Sắp
tới
đây
là
kỷ
niệm
21
năm
ngày
thành
lập
trang
web
cailuongvietnam.com
(13/04/2004
-
13/04/2025)
Dây
là
trang
tin
tức
đầu
tiên
của
cailuongvietnam.com
từ
năm
2004.
Còn
đuọc
gọi
là
CLVNCOM1
.
Thân
mời
các
dộc
giả
xem
những
bằi
mới
hơn
tại
trang
tin
tưc
CLVNCOM2
theo
link
dưới
dây
https://www.cailuongvietnam.com/newscl
Xem
tiếp...
Năm
2011,
nhân
dịp
qua
San
José
thăm
gia
đình
con
gái,
tôi
đi
Westminster,
đến
khu
Phước-Lộc-Thọ
thăm
các
bạn
Văn
Chung,
Phượng
Liên,
Hương
Huyền,
Kim
Tuyến,
Ngọc
Đan
Thanh
và
Chí
Tâm...
Các
bạn
nhắc
thời
hoàng
kim
của
sân
khấu
cải
lương
và
ngỏ
ý
muốn
mở
lớp
đào
tạo
nghệ
sĩ
cải
lương
ở
hải
ngoại.
Tôi
biết
các
bạn
yêu
nghề
và
muốn
đào
tạo
một
thế
hệ
nghệ
sĩ
trẻ
tiếp
nối
thực
hiện
niềm
đam
mê
nghệ
thuật
cải
lương
của
các
bạn.
Họ
hỏi
tôi
về
cách
thức
truyền
nghề
của
các
nghệ
sĩ
tiền
phong
và
cách
thức
mà
trường
nghệ
thuật
sân
khấu
trong
nước
hiện
đang
dùng
để
các
bạn
rút
kinh
nghiệm,
làm
thành
một
chương
trình
giảng
dạy
hữu
ích
và
dễ
thực
hiện.
Sau
năm
1975,
tôi
không
biết
đầy
đủ
chương
trình
giảng
dạy
của
trường
Nghệ
Thuật
Sân
Khấu,
trong
các
năm
1985,
1986,
tôi
có
dịp
đến
nhà
hát
Trần
Hữu
Trang
và
đến
trường
Nghệ
Thuật
Sân
Khấu
ở
đường
Cống
Quỳnh,
dự
vài
buổi
truyền
dạy
nghề
hát
của
các
thầy
cô
(các
cố
nghệ
sĩ
Phùng
Há,
Kim
Cúc
và
cố
cán
bộ
Bích
Lâm,
Tường
Trân...)
Ngoài
các
buổi
dạy
diễn
xuất,
các
nghệ
sĩ
tiền
phong
Phùng
Há,
Kim
Cúc
thường
lấy
các
trích
đoạn
tuồng
(Đời
Cô
Lựu,
Tô
Ánh
Nguyệt,
Phụng
Nghi
Đình...)
để
các
học
viên
học
và
diễn
lại
cho
bà
xem,
qua
đó
bà
dạy
lại
cách
nói
lối,
nói
một
đoạn
độc
thoại
dài,
cách
ca
và
làm
điệu
bộ
diễn
xuất
khi
hát
các
đoạn
tuồng
đó.
Cách
giảng
dạy
này
được
nhà
trường
gọi
là
“phương
pháp
thị
phạm”
để
học
viên
bắt
chước
theo
điệu
bộ
diễn
xuất
và
cách
phát
âm
các
lời
thoại
hoặc
bài
ca
trong
trích
đoạn
tuồng
đó.
Cái
hay
của
phương
pháp
thị
phạm
là
đối
với
người
mới
học
hát,
khi
bước
lên
sân
khấu,
tay
chân
còn
lóng
cóng,
chưa
biết
diễn
ra
sao,
phát
âm
thế
nào
thì
đã
có
ông,
bà
thầy
đứng
ra
làm
mẫu,
dạy
ra
bộ
và
câu
văn
đó
hát
như
thế
nào.
Học
viên
giỏi
bắt
chước,
làm
y
như
thầy
dạy
thì
có
thể
hát
vai
tuồng
đó
tuy
không
hay
bằng
thầy
vì
do
chất
giọng,
cách
ca
không
điêu
luyện
hoặc
động
tác
múa
vũ
đạo
còn
chưa
nhuần
nhuyễn,
nhưng
nói
chung
là
có
thể
thành
một
diễn
viên
của
sân
khấu.
