-tkd
Toulouse:
Nghệ
thuật
sân
khấu
là
một
loại
hình
nghệ
thuật
của
nhiều
ngành
nghệ
thuật
khác
tổng
hợp
lại
như
văn,
thơ,
nhạc,
múa,
hội
họa,
kiến
trúc...
những
thành
tựu
của
các
ngành
nghệ
thuật
này
góp
phần
phát
triển
ngành
nghệ
thuật
sân
khấu
cải
lương,
vì
vậy
muốn
tìm
hiểu
trong
quá
khứ
sân
khấu
cải
lương
hoạt
động
như
thế
nào,
ta
dò
theo
nền
văn
học
nghệ
thuật
và
bối
cảnh
lịch
sử
đã
sản
sinh
ra
nó.
Năm
1867,
Pháp
chiếm
trọn
6
tỉnh
Nam
Kỳ.
Ngày
22
tháng
2
năm
1869
Đề
đốc
G.
Ohier
ra
nghị
định
cưỡng
bách
dùng
chữ
quốc
ngữ
la
tinh
trong
các
giấy
tờ
chính
thức
như
thông
tư,
thông
cáo,
công
báo
và
khế
ước
giữa
dân
với
dân,
giữa
cơ
quan
nhà
nước
với
dân.
Bãi
bỏ
các
cuộc
thi
Hương,
mở
trường
dạy
chữ
Quốc
ngữ
La
tinh.
Cho
đến
cuối
thế
kỷ
19,
ở
Sài
Gòn
và
trên
toàn
cõi
Lục
tỉnh,
tiếng
Pháp
và
chữ
Pháp
trở
thành
ngôn
ngữ
chính
thức
trên
mọi
lãnh
vực
hoạt
động
xã
hội,
đặc
biệt
trong
văn
hóa
và
khoa
học
thay
cho
chữ
Hán.
Ai
cũng
biết
là
người
Pháp
chỉ
xem
chữ
quốc
ngữ
như
một
công
cụ
giao
tế
phổ
thông
giữa
nhà
cầm
quyền
Pháp
và
dân
chúng,
giữa
dân
chúng
với
nhau
(
thông
tri,
đơn
từ,
thư
tín,
khế
ước
)
nhưng
cuối
thế
kỷ
19,
đầu
thế
kỷ
20,
dân
ở
Saigon
và
lục
tỉnh
đọc
Đại
học,
Trung
dung,
Kinh
Thi,
Minh
Tâm
Bửu
giám
bằng
chữ
quốc
ngữ;
người
dân
Việt
Nam
đọc
Truyện
Kiều,
Nhị
độ
mai,
Đại
Nam
quốc
sử
diễn
ca,
Lục
Vân
Tiên
bằng
chữ
quốc
ngữ,
đọc
bao
nhiêu
chuyện
dịch
từ
chữ
Nôm,
chữ
Hán
ra
thành
quốc
ngữ,
trong
số
đó
có
gần
30
dịch
giả
dịch
và
in
sách
70
bộ
truyện
Tàu
có
những
bộ
nổi
tiếng
như
Đông
Châu
Liệt
Quốc,
Tam
Quốc
Chí,
Phong
kiếm
xuân
thu,
Ngũ
hổ
bình
Tây,
Tiết
Nhơn
Quí
chinh
đông,
Tiết
đinh
San
chinh
tây,
La
Thông
tảo
bắc,
...
Ngoài
các
truyện
Tàu
còn
có
tuồng
hát
bộiđược
in
ra:
-tuồng
San
Hậu
của
Lê
Nhựt
Ánh,
1901,
Imp.
Claude
et
Cie.
-
San
Hậu
của
Phụng
Hoàng
San
và
Võ
Thành
Ký,
1903,
Imp.
Legros.
-tuồng
Trần
Trá
Hôn
của
Đinh
Thái
Sơn,
Imp.
de
l'
Union,
1915.
-tuồng
Tam
Quốc
của
P.
Michel
dịch,
Imp.
Ménard
et
Ray,
1905.
