Đang
truy
cập
:
740
•Máy chủ tìm kiếm : 2
•Khách viếng thăm : 738
Hôm
nay
:
3659
Tháng
hiện
tại
:
2898978
Tổng
lượt
truy
cập
:
121167010
13/4 đến rồi 13/4 về cũng như ngày Tết vậy, sinh nhật web lần thứ 22 của web cailuongvietnam.com lại đến, xin chúc trang web và Àdmin luôn được nhiều sức khoè. được sự tin yêu của bạn đọc và luôn là nơi dừng bước của khách mộ điệu nghệ thuật cải lương, quá khứ vàng son hay một tương lai vô định với những giấy phút tìm về, trăn trổ hướng đi, phát triển... hay...
Từ câu vọng cổ trong ba lô : Nhà giáo Nhân Dân Trường Nghệ Thuật sân khấu II_ Thầy Hà Quang Văn.
Người
thầy
“Tràng
An”
Trong
buổi
trình
diễn
đầu
tiên
của
nghệ
sĩ
hải
ngoại
Kiều
Oanh
tổ
chức
tại
Nhà
hát
Kịch
thành
phố
năm
2006,
ở
hàng
ghế
khách
mời
danh
dự
có
một
người
đàn
ông
tóc
đã
muối
tiêu,
đăm
đăm
hướng
về
sân
khấu.
Đôi
mắt
ông
rưng
rưng
khi
Kiều
Oanh
xuất
hiện,
cúi
đầu
chào
bà
con
quê
hương.
Người
đàn
ông
đó
là
Nhà
giáo
nhân
dân
Hà
Quang
Văn,
Hiệu
trưởng
Trường
Nghệ
thuật
Sân
khấu
II,
sau
là
Cao
đẳng
Sân
khấu,
Điện
ảnh
TP
Hồ
Chí
Minh
(và
nay
là
Trường
Đại
học
Sân
khấu,
Điện
ảnh
TP
Hồ
Chí
Minh).
Trở
về
Việt
Nam
sau
nhiều
năm
bôn
ba
trên
đất
Mỹ,
diễn
cho
đồng
bào
mình
xem,
Kiều
Oanh
xúc
động
tri
ân
người
thầy
đã
dìu
dắt
cô
sinh
viên
nghèo
từ
những
ngày
đầu
chập
chững.
Thầy
trò
hội
ngộ,
mừng
mừng
tủi
tủi.
Ngày
ấy,
Kiều
Oanh
là
sinh
viên
khoa
Cải
lương,
Trường
Nghệ
thuật
Sân
khấu
II.
Thầy
Hà
Quang
Văn
là
trưởng
khoa.
Nhà
Oanh
nghèo.
Ra
trường
năm
1993,
Oanh
vẫn
chưa
có
một
chỗ
đứng,
vẫn
bươn
bả
mưu
sinh
khắp
nơi
từ
đóng
cải
lương,
kịch,
làm
MC,
tham
gia
sân
khấu
quần
chúng…
Vở
cải
lương
“Có
những
tấm
lòng”
đã
đủ
vai.
Thế
nhưng
đọc
kịch
bản,
thầy
Văn
thấy
vở
kịch
vẫn
thiếu
nhân
vật
làm
nên
kịch
tính,
đẩy
tình
huống
kịch
lên
đến
cao
trào.
Thầy
chợt
nghĩ
đến
Kiều
Oanh,
và
nhân
vật
Trang
Đài
đã
xuất
hiện
do
chính
thầy
“đo
ni
đóng
giày”
cho
cô.
Trang
Đài
nghèo
khổ,
tuy
đanh
đá,
bất
cần
nhưng
mang
một
trái
tim
nhân
hậu,
mạnh
mẽ
vượt
lên
số
phận
trong
vở
chính
là
hình
ảnh
của
Kiều
Oanh
ngoài
đời.
Phải
rất
hiểu
học
trò,
thầy
Văn
mới
có
thể
dựng
nên
một
nhân
vật
như
thế.
Mọi
người
trong
đoàn
lúc
đó
phản
đối
kịch
liệt
vì
sợ
thêm
vai
ngoài
kịch
bản
sẽ
làm
hỏng
vở.
Riêng
thầy,
tin
chắc
rằng
với
vai
diễn
này,
cô
trò
nhỏ
sẽ
làm
nên
chuyện.
Còn
với
Kiều
Oanh,
lên
sàn
tập
rồi,
cô
vẫn
tưởng
thầy
đùa
khi
giao
cho
mình
vai
diễn
này.
Và
đúng
như
thầy
tiên
liệu.