Phương
pháp
thị
phạm
(nhìn
theo
và
bắt
chước)
giúp
cho
học
viên
mới
mau
biết
ca
và
diễn
nhưng
đó
chỉ
là
sự
bắt
chước,
rập
khuôn
nên
học
viên
chỉ
là
cái
bóng
của
ông
thầy
đã
dạy
cho
mình
hát
chớ
học
viên
chưa
đủ
sức
để
sáng
tạo
ra
một
phong
cách
diễn
xuất
riêng.
Sau
năm
1975,
các
giáo
viên
trường
Nghệ
Thuật
Sân
Khấu
là
cán
bộ
văn
nghệ
của
đảng
nên
dạy
học
viên
sáng
tác
và
biểu
diễn
theo
phương
pháp
“hiện
thực
xã
hội
chủ
nghĩa”.
Các
học
viên
sân
khấu
phải
học
chính
trị,
đường
lối
cách
mạng
của
đảng
và
phương
pháp
duy
vật
biện
chứng
để
làm
quan
điểm
chính
trị
xây
dựng
hình
tượng
nhân
vật
trên
sân
khấu.
Hình
tượng
nhân
vật
cán
bộ
và
bộ
đội
cách
mạng
thì
phải
có
những
đức
tính
Cần,
Kiệm,
Liêm,
Chính,
Chí
Công
Vô
Tư,
Trung
với
nước,
Hiếu
với
dân,
kẻ
thù
nào
cũng
đánh
thắng,
khó
khăn
nào
cũng
vượt
qua,
nhiệm
vụ
nào
cũng
hoàn
thành,
tiến
nhanh,
tiến
mạnh
lên
Xã
Hội
Chủ
Nghĩa.
Họ
dạy
rằng:
hiện
nay,
cán
bộ
và
bộ
đội
cách
mạng
chưa
có
đầy
đủ
những
phẩm
chất
cao
quý
như
đã
nêu
nhưng
theo
hiện
thực
xã
hội
chủ
nghĩa
thì
trong
quá
trình
xây
dựng
xã
hội
chủ
nghĩa
sẽ
xuất
hiện
những
cán
bộ
và
bộ
đội
có
phẩm
chất
như
vậy.
Còn
phía
nhân
vật
tư
sản,
địa
chủ,
những
thành
phần
tiểu
tư
sản
lưng
chừng
thì
xây
dựng
cho
bọn
đó
hình
tượng
nhân
vật
gian
xảo,
dâm
ô,
cướp
bóc,
hà
hiếp
dân
và
hèn
hạ,
khi
có
uy
thế
thì
bắt
nạt
dân,
khi
thất
thế
thì
cúi
lòn
để
mong
được
kiếp
sống
thừa.
Dù
trên
thực
tế
giai
cấp
tư
sản
địa
chủ
không
hèn
hạ
và
xấu
xa
như
vậy
nhưng
cứ
xây
dựng
những
nhân
vật
xấu
đó
trên
sân
khấu,
gán
cho
bọn
nó
là
tư
sản,
địa
chủ
và
cứ
nói
cả
trăm
lần,
ngàn
lần,
triệu
lần
thì
dần
dần
dân
chúng
sẽ
tin
và
căm
ghét
bọn
chúng.
Do
quan
điểm
chính
trị
chen
vào
việc
xây
dựng
hình
tượng
nhân
vật
trên
sân
khấu
nên
trong
các
tuồng:
Người
Ven
Đô,
Tình
Yêu
và
Lời
Đáp,
Xa
Thành
Phố
Yêu
Dấu,
Võ
Thị
Sáu,
Anh
hùng
Nguyễn
Văn
Trỗi...
tính
cách
nhân
vật
phản
diện
đều
giống
nhau
như
được
đào
tạo
chung
trong
một
lò,
chỉ
khác
có
cái
tên
và
diễn
biến
câu
chuyện.
Đây
cũng
là
lý
do
khiến
cho
khán
giả
không
thích
xem
hát
các
tuồng
Cách
Mạng.