-tuồng
Ngũ
Viên
Thiệu
bị
tên
của
Nguyễn
Bá
Thời
.
Nhà
in
Bảo
Tồn
Saigon
1931.
....
Trong
bảng
thư
tịch
của
giáo
sư
Nguyễn
Văn
Y
in
trong
sách
Địa
Chí
Văn
Hóa
thành
phố
Saigon
có
bảng
liệt
kê
hàng
trăm
tuồng
hát
bội
được
in
thành
sách
từ
năm
1901
đến
năm
1937,
các
tuồng
hát
nầy
được
các
Ban
hát
bội
miền
Nam
dựng
thành
tuồng:
Phụng
Nghi
Đình,
Huê
Dung
Đạo,
Cầu
Hôn
Giang
Tả,
Triệu
Tử
đoạt
Ấu
chúa,
Đơn
đao
phó
hội,
Tam
Khí
Châu
Du,
Quan
Công
thất
thủ
Hạ
Bì,
Trụ
Vương
-
Đắc
Kỷ,
Hoàng
Phi
Hổ
quy
Châu,
Hồ
Nguyệt
Cô
hóa
cáo,
Lưu
Kim
Đính
giải
giá
Thọ
Châu,
Ngũ
Viên
Thiệu
bị
tên,
Ngũ
biến
báo
phu
cừu,
Đào
Tam
Xuân
loạn
trào,
Trảm
Trịnh
Ân,
Tiết
Đinh
San
cầu
Phàn
Lê
Huê,
Thần
nữ
dâng
ngũ
linh
kỳ,
Xử
án
Bàng
Quí
Phi,
Địch
Thanh
ly
Thợn,
Đãi
yến
Đoàn
Hồng
Ngọc,
Mộc
Quế
Anh
dâng
cây…
Nghệ
sĩ
Thành
Tôn
,
Minh
Tơ,
Thanh
Tòng,
Thanh
Bạch,
Bữu
Truyện
lấy
các
tuồng
hát
bội
đó
viết
lại
thành
tuồng
cải
lương
tuồng
cổ;
các
nghệ
sĩ
Đức
Phú,
Phượng
Mai,
Đức
Lợi,
Bạch
Mai,
Bo
Bo
Hoàng,
Thanh
Thế,
Vũ
Linh
cũng
lấy
các
tuồng
Tàu
đó
thêm
bài
ca
Đài
Loan
thành
tuồng
Hồ
Quảng
sau
khi
thể
nghiệm
thành
công
vở
Hồ
Quảng
Lương
Sơn
Bá
-
Chúc
Anh
Đài.
Trong
khi
đó
sân
khấu
cải
lương,
từ
khi
mới
được
khai
sinh
năm
1917,
soạn
giả
Trương
Duy
Toản
soạn
tuồng
Lục
Vân
Tiên
(
tuồng
thơ
truyện
VN
)diễn
trên
sân
khấu
đoàn
hát
Thầy
Năm
Tú,
Năm
1918,
hai
soạn
giả
Đặng
Thúc
Liêng
và
Nguyễn
Viên
Kiều
soạn
tuồng
Pháp
Việt
Nhứt
Gia
(
sau
đổi
tựa
là
Gia
Long
tẩu
quốc,
tức
tuồng
dã
sử
Việt
Nam).
Đến
năm
1925,
soạn
giả
Mộc
Quán
Nguyễn
Trọng
Quyền
mới
đưa
tuồng
Phụng
Nghi
Đình
hát
trên
sân
khấu
đoàn
Tập
Ích
Ban
.
.

Từ
năm
1924
đến
năm
1926,
soạn
giả
Năm
Châu
sáng
tác
các
vở
cải
lương
tuồng
Tàu:
Tái
sanh
Duyên,
Mổ
Tim
Tỷ
Can,
Thôi
Tử
Thí
Tề
Quân,
Võ
Tòng
sát
tẩu,
Anh
hùng
náo
tam
môn
nhai,
Mộc
Quế
Anh
dâng
cây.