Vở
diễn
đã
đem
về
cho
Kiều
Oanh
Huy
chương
vàng
Hội
diễn
Sân
khấu
chuyên
nghiệp
toàn
quốc
năm
1995,
được
Tạp
chí
Sân
khấu
Trung
ương
bình
chọn
là
một
trong
những
gương
mặt
nữ
diễn
viên
triển
vọng,
tạo
nên
nấc
thang
mới
cho
con
đường
nghệ
thuật
của
cô.
“Có
lần,
tôi
vào
kho
phim
tốt
nghiệp.
Nhìn
những
bộ
phim
ngắn
đóng
bụi,
mốc
meo
trên
kệ
tủ,
tự
dưng
tôi
thấy
xót
quá.
Chẳng
lẽ
sinh
viên
lao
tâm
khổ
tứ
viết
kịch
bản,
bỏ
ra
có
khi
đến
mấy
chục
triệu
làm
phim,
vất
vả
quay
hàng
tháng
trời,
rồi
đưa
cho
thầy
cô
xem
15
phút,
chấm
điểm
là
xếp
xó?
Tôi
bàn
với
nhà
trường
là
phải
chọn
lọc
và
đem
các
tác
phẩm
đó
đi
dự
thi,
nếu
không
công
sức
sáng
tạo,
đầu
tư
của
học
trò
bị
phí
hoài.
Chắc
chắn
trong
đó
đang
chứa
đựng
những
mầm
tài
năng.
Gửi
đi
dự
thi
biết
đâu
lại
tạo
được
cơ
may
cho
các
em”.
Ý
kiến
của
thầy
lúc
đó
khá
táo
bạo
vì
xưa
nay
chưa
ai
đem
phim
của
sinh
viên
tham
dự
Hội
thi
liên
hoan
phim
ngắn
toàn
quốc.
Nhưng
nói
là
làm.
Thầy
vào
kho
lục
tìm,
xem
lại
tất
cả
các
bộ
phim
của
học
trò
rồi
chọn
lọc
mang
đi
thi.
Trong
số
đó
có
phim
“Chuột”
của
sinh
viên
Vũ
Ngọc
Đãng.
Bộ
phim
được
Ban
tổ
chức
đánh
giá
cao
bởi
tư
duy
đạo
diễn
rất
độc
đáo.
Sự
quyết
đoán,
táo
bạo
của
thầy
hiệu
trưởng
khi
ấy
đã
tìm
ra
một
đạo
diễn
tài
năng
đóng
góp
cho
nền
điện
ảnh
nước
nhà
sau
này.
Những
năm
tháng
công
tác
ở
trường,
đã
có
biết
bao
thế
hệ
học
trò
trưởng
thành
dưới
sự
dìu
dắt
của
thầy,
gặt
hái
thành
công
trên
con
đường
sự
nghiệp
như
thế.
Nhà
giáo
nhân
dân
Hà
Quang
Văn
sinh
năm
1946
tại
Hà
Nội,
là
con
trai
thứ
của
NSND
Ái
Liên,
một
đào
nương
cải
lương
nổi
tiếng
đất
Bắc
và
doanh
nhân
Hà
Quang
Định.
Lớn
lên
từ
rạp
hát
của
gia
đình,
cậu
bé
Văn
mới
lên
8
đã
mê
điệu
cải
lương
ngọt
ngào.
Đêm
nào
cậu
cũng
nghêu
ngao
hát
theo
các
cô
chú
đang
biểu
diễn
trên
sân
khấu.
Hứng
chí
quá,
cậu
bé
còn
múa
may
tay
chân
theo
vũ
đạo
của
các
diễn
viên
ngay
nơi
ghế
ngồi
làm
khán
giả
mấy
lần
hú
vía.
Bị
ba
mẹ
cấm
cản
vì
sợ
con
khổ
bởi
nghiệp
“xướng
ca
vô
loài”
nhưng
Văn
vẫn
trốn
ba
mẹ
đi
thi
khoa
diễn
viên
cải
lương
ở
trường
Ca
kịch
Dân
tộc
(nay
là
Đại
học
Sân
khấu).
Năm
1985,
thầy
rời
Hà
Nội,
xuôi
về
phương
Nam
và
bắt
đầu
giảng
dạy
tại
khoa
Cải
lương,
Trường
Nghệ
thuật
Sân
khấu
II.
Cả
cuộc
đời
gắn
bó
với
cải
lương,
với
bục
giảng,
đến
nay
thầy
đã
dựng
được
hơn
100
vở
và
hàng
chục
đề
tài
nghiên
cứu
về
cải
lương,
nghệ
thuật
sân
khấu
truyền
thống.