Đào
tạo
diễn
viên
sân
khấu
theo
phương
pháp
thị
phạm
và
theo
phương
pháp
hiện
thực
xã
hội
chủ
nghĩa
đều
có
kết
quả
hạn
chế,
vì
nghệ
sĩ
được
đào
tạo
chỉ
biểu
diễn
theo
những
khuôn
đã
được
quy
định
trước.
Đây
cũng
là
lý
do
giải
thích
tại
sao
trường
Nghệ
Thuật
Sân
Khấu
đào
tạo
nhiều
khóa,
học
viên
ra
trường
có
cả
trăm,
số
học
viên
được
phong
nghệ
sĩ
nhân
dân,
nghệ
sĩ
ưu
tú
có
cả
trăm
người
nhưng
khán
giả
không
nhớ
nhiều
đến
những
vai
diễn
hay
của
họ.
Trái
lại
trước
năm
1975,
tuy
không
có
danh
hiệu
nghệ
sĩ
nhân
dân,
nghệ
sĩ
ưu
tú,
khán
giả
và
ký
giả
kịch
trường
tùy
theo
đặc
điểm
của
từng
diễn
viên
mà
thân
thương
tặng
cho
họ
một
biệt
hiệu
và
biệt
hiệu
đó
đã
nói
lên
được
đặc
điểm
hay
của
nghệ
sĩ,
khiến
cho
khán
giả
nhớ
đến
và
yêu
thương
như
người
ta
đã
yêu
thương
Vua
vọng
cổ
Út
Trà
Ôn,
Sầu
nữ
Út
Bạch
Lan,
Tiếng
hát
Liêu
Trai
Mỹ
Châu,
Giọng
ca
Vàng
Hữu
Phước,
Giọng
hát
Sang
trọng
Thành
Được,
Hoàng
đế
Dĩa
nhựa
Tấn
Tài,
Nữ
hoàng
Sân
khấu
Thanh
Nga,
Kỳ
nữ
Kim
Cương,
Vua
vọng
cổ
hài
Văn
Hường,
Kiều
nữ
Bích
Sơn...
Khán
giả
biết
và
rất
mến
mộ
những
nghệ
sĩ
tiền
phong
mà
tên
nghệ
sĩ
của
họ
chỉ
gồm
cái
thứ
bậc
trong
gia
đình
kèm
theo
sau
là
cái
tên
cúng
cơm
của
họ
như
Năm
Phỉ,
Bảy
Nhiêu,
Năm
Châu,
Bảy
Phùng
Há,
Năm
Nở,
Ba
Vân,
Bảy
Nam,
Mười
Truyền,
Năm
Kim
Thoa,
Tư
Thanh
Tùng,
Năm
Nghĩa,
Bảy
Cao,
Ba
Khuê,
Hai
Nữ,
Năm
Thiên,
Ba
Sanh,
Hai
Đá,
Ba
Út,
Năm
Cần
Thơ,
Ba
Trà
Vinh,
Ba
Bến
Tre,
Tám
Lắm,
Ba
Xây,
Tám
Danh,
Ba
Du,
Tám
Củi,
Tư
Xe,
Tư
Thạch,
Ba
Hui,
Sáu
Ngọc
Sương,
Sáu
Nết,
Năm
Phát,
Ba
Cang,
Tám
Mẹo,
Tư
Hélène,...
Lớp
nghệ
sĩ
này
được
đào
tạo
và
tự
rèn
luyện
theo
một
phương
pháp
riêng
mà
trong
giới
nghệ
sĩ
thường
ghi
nhận
phương
pháp
truyền
nghề
hay
nhứt
là
phương
pháp
Năm
Châu
của
nghệ
sĩ
kiêm
soạn
giả,
kiêm
đạo
diễn
Nguyễn
Thành
Châu.
Nghệ
sĩ
Phùng
Há
và
đoàn
hát
Phụng
Hảo
chuyên
hát
tuồng
Tàu
theo
lối
Quảng
có
cách
truyền
nghề
theo
lối
diễn
Hý
Khúc
của
Trung
Quốc
(được
giản
lược
theo
nhu
cầu
của
sân
khấu
hát
tuồng
Tàu
ở
Việt
Nam).
Ngoài
ra,
còn
có
nghệ
sĩ
bậc
thầy
Minh
Tơ
với
lớp
Đồng
Ấu
Minh
Tơ
do
ông
thành
lập
và
tuyển
chọn
các
con
em
của
các
nghệ
sĩ
trong
nghề
để
truyền
nghề.