Sau
đó,
ông
viết
tuồng
lấy
cốt
truyện
từ
các
truyện
kiếm
hiệp
của
Pháp(
Bằng
Hữu
Binh
Nhung
–
les
trois
mousquetaires
của
Alexandre
Dumas;
Túy
Hoa
Vương
Nữ
-
Marie
Tudor
của
Victor
Hugo;
Giá
Trị
và
Danh
Dự
-
Le
Cid
của
Corneille;
Tơ
Vương
đến
thác
–
La
dame
aux
camélias
tức
Trà
Hoa
Nữ;
Gió
Ngược
Chiều
–
Ruy
Blas
của
Victor
Hugo;
Hàm
Lệ
báo
phụ
cừu
[
Hamlet
của
Shakespeare)
,
Miếng
Thịt
Người
–
Le
marchand
de
Venise.)
Từ
năm
1940
đến
1945,
chỉ
có
đoàn
Phụụg
Hảo,
đoàn
Tiến
Hóa
là
hai
đoàn
chuyên
hát
tuồng
theo
lối
Quảng
Đông
với
cốt
truyện
Tàu
như
Phụng
Nghi
Đình,
Mạnh
Lệ
Quân,
Xử
án
Bàng
Quí
Phi,
Mộc
Quế
Anh
dâng
cây…Trong
lúc
đó
có
hơn
hai
chục
đoàn
hát
cải
lương
tuồng
xã
hội
VN(
Đời
cô
lựu,
Hoa
rơi
cửa
Phật,
Men
Rượu
Hương
Tình,
Lở
Tay
Trót
đã
Nhúng
Chàm
)
hoặc
tuồng
truyện
cổ
VN(
Con
Tấm
con
Cám,
Thoại
Khanh
Châu
Tuấn,
Phạm
Công
Cúc
Hoa,
Thạch
Sanh
Lý
Thông,
Lưu
Bình
–
Dương
Lễ,
Trần
Minh
khố
chuối)
nhiều
đoàn
hát
khác
hát
tuòng
Xã
Hội
phóng
tác
theo
tiểu
thuyết
của
ông
Hồ
Biểu
Chánh
và
tuồng
Kiếm
hiệp
La
Mã
của
soạn
giả
Mộng
Vân,
Sáu
Hải
(
Long
Hình
quái
khách,
Người
nhạn
trắng
Cánh
Bườm
đen,
Sĩ
Vân
Công
Chúa….),
Dưới
thời
Pháp
thuộc,
trường
học,
từ
lớp
ba
(élémentaire
)
đến
lớp
nhứt
(
supérieur
)
nhà
trường
bắt
học
sinh
phải
nói
tiếng
Pháp
trong
trường.
Từ
Tiểu
học
đến
Trung
học,
sử
ký
và
điạ
dư
dạy
ở
trường
là
sử
ký
-
địa
dư
của
nước
Pháp.
Đến
năm
1946,
các
trường
Tiểu
Học
mới
có
chương
trình
dạy
học
bằng
tiếng
Việt
và
chữ
quốc
ngữ.
Ở
Saigòn
chỉ
có
một
nhà
bán
sách
Albert
&
Portail
ở
đường
Catinat,
không
thể
nào
mua
được
sách
Lịch
Sử
Việt
Nam
bằng
chữ
quốc
ngữ.
Sau
đó
có
nhà
sách
Khai
Trí
nên
chúng
tôi
mới
có
quyển
sách
Việt
Nam
Sử
Lược
của
Trần
Trọng
Kim
kể
từ
Thượng
cổ
thời
đại
đến
Cận
kim
thời
đại
(
kể
từ
nhà
Nguyễn
cho
dến
đầu
thế
kỷ
20.)
Bộ
Thông
Tin
của
Pháp
kiểm
duyệt
gắt
gao
những
tuồng
xã
hội
Việt
Nam,
tuồng
lịch
sử
và
dã
sử
không
được
viết
có
nhân
vật
người
Pháp
hoặc
người
từng
cộng
tác
với
Pháp.(
các
tuồng
bị
cấm
Hỏa
Hồng
Nhật
Tảo
của
Lê
Minh
–
Hoàng
Thái
Sơn,
vở
Anh
Chị
Ăn
Mày
của
s/g
Năm
Nở,
vở
Cô
Giang
Nguyễn
Thái
Học
của
Phương
Linh
(
Nguyễn
Phương
và
Thiếu
Linh
).