Trong
đó
có
nhiều
vở
để
lại
tiếng
vang
lớn
như:
“Ký
họa
đồng
bằng”
năm
1990
(tác
giả:
Lê
Duy
Hạnh);
“Quay
về
kỷ
niệm”
năm
1995
(tác
giả
Huỳnh
Thanh
Tuấn)…
đoạt
nhiều
Huy
chương
vàng,
Huy
chương
bạc
ở
các
hội
diễn
toàn
quốc.
Nhiều
năm
giảng
dạy,
nhận
thấy
có
nhiều
bạn
trẻ
say
mê
sân
khấu,
điện
ảnh
nhưng
không
đủ
điều
kiện
theo
học
tại
trường,
thầy
Hà
Quang
Văn
còn
kết
hợp
với
Đài
Truyền
hình
TP
Hồ
Chí
Minh,
vận
động
thầy
cô
và
sinh
viên
trường
thực
hiện
chương
trình
“Sân
khấu
học
đường”
–
một
chương
trình
giảng
dạy
diễn
xuất
trên
truyền
hình.
Dù
đã
về
hưu
từ
năm
2007
nhưng
các
lời
mời
luôn
khiến
thầy
tất
bật,
nào
là
chấm
thi,
dàn
dựng,
nào
là
cố
vấn,
thỉnh
giảng…
Thầy
cười
hiền
từ:
“Làm
sao
mà
nghỉ
ngơi
được
khi
lớp
trẻ
còn
cần
mình
mà
mình
thì
còn
yêu
nghề
quá!”.
“Ma
lực
đồng
tiền”
là
vở
diễn
mới
nhất
thầy
dàn
dựng
cho
Đoàn
Cải
lương
Ánh
Hồng
(Trà
Vinh),
tham
gia
liên
hoan
sân
khấu
cải
lương
chuyên
nghiệp
toàn
quốc
năm
2012.
Sân
khấu
trong
ba
lô
Những
năm
tháng
tiếng
hát
át
tiếng
bom,
phục
trang,
đạo
cụ,
lương
thực…
nằm
gọn
trong
chiếc
ba
lô
theo
những
nghệ
sĩ
trong
Đoàn
Cải
lương
Nam
Bộ
ra
chiến
trường.
Thầy
Hà
Quang
Văn
gọi
sân
khấu
ngày
ấy
là
“sân
khấu
trong
chiếc
ba
lô”.
Cõng
trên
vai
30kg,
những
nghệ
sĩ
“thục
nữ”,
“thư
sinh”
vẫn
băng
rừng,
băng
núi
để
mang
lời
ca
tiếng
hát
đến
với
người
lính.
Thầy
Hà
Quang
Văn
vào
Đoàn
Cải
lương
Nam
Bộ
năm
1962.
Năm
1966,
đoàn
đi
biểu
diễn
cho
anh
em
bộ
đội
ở
Lạng
Sơn.
Năm
1972,
đoàn
tiếp
tục
hăng
hái
tham
gia
biểu
diễn
ở
chiến
trường
Quảng
Trị.
Biết
gian
khổ,
biết
có
thể
hy
sinh,
mất
mát
nhưng
những
con
người
quả
cảm
nghe
theo
tiếng
gọi
của
Tổ
quốc,
quyết
ra
đi
không
hẹn
ngày
về.
Thầy
bảo:
“Lúc
đó
trong
chúng
tôi
chẳng
ai
nghĩ
đến
cái
chết”.
Phục
vụ
trên
tuyến
lửa,
thầy
và
những
nghệ
sĩ
trong
đoàn
mới
hiểu
được
sự
khốc
liệt
của
chiến
tranh
khi
tận
mắt
chứng
kiến
sự
hy
sinh
của
đồng
đội.
Đêm,
xe
chạy
không
đèn
để
tránh bị
phát
hiện.
Trời
tối
om,
chẳng
ai
nhìn
thấy,
nhưng
câu
vọng
cổ
vẫn
ngân
lên
ngọt
ngào
để
động
viên
tinh
thần
cho
nhau.
Đoạn
đường
xe
không
đi
được,
cả
đoàn
phải
hành
quân.
Ba
lô
ghì
chặt
chân
người.
Những
giọt
mồ
hôi
lăn
lên
khóe
môi
đang
hát.
Tiếng
hát
lan
xa,
thúc
giục.
“Một,
hai,
một,
hai,
ba
lô
trên
vai
Lá
ngụy
trang
đung
đưa
theo
nhịp
chạy
Cây
bên
đường
như
giơ
tay
chào
vẫy
Những
con
người
trỗi
dậy
tuổi
hai
mươi”
Đã
mấy
lần
thầy
Văn
suýt
chết
trong
gang
tấc.
Hồi
ở
Yên
Bái, bị
ném
bom
dữ
dội.
Thầy
cùng
một
anh
bạn
núp
dưới
khóm
chuối.