Các
học
viên
lớp
Đồng
Ấu
Minh
Tơ
trở
thành
những
nghệ
sĩ
tài
danh
cho
nghệ
thuật
sân
khấu
tuồng
cổ
như:
Xuân
Yến,
Hữu
Cảnh,
Thanh
Tòng,
Bo
Bo
Hoàng,
Hiếu
Cảnh,
Bạch
Liên,
Bạch
Lê,
Trung
Quan,
Xuân
Thu,
Thanh
Loan,
Trường
Sơn,
Thanh
Thế,
Bửu
Truyện,
Ngọc
Đáng,
Hề
Vũ
Đức,
Đức
Lợi,
Trang
Kim
Sa,
Hữu
Lợi,
Minh
Tốt,
Minh
Tâm,
Thành
Bé,
Thanh
Ngọc,
Bạch
Mai,
Thanh
Bạch...
Nghệ
sĩ
Bạch
Long
(con
của
nghệ
sĩ
tài
danh
Thành
Tôn),
người
lập
ra
đoàn
Đồng
Ấu
Bạch
Long,
đã
đào
tạo
được
các
nghệ
sĩ
tài
danh
thế
hệ
thứ
năm
như:
Vũ
Luân,
Tú
Sương,
Trinh
Trinh,
Quế
Trân,
Chinh
Nhân,
Bình
Tinh...
Các
lớp
truyền
nghề
kể
trên
có
những
phương
thức
riêng
phù
hợp
với
loại
hình
nghệ
thuật
mà
các
nghệ
nhân
bậc
thầy
muốn
truyền
đạt
cho
lớp
nghệ
sĩ
trẻ.
Tôi
xin
giới
thiệu
một
hình
thức
truyền
nghề
của
nghệ
sĩ
tài
danh
Nguyễn
Thành
Châu.
Nghệ
Thuật
Hát
Bội
với
cốt
truyện
được
xây
dựng
chung
quanh
chuyện
cung
đình,
chuyện
tranh
ngôi
đoạt
vị
giữa
các
quyền
thần
với
vua
chúa,
nên
nhân
vật
tuồng
có
những
vai
như
vua,
hoàng
hậu,
công
chúa,
thứ
phi,
hoàng
tử,
tướng
trung,
tướng
nịnh,
nguyên
soái,
tư
đồ,
thư
sinh,
trạng
nguyên,
thái
giám,
tỳ
nữ,
quân
hầu...
Trong
thuật
ngữ
sân
khấu,
các
nghệ
sĩ
đóng
các
vai
đó
thường
được
gọi
là
kép
văn,
kép
võ,
lão
mùi,
lão
độc,
mụ
mùi,
mụ
lẳng,
hề,
oải
tử...
Mỗi
nhân
vật
đều
có
điệu
múa
hát
riêng,
thậm
chí
cầm
cây
roi
ngựa
múa
như
thế
nào
là
dắt
ngựa
ra,
lên
yên
ngựa,
ngựa
đi
nước
kiệu,
ngựa
phi,...
mỗi
động
tác
thể
hiện
một
đặc
điểm
riêng.
Do
đó,
người
dạy
phải
dùng
hình
thức
nắm
tay
chỉ
việc,
dạy
từng
điệu
múa,
từng
điệu
bộ,
dạy
từng
câu
xướng,
cách
phân
nhịp
hát
Nam,
hát
khách...
người
dạy
phải
đánh
trống
miệng,
gõ
nhịp
cho
người
tập
đến
khi
thành
thục
mới
ráp
với
dàn
nhạc
sau.
Nghệ
Thuật
Sân
Khấu
Cải
Lương
chịu
ảnh
hưởng
của
lối
viết
kịch
Anh,
Pháp,
mỗi
nhân
vật
trong
tuồng
cải
lương
có
số
phận
và
cá
tính
riêng.
Điều
này
bắt
buộc
các
diễn
viên,
ngoài
khả
năng
trời
cho
về
Thinh
và
Sắc,
người
diễn
viên
phải
nghiên
cứu
cách
thể
hiện
cá
tính
nhân
vật
một
cách
điển
hình
nhứt,
để
diễn
tả
nhân
vật
trong
kịch
bản.