Năm
1945
đến
năm
1954,
chiến
tranh
Việt
–
Pháp
sôi
động.
Tại
các
thành
phố
lớn
hoặc
nơi
chợ
tỉnh,
chợ
Huyện,
công
tác
thành
và
ban
ám
sát
của
Việt
Minh
liệng
lựu
đạn
các
quán
rượu,
dancing,
nơi
rạp
hát,
nơi
tụ
tập
đông
người
nên
nhièu
gánh
hát
mất
khán
giả,
phải
rã
gánh.
Thời
kỳ
này
ít
có
tuồng
mới
được
sáng
tác
ra,
các
gánh
hát
nhỏ
hát
ở
đình,
miếu,
hát
các
trích
đoạn
tuồng
Tàu
trong
các
dịp
cúng
Kỳ
Yên.
Hòa
bình
được
lập
lại,
từ
năm
1954
đến
năm
1965,
sân
khấu
cải
lương
với
hơn
60
đoàn
hát
từ
Cà
Mau
đến
sông
Bến
Hải
đã
diễn
không
dưới
40
tuồng
lịch
sử
và
dã
sử
Việt
Nam,
hàng
chục
tuồng
cổ
tích
Việt
Nam
và
hàng
mấy
trăm
tuồng
xã
hội
cận
đại
Việt
Nam
Tuồng
lịch
sử
và
dã
sử
Việt
nam:
1.
-
Đất
Việt
của
Người
Việt.....
đoàn
Thanh
Minh
bầu
Nghĩa.
2.
-
Biên
thùy
nổi
sóng..............
""
3.
-
Đồ
Bàn
di
hận
....................
""
4.
-
Tình
tráng
sĩ
.......................
""
5.
-
Lửa
hờn....................
""
6.
-
Tiếng
sấm
Hà
Hồi
..............
""
7.
-
Nẽo
tắt
Hoành
sơn
.........
Đoàn
Thanh
Minh
Thanh
Nga
Bầu
Thơ
8.
-
Áo
gấm
khôi
nguyên..........
""
9.
-
Hồi
trống
Vân
Lâu
...........
""
10.
-
Ngược
Dòng
sông
Lổi.........
""
11.
-
Núi
Liễu
sông
Bằng
............
""
12.
-
Đường
về
Lam
Sơn
............
""
13.
-
Ngược
sóng
Phú
Lương
.....
""
14.
-
Cô
Giang
-
Nguyễn
Thái
Học...
""
15.
-
Tiếng
trống
Mê
Linh................
Đoàn
Thanh
Nga
16.
-
Bên
Cầu
Dệt
Lụa......................
""
17.
-
Muôn
Dặm
Tìm
Chồng............
""
18.
-
Áo
Cưới
Trước
cổng
chùa........
""
19.
-
Thái
Hậu
Dương
Vân
Nga
.......
""
20.
-
Bên
Cầu
Vọng
Thê...................
Đoàn
Kim
Chung
Bầu
Long
21.
-
Khói
cỏ
Quê
Hương...................
""
22.
-
Hỏa
Hồng
Nhật
Tảo
..................
""
23.
-
Giai
nhân
và
tráng
sĩ.............
""
24.
-
Gánh
cỏ
sông
Hàn..............
Đoàn
Hương
Mùa
Thu
Bầu
Thu
An
25.
-
Con
cò
Trắng
............................
""
26.
-
Lá
của
rừng
xanh....................
""
27.
-
Tiếng
Trống
Sang
Canh.......
Đoàn
Thủ
Đô
Bầu
Ba
Bản
28.
-
Sầu
Quan
Ải
..............................
""
29.
-
Nguyễn
Trãi
Biệt
Đông
Quan.
Đoàn
Phước
Chung...Bầu
Tám
Kiết
30.
-
Núi
Rừng
Lên
Tiếng
.................
