-
Theo
tôi,
muốn
có
phương
tiện
hát
lâu
dài,
chúng
ta
hủy
bỏ
cái
khoản
nhận
thù
lao.
Chúng
ta
cùng
đồng
ý
“hát
chùa”,
hoặc
nếu
có
lấy,
lấy
tượng
trưng,
đủ
tiền
đi
xe
lửa
thôi.
Hữu
Phước
sành
sỏi
hơn,
phân
tích
tỉ
mỉ:
-
Vấn
đề
không
phải
thù
lao
ít
hay
nhiều.
Không
phải
hy
sinh
trơn
tru
như
Dũng
Thanh
Lâm
vừa
nói
mà
có
thể
trình
diễn
trường
kỳ.
Vấn
đề
là
phương
tiện
sân
khấu
thiếu
thốn
mọi
mặt.
Tôi
kể
vài
khuyết
điểm
để
anh
em
nhận
xét
và
điều
chỉnh
những
khuyết
điểm
đó
nếu
thật
dấn
thân
vì
nghề
nghiệp.
Khuyết
điểm
đầu
tiên
hãy
nhìn
nhận
rằng
kỹ
thuật
sân
khấu
Cải
Lương
ở
đây
vô
cùng
tạp
nhạp.
Tranh
cảnh
trang
trí
sơ
sài,
họa
sĩ
vẽ
bừa
bãi,
không
phù
hợp
với
không
gian
của
vở
tuồng.
Cảnh
nghèo
không
ra
nghèo,
cảnh
giàu
không
ra
giàu.
Thiếu
chuyên
viên
trong
nghề
nên
nghệ
thuật
dàn
cảnh
vừa
chắp
vá
vừa
tỏ
ra
kinh
thường
khán
giả.
Cảnh
màn
một
dựng
cho
cốt
truyện
xảy
ra
ở
thôn
quê,
nhưng
vẫn
xài
tiếp
tục
ở
màn
hai,
màn
ba
cho
cốt
truyện
diễn
ra
nơi
đô
thị.
Thành
phố
xe
cộ
dập
dìu,
các
tòa
nhà
binh-đinh
cao
ngút,
hoạt
cảnh
rộn
rịp,
nhưng
lại
lấy
cảnh
đồng
quê
vắng
vẻ,
đàn
cò
bay
giữa
lưng
trời,
bầy
trâu
hồn
nhiên
gặm
cỏ
thay
thế
cảnh
thành
phố.
Người
xem
sẽ
có
ấn
tượng
chướng
tai
gai
mắt.
Người
có
trực
tính
xây
dựng,
thẳng
thắng
chỉ
trích
chúng
ta:
các
anh
làm
ăn
thiếu
trách
nhiệm,
viện
cớ
khó
khăn
về
mặt
kỹ
thuật
bởi
nhân
tài
kẹt
hết
trong
nước,
cho
nên
cứ
mặc
sức
múa
gậy
vườn
hoang,
chắp
nối
đầu
gà
đít
vịt,
bán
vé
lấy
tiền
bỏ
túi
theo
lối
ăn
giựt,
bỏ
chạy.
Ánh
sáng
sân
khấu
Cải
Lương,
loại
ánh
sáng
“trộn
màu”
theo
quy
luật:
xanh
pha
đỏ,
vàng
pha
tím,
hồng
pha
xanh
lục…
Khi
bắt
đầu
đờn
rao
nói
Lối
hay
Thán
“gối”
đầu
bản
Vọng
Cổ,
đèn
chuyển
từ
sáng
trắng
sang
xanh
lợt.
Vừa
lấy
hơi
vô
Vọng
Cổ,
ánh
sáng
chuyển
qua
xanh
đậm.
Xuống
Vọng
Cổ
dứt
”lái”
Hò,
đèn
bật
qua
màu
đỏ.
Diễn
viên
ca
dứt
câu
một,
ngân
chữ
Cóng,
ánh
sáng
quay
trở
về
màu
vàng
lợt.
Pha
màu,
trộn
màu,
đổi
màu
trên
sân
khấu,
người
chuyên
viên
đó
phải
sống
với
Cải
Lương
tối
thiểu
3,
4
năm,
rành
nghề,
một
loại
chuyên
viên
có
năng
khiếu
thẩm
mỹ
sân
khấu:
buồn
pha
màu
gì,
giận
màu
gì,
vui
màu
gì
và
hờn
ghét
thay
đổi
ánh
sáng
màu
gì,
v.v.
Tôi
xin
kể
luôn
những
thiếu
sót
về
giàn
nhạc.