Chính
vì
cá
tính
khác
biệt
nhau
nên
nhân
vật
không
có
một
mẫu
hình
tượng
chung
cho
các
vai
mà
nghệ
sĩ
khi
diễn
thì
phải
diễn
cho
ra
cái
nét
riêng
của
nhân
vật.
Ví
dụ,
trong
hát
bội
có
hôn
quân
thì
vị
vua
hôn
quân
trong
tuồng
nào
cũng
giống
nhau
ở
chỗ:
cùng
mê
tửu
sắc,
ngu
muội,
bị
gian
thần
và
ái
phi
xỏ
mũi,
bất
công
với
trung
thần
và
cuối
cùng
thì
bị
soán
ngôi.
Trong
tuồng
cải
lương
thì
người
điên,
người
say,
người
ghen,
người
hiền,
kẻ
ác,
nhân
vật
với
tính
cách
đó
ở
tuồng
này
khác
với
tuồng
kia.
Nghệ
sĩ
hài
Ba
Vân
được
khán
giả
và
ký
giả
kịch
trường
tặng
cho
mỹ
hiệu
là
Quái
kiệt,
khi
anh
đóng
vai
Phê
trong
tuồng
Khi
Người
Điên
Biết
Yêu.
Anh
Ba
Vân
đã
vô
nhà
thương
Biên
Hòa
và
nhà
thương
điên
Chợ
Quán
để
quan
sát
nét
mặt,
cách
nhìn,
cách
nói
chuyện
hay
la
hét
của
những
người
điên.
Trở
về
đoàn
hát,
anh
một
mình
tập
luyện
trước
tấm
gương
lớn
và
khi
tập
tuồng,
anh
diễn
nhân
vật
Phê
điên
theo
kiểu
anh
đã
nghiên
cứu.
Sau
khi
xem
anh
Ba
Vân
diễn
thử
vai
Phê,
anh
Năm
Châu
góp
ý:
“Nhân
vật
Phê
là
nhân
vật
điên
vì
tình,
yêu
Bê,
người
em
gái
(con
nuôi
của
cha,
nghĩa
là
giữa
Phê
và
Bê
không
có
quan
hệ
huyết
thống)
nhưng
Bê
không
biết
cô
là
em
nuôi,
tưởng
Phê
‘điên’
nên
mới
có
thứ
tình
yêu
loạn
luân
đó.
Nên
khi
Phê
(Ba
Vân)
tỏ
tình
với
Bê,
càng
tỏ
vẻ
tha
thiết,
Bê
càng
thấy
kỳ
quái.
Bê
phản
ứng,
ghê
tởm
sự
loạn
luân
của
Phê,
Bê
né
tránh
xa
ra
thì
Phê
càng
xáp
vô,
vẻ
mặt
nửa
ngượng
ngùng,
nửa
như
chai
đá.
Phê
nói:
‘Bê
ơi!
Em
thật
là
sang
đẹp,
thật
là
tươi
đẹp!
Là
chúa
của
tất
cả
hoa
đẹp
trong
vườn...
Hà...
hà...
Em
nói
anh
điên
à?
Phải,
anh
điên
vì
em...
anh
điên
thật
Bê
à...’
Phê
nói
năng
nhừa
nhựa,
làm
cho
khán
giả
cảm
thấy
Phê
điên,
cái
điên
của
kẻ
si
tình.
Khi
đối
diện
với
nhân
vật
Thi,
tình
địch,
thì
Phê
lồng
lộn
như
con
thú
dữ
bị
thương,
càng
tô
đậm
cái
nét
điên
của
nhân
vật
Phê.
Và
khi
Phê
giằng
co
với
ông
Bạch
(cha
ruột
của
Phê)
Phê
lỡ
tay
làm
cho
ông
Bạch
té
sấp
nhằm
ngay
lưỡi
dao,
ông
Bạch
chết
liền
sau
đó,
Phê
thét
lên
một
tiếng
ghê
rợn.
Thi
và
Bê
chạy
ra
thì
Phê
chỉ
vào
Thi,
trút
hết
tội
giết
ông
Bạch
vào
đầu
Thi.
Tâm
trạng
của
Phê
lúc
đó
là
hoảng
sợ,
hoảng
loạn
một
cách
ghê
rợn,
gợi
lên
hình
ảnh
của
một
người
điên
thật
sự”.