""
31.
-
Lá
Chắn
Biên
Thùy......
Đoàn
Huỳnh
Long
........Bầu
Ngọc
Hương.
32.
-
Hùm
Thiêng
Yên
Thế
...........
""
33.
-
Lam
Sơn
khởi
nghĩa
..............
""
34.
-
Câu
Thơ
Yên
Ngựa
...........
Đoàn
Minh
Tơ
.............
Bầu
Minh
Tơ
35.
-
Tô
Hiến
Thành
Xử
Án
..........
""
36.
-
Ngọc
Hân
Công
Chúa
............
Đoàn
Trần
Hữu
Trang
37.
-
Rạng
ngọc
Côn
Sơn
………..
`````
38.
-
Bùi
Thị
Xuân
……………….
````
39.
-
Thái
Hậu
Dương
Vân
Nga
(
s/g
Hoa
Phượng
–
Hoàng
Viêt,
)
40
.
-
Chim
Việt
Cành
Nam
……..
````
41.
-
Lấp
Sông
Gianh
…………
Đoàn
Kim
Thoa.
42.
-
Đường
lên
xứ
Thái
……………
Đoàn
Việt
Hùng
–
Minh
Chí
Tôi
không
nhớ
đoàn
hát
nào
đã
diễn
các
tuồng
Cành
Đào
Thăng
Long,
Lê
Lai
Cứu
Chúa,
Thủ
Khoa
Huân….
.
Ngoài
các
tuồng
lịch
sử,
dã
sử
kể
trên,
hầu
hết
các
truyện
thơ,
truyện
cổ
tích
Việt
Nam:
Con
Tấm
con
Cám,
Thạch
Sanh
Lý
Thông,
Thoại
Khanh
Châu
Tuấn,
Trần
Minh
khố
chuối
(
tức
Bên
cầu
dệt
lụa,
Lưu
Bình
Dương
Lễ
)đều
được
dựng
thành
tuồng
hát
trên
sân
khấu
cải
lương.
Như
vậy,
chúng
ta
thấy
tuồng
cải
lương
lịch
sử,
dã
sử
Việt
Nam
được
sáng
tác
và
biểu
diễn
rất
nhiều
nhứt
là
trong
hai
thập
niên
60,
70
thế
kỷ
trước,
tuy
nhiên
khán
giả
vẫn
cảm
giác
là
sân
khấu cải
lương
diễn
quá
nhiều
tuồng
Tàu
vì
người
ta
nhớ
chuyện
tuồng
Tàu,
các
nhân
vật
Tàu
mà
không
nhớ
rõ
cốt
truyện
tuồng
dã
sử
Việt
Nam.
Phải
công
nhận
là
các
truyện
Tàu
viết
hay
hơn
các
tiểu
thuyết
dã
sử
Việt
Nam.
Trong
các
thập
niên
10,
20,
30,
40
của
thế
kỷ
trước,
người
miền
Nam
thích
đọc
truyện
Tàu
vì
họ
thấy
các
nhân
vật
quan
trọng
của
truyện
có
những
đức
tính
cố
hữu
mà
họ
được
gia
đình
và
nhà
trường
giáo
dục
cho,
đó
là
Trung
Hiếu,
Tiết
Nghĩa,
Trí
Dũng,
Tín
Lễ,
Cương
Trực,
Anh
Hùng.
Trong
truyện
Tàu,
nhân
vật
chánh
có
những
cặp
đối
kháng
quyết
liệt,
tạo
ra
nhiều
tình
tiết
gay
cấn,
hấp
dẫn
và
diễn
đạt
được
cá
tính
sống
động
của
từng
nhân
vật.