Thế
mà
không
hiểu
sao,
miểng
bom
chỉ
xẹt
ngang,
chứ
không
trúng
vào
người,
cây
cối
xung
quanh
thì
tan
hoang.
Có
lần
xe
của
đoàn
đang
lên
dốc
thì
đứt
thắng
tụt
ngược
xuống.
Xe
đâm
vào
hàng
rào
thép
gai,
mọi
người
bỏ
chạy
tán
loạn.
Khói
ở
đâu
bốc
lên
mù
mịt,
cay
xè.
Riêng
Hà
Quang
Văn
mở
mắt
ra
thì
thấy
mình
đang
nằm
trong
“bụi”
thép
gai
từ
bao
giờ
nhưng
may
mắn
không
bị
thương.
Đưa
cho
tôi
tấm
hình
đoàn
chụp
ở
chiến
trường,
thầy
Văn
kể:
“Chúng
tôi
biểu
diễn
cho
những
người
lính
ở
cả
hai
chiến
tuyến.
Cho
nên
mỗi
lần
đặt
chân
đến
một
điểm
biểu
diễn,
đoàn
lại
cử
chú
Lưu
Chi
Lăng
và
mẹ
tôi
để
thương
lượng
với
quân
đội
Sài
Gòn.
Sân
khấu
chỉ
là
bãi
đất
trống,
bãi
cỏ,
thậm
chí
là
bãi
mìn.
Có
nơi,
bộ
đội
còn
làm
sân
khấu
bằng
những
tấm
thép
của
đường
băng
sân
bay
Ái
Tử
cho
chúng
tôi
biểu
diễn.
Khi
xem,
quân
ta
bên
này,
quân
địch
bên
kia,
ngăn
cách
bởi
hàng
rào
thép
gai
có
cài
mìn.
Ai
cũng
sẵn
sàng
súng
đạn.
Lúc
mới
chuẩn
bị
biểu
diễn
chúng
tôi
hơi
lo,
nhưng
khi
vở
diễn
bắt
đầu,
ai
nấy
đều
say
sưa.
Dường
như
sân
khấu
cảm
hóa
con
người.
Khi
bài
“Lý
con
sáo”
của
mẹ
tôi
kết
thúc,
những
người
lính
hai
bên
chiến
tuyến
đều
hô
to:
“Má
ơi,
hát
nữa
cho
tụi
con
nghe
đi
má”.
Những
vở
cải
lương
đoàn
mang
đến
ca
ngợi
tình
yêu
quê
hương
đất
nước,
đạo
lý
làm
người...
Tôi
còn
nhớ,
trong
một
vở,
tôi
đóng
vai
lính
Sài
Gòn.
Cảnh
đó
khiến
anh
em
hai
chiến
tuyến
đều
rất
xúc
động”.
Những
năm
tháng
phục
vụ
tuyến
lửa
là
chất
liệu
để
thầy
dựng
nên
những
vở
cải
lương
về
đề
tài
chiến
tranh,
đem
câu
chuyện
của
mình
nhắn
gửi
lại
cho
bao
lớp
học
trò.
Từ
những
câu
chuyện
của
người
thầy
đáng
kính,
họ
hiểu
rằng,
câu
ca
tiếng
hát
của
mình
trên
hết
là
để
phục
vụ
cho
quê
hương,
đất
nước
chứ
không
phải
là
nấc
thang
để
mưu
cầu
danh
vọng.
Với
những
đóng
góp
lớn
lao
cho
sự
nghiệp
cách
mạng
cũng
như
sự
nghiệp
trồng
người,
thầy
Hà
Quang
Văn
đã
được
Nhà
nước
trao
tặng
Huân
chương
kháng
chiến
chống
Mỹ
hạng
ba,
Huân
chương
Lao
động
hạng
ba
(năm
2004),
Huân
chương
vì
thế
hệ
trẻ,
Huân
chương
vì
sự
nghiệp
sân
khấu
Việt
Nam...
Năm
2006,
thầy
vinh
dự
là
một
trong
hai
nhà
giáo
đầu
tiên
của
Bộ
Văn
hóa,
Thể
Thao
và
Du
lịch
được
Nhà
nước
phong
tặng
danh
hiệu
Nhà
giáo
nhân
dân.
Mã
an
toàn:

13/4 đến rồi 13/4 về cũng như ngày Tết vậy, sinh nhật web lần thứ 22 của web cailuongvietnam.com lại đến, xin chúc trang web và Àdmin luôn được nhiều sức khoè. được sự tin yêu của bạn đọc và luôn là nơi dừng bước của khách mộ điệu nghệ thuật cải lương, quá khứ vàng son hay một tương lai vô định với những giấy phút tìm về, trăn trổ hướng đi, phát triển... hay chỉ thư giản thôi.
Ý kiến bạn đọc