Ý
kiến
của
anh
Năm
Châu
thật
rõ
ràng:
“Phê
điên
cuồng
dữ
dội
khi
đối
diện
với
Thi,
người
tình
địch.
Phê
yêu
tha
thiết,
tỏ
tình
một
cách
si
mê
mà
cô
em
gái
Bê
cứ
tưởng
là
anh
điên.
Lúc
này
Phê
không
dữ
dội,
không
la
hét,
nhưng
anh
càng
tỏ
ra
si
mê
tới
điên
dại,
cộng
với
diễn
xuất
ghê
tởm
của
cô
em
gái,
khán
giả
cảm
thấy
Phê
là
hình
tượng
của
một
kẻ
điên
vì
tình.
Và
một
tâm
trạng
khác,
tâm
trạng
hoảng
loạn
của
kẻ
vô
tình
giết
cha
và
cho
là
vì
Thi
mới
xảy
ra
nông
nỗi,
cái
hoảng
loạn
gần
như
điên
cuồng
tô
đậm
thêm
hình
tượng
Phê
điên
vì
tình.
Anh
Ba
Vân
đã
diễn
thành
công
khi
bản
thân
anh
đã
tập
luyện
theo
sự
góp
ý
của
anh
Năm
Châu,
anh
đã
tạo
vai
Phê,
một
người
điên
không
giống
những
vai
điên
đã
có
trước
kia
trên
sân
khấu
Hát
Bội
và
Cải
Lương”.
Qua
cách
dàn
dựng
của
đạo
diễn
Năm
Châu
và
qua
cách
luyện
tập,
nghiên
cứu
vai
tuồng
của
anh
Ba
Vân,
tôi
nhận
thấy
trong
nghệ
thuật
sân
khấu
cải
lương
khi
sáng
tác
hay
thủ
diễn
một
nhân
vật
nào
trong
tuồng
thì
người
nghệ
sĩ
cũng
phải
nghiên
cứu
về
hình
tượng
nhân
vật,
cá
tính
và
hoàn
cảnh
nào
khiến
tạo
ra
diễn
tiến
tâm
lý
của
nhân
vật.
Từ
sự
nghiên
cứu
tâm
lý
nhân
vật
mà
nảy
sinh
ra
cách
biểu
diễn
về
hình
thể,
về
động
tác,
diễn
biến
nét
mặt,
cách
phát
âm,
cách
ca
hát.
Nghệ
sĩ
tiền
phong
Tám
Danh
cũng
có
một
vai
hát
để
đời
nhờ
ở
công
phu
nghiên
cứu
tính
cách
nhân
vật
và
bỏ
công
sức
tập
luyện
cách
thể
hiện
nhân
vật:
đó
là
vai
Hà
Công
Yên,
người
ghiền
á
phiện
trong
tuồng
Tứ
Đổ
Tường.
Hà
Công
Yên
là
một
công
tử,
con
nhà
giàu,
ham
chơi,
trác
táng,
ghiền
thuốc
phiện.
Sạt
nghiệp
vì
hút
thuốc
phiện,
anh
phải
làm
phu
xe
kéo
để
kiếm
tiền
mua
cơm
trắng,
cơm
đen.
Tình
cờ,
anh
phải
kéo
xe
chở
vợ
anh.
Anh
xấu
hổ,
giấu
mặt
nhưng
người
vợ
không
để
ý
nên
chưa
nhận
ra
người
kéo
xe
là
người
chồng
nghiện
ngập
của
mình.
Từ
khi
tập
tuồng
cho
đến
khi
khai
trương
vở
hát,
nghệ
sĩ
Tám
Danh
lân
la
các
tiệm
bán
thuốc
phiện
(régie
d’opium)
để
quan
sát
các
người
ghiền
thuốc
phiện.
Anh
lại
mướn
xe
kéo,
tự
mình
ăn
mặc
như
người
phu
xe,
ngày
ngày
kéo
xe
thật
sự
cho
khách
để
biết
cái
cảm
giác
mệt
nhọc
và
bị
người
ta
sai
khiến,
khinh
khi,
cái
cảm
giác
của
kẻ
nghèo,
nghiện
ngập
để
tìm
cách
diễn
lại
trên
sân
khấu
trong
vai
Hà
Công
Yên.