Đó
là
La
Thành
-
Đơn
Hùng
Tín,
Tần
Cối
-
Nhạc
Phi,
Bàng
Quyên
–
Tôn
Tẫn,
Tào
Tháo
–
Châu
Du…Tính
cách
điển
hình
của
nhân
vật
truyện
Tàu
quen
thuộc
với
khán
giả
đã
đi
vào
thành
ngữ,
vào
cách
nói
chuyện
của
dân
bình
thường
Việt
Nam
:
Nóng
như
Trương
Phi,
Trung
nghĩa
như
Quan
Công,
Khóc
như
Lưu
Bị,
Gian
manh
như
Tào
Tháo,
lẳng
lơ
như
Điêu
Thuyền,
Mải
quốc
cầu
vinh
như
Bàng
Hồng
Tôn
Tú,
Chuyện
tuồng
lịch
sử
hay
dã
sử
Việt
Nam
thì
chỉ
có
xăm
lăng
và
chống
xăm
lăng,
cá
tính
nhân
vật
tuồng
không
đa
dạng,
cốt
truyện
không
gay
cấn,
khán
giả
coi
tuồng
lịch
sử,
dã
sử
Việt
Nam
không
thấy
hấp
dẫn,
không
thích
thú.
Cả
mấy
năm
nay
cải
lương
không
có
sáng
tác
mới,
các
nhóm
nghệ
sĩ
hát
các
trích
đoạn
cải
lương
tuồng
Tàu
và
Hồ
Quảng
để
kiếm
sống,
điều
này
càng
làm
cho
thức
giả
nghĩ
là
không
có
tuồng
viết
về
danh
nhân
hay
lịch
sử
Việt
Nam.
Thêm
một
lý
do
về
thời
cuộc
khiến
cho
nghệ
thuật
sân
khấu
cải
lương
ngày
một
phải
bị
mất
đi:
Từ
khi
được
khai
sinh
năm
1917
đến
năm
1930
gặp
khủng
hoảng
kinh
tế
toàn
cầu,
VN
cũng
bị
ảnh
hưởng,
dân
không
có
cơm
ăn
áo
mặc,
tiền
đâu
mua
vé
xem
hát?
Cải
lương
lận
đận
vài
năm.
Năm
1939,
chiến
tranh
Trung
Nhật
rồi
Thế
chiến
thứ
2,
Xã
hội
VN
phân
hóa
dữ
dội,
năm
1940
Nhật
vô
Đông
Dương,
Đồng
Minh
dội
bom
xuống
các
thành
phố
lớn
có
quân
Nhật
chiếm
đống,
sân
khấu
cải
lương
ngoắc
ngoải…Năm
1943,
Hà
Nội
và
miền
Bắc
bị
nạn
đói,
chết
hơn
hai
triệu
người,
Cải
Lương
sống
mạnh
được
sao
?
Rồi
tới
1945
đến
1954,
chiến
tranh
Việt
–
Pháp,
trong
các
thành
phố
lớp
bị
Tây
ruồng
bố,
lớp
bị
Việt
Minh
quăng
lựu
đạn,
công
tác
thành
ám
sát,
xã
hội
bất
ổn
9
năm,
các
gánh
hát
Cải
Lương
rã
lên
rã
xuống.
Chỉ
được
mấy
năm
thời
Cộng
Hòa
1954
đến
1968,
sau
cái
Tết
Mậu
Thân
68
rồi
mùa
Hè
Đổ
lửa
1972,
kế
đến
ngày
30
tháng
4
đen,
Cải
lương
thành
cái
loa
tuyên
truyền
theo
định
hướng
XHCN,
chết
lần
chết
mòn
cho
tới
chết
tiệt
lúc
nào
không
ai
hay
!
Phải
chăng
đây
là
lý
do
khiến
cho
khán
giả
tưởng
là
sân
khấu
cải
lương
không
có
tuồng
lịch
sử
hay
dã
sử
Việt
Nam.
Già
quá
rồi,
nghĩ
về
dĩ
vãng
mệt
quá,
không
biết
viết
có
gì
sai
sót,
xin
các
bạn
thông
cảm.
Soạn
giả
Nguyễn
Phương
3
/
2017
Chú
ý:
Việc
đăng
lại
bài
viết
trên
ở
website
hoặc
các
phương
tiện
truyền
thông
khác
mà
không
ghi
rõ
nguồn
http://www.cailuongvietnam.com
là
vi
phạm
bản
quyền
Ý kiến bạn đọc