Lúc
đầu
vợ
anh
cho
là
anh
đang
tập
tuồng,
thử
một
vài
ngày
là
đủ,
nhưng
tuồng
tập
cả
tháng
mà
chưa
khai
trương
hát,
trong
khi
anh
Tám
Danh
đã
có
vẻ
như
người
nghiện
thuốc
phiện
thiệt,
lại
đi
kéo
xe
để
kiếm
tiền,
được
một
hào,
một
cắc,
anh
đều
tỏ
ra
rất
quý
mến,
thận
trọng
lận
trong
lưng
quần,
vẻ
mặt
bần
tiện,
môi
thâm,
mắt
quầng
đen...
Vợ
anh
nghi
là
anh
ghiền
thuốc
phiện
thật,
nên
đi
theo
quan
sát,
theo
dõi,
rình
anh
có
hút
không...
Trước
hình
tượng
một
ông
chồng
bê
tha,
hèn
mọn,
chị
cương
quyết
thôi
chồng.
Chị
vô
gánh
hát,
kêu
khóc,
báo
hại
đạo
diễn
Năm
Châu,
cô
Phùng
Há
phải
hết
sức
giải
thích
cho
chị
biết
là
anh
Tám
Danh
đang
học
cách
diễn
người
ghiền
thuốc
phiện
chớ
không
phải
anh
ghiền
thiệt.
Anh
Tám
Danh
về
rạp
hát,
nghe
chuyện
đó,
anh
che
miệng
ngáp
dài
như
đã
tới
cữ
mà
chưa
hút
được
ngao
nào.
Chị
Tám
Danh
càng
khóc
dữ
dội,
đòi
tự
vận,
tới
chừng
đó
anh
Tám
Danh
mới
cười
xòa.
Anh
nói:
“Má
bầy
trẻ
tin
là
tui
ghiền
thì
tui
nhứt
định
hát
vai
này
thành
công
rồi
đó!”
Khi
khai
trương
tuồng
Tứ
Đổ
Tường,
nghệ
sĩ
Tám
Danh
đã
hát
vai
Hà
Công
Yên
thành
công
đến
độ
mấy
chục
năm
sau,
chưa
có
một
nghệ
sĩ
nào
diễn
vai
Hà
Công
Yên
hay
bằng
anh.
Khi
các
nghệ
sĩ
Phượng
Liên,
Văn
Chung,
Hương
Huyền,
Chí
Tâm
nghe
tôi
kể
về
sự
công
phu
luyện
tập
nghề
hát
của
các
nghệ
sĩ
tiền
phong,
các
bạn
bái
phục
và
tự
thấy
mình
chưa
bao
giờ
tốn
quá
nhiều
công
sức
để
tập
diễn
một
vai
nào
gọi
là
để
đời.
Các
bạn
thấy
việc
yêu
nghề
và
luyện
tập
một
nghề
một
cách
công
phu
như
vậy,
đúng
là
nhờ
đó
mà
tạo
ra
được
một
thời
hoàng
kim
của
cải
lương.
Tôi
hẹn
với
các
bạn
đó
sẽ
kể
thêm
về
nhiều
cách
đào
tạo
diễn
viên
của
bà
Phùng
Há
theo
lối
hát
Hý
Khúc
Trung
Quốc,
lối
đào
tạo
nghệ
sĩ
của
anh
Minh
Tơ
thông
qua
việc
lập
đoàn
Đồng
Ấu
Minh
Tơ
và
việc
đào
tạo
thế
hệ
thứ
năm
của
nghệ
sĩ
con
nhà
nòi
thông
qua
đoàn
Đồng
Ấu
Bạch
Long.
Hy
vọng
qua
những
kinh
nghiệm
của
các
nghệ
sĩ
tiền
phong
Năm
Châu,
Phùng
Há,
Minh
Tơ,
Bạch
Long,
các
bạn
ở
Westminster
sẽ
có
một
chương
trình
tốt
nhất
để
đào
tạo
nghệ
sĩ
cải
lương
ở
hải
ngoại.
(còn
tiếp)
Nguyễn
Phương,
2012
-
Tác
giả
bài
viết:
meoxu
Nguồn
tin:
Soạn
Giả
Nguyễn
Phương
Ý kiến bạn đọc