Trên
lãnh
vực
sân
khấu,
nhạc
là
yếu
tố
chánh,
đóng
vai
trò
nòng
cốt
với
nhiệm
vụ
”đưa
hơi,
bè
hơi”
giúp
ca
sĩ
cất
lên
tiếng
hát
và
diễn
xuất
theo
lời
nhạc
sĩ
đã
đặt
thành
bài
bản.
Ca
sĩ
hát
mà
không
có
đờn
phụ
họa
nghe
rất
chướng
tai.
Và
lời
nhạc
chẳng
bao
giờ
trở
thành
nhạc
nếu
không
có
tiếng
đờn
tạo
ra
âm
thanh,
điệu
nhạc.
Ở
Pháp
và
Hoa
Kỳ,
người
Việt
biết
chơi
đờn
Vọng
Cổ
chỉ
đếm
được
trên
đầu
ngón
tay.
Gần
hai
triệu
người
tị
nạn,
tổng
số
người
biết
đờn
cổ
nhạc
có
tính
cách
tài
tử,
nghĩa
là
đờn
đủ
bài
bản
có
khoảng
7
người:
1
người
ở
Paris,
2
người
bên
Mỹ,
2
người
bên
Úc,
và
2
người
bên
Gia
Nã
Đại.
Còn
như
tìm
một
tay
đờn
cỡ
nhạc
sư,
đờn
“nghề”
như
Năm
Cơ,
Văn
Vĩ,
Hai
Thơm,
Út
Trong,
Hai
Biểu,
Bảy
Bá
chắc
có
lẽ
phải
chờ
thêm
nhiều
năm
nữa.
Trong
khi
đó
một
đoàn
Cải
Lương,
nhu
cầu
của
giàn
đờn
đòi
hỏi
từ
6
đến
11
cây
đờn.
Tối
thiểu
cũng
phải
6
cây.
Thế
nhưng
chúng
ta
qui
tụ
chỉ
được
có
hai
cây
đờn,
một
cây
guitare
và
một
cây
tranh.
Hai
cây
đờn
gồng
cho
một
sân
khấu,
tiếng
nhạc
nghe
lỏm
chỏm,
làm
nguội
lạnh
một
buổi
trình
diễn
văn
nghệ.
Người
ca
không
hứng
thú,
người
nghe
cảm
thấy
chán
phèo
vì
nó
có
vẻ
gượng
gạo,
mất
đi
sức
hấp
dẫn
của
một
bộ
môn
vốn
màu
mè,
rườm
rà
về
mọi
phương
diện.
Nhưng
biết
làm
sao
hơn
khi
mà
đời
sống
tha
hương
còn
hàng
trăm
việc
phải
lo:
nào
mướn
nhà,
kiếm
việc
làm,
thi
bằng
lái
xe,
học
tiếng
Pháp,
học
nghề,
lo
nuôi
con
cái,
mua
sữa,
quần
áo,
sách
vở,
v.v..
Lo
lắng,
ngỡ
ngàng,
phập
phồng
lo
sợ
không
biết
tương
lai
rồi
đây
có
đủ
khả
năng
hội
nhập
vào
xã
hội
xứ
người
không?
Lo
kiếm
tiền,
kiếm
thật
nhanh
gởi
thuốc
men,
gởi
quà
về
nuôi
người
trong
nước.
Lo
không
có
việc
làm,
sợ
thất
nghiệp
dài
dài,
ngoại
ngữ
mù
tịt,
rồi
lấy
gì
mà
sống?
Đó
là
những
tâm
trạng
chung
chung
trong
những
ngày
tháng
đầu
tiên
đặt
chân
đến
Pháp.
Ai
có
thì
giờ
tập
dợt,
ngồi
ôm
đàn
khảy
từng
tưng
sáu
câu
Vọng
Cổ?
Ai
có
thời
giờ
rảnh
đảm
đang
những
buổi
văn
nghệ
phục
vụ
đại
chúng
có
tính
cách
“ăn
cơm
nhà
vác
ngà
voi
hàng
xóm?”
Hùng
Cường
bổ
túc
thêm
nhận
định
của
Hữu
Phước:
-
Ngoài
việc
sơ
sót
kỹ
thuật
như
họa
sĩ,
nhân
viên
dàn
cảnh,
thợ
may
y
phục,
điều
khiển
ánh
sáng,
kéo
màn,
dựng
cảnh,
dàn
nhạc,
v.v..
Cải
Lương
hải
ngoại
thiếu
diễn
viên
một
cách
trầm
trọng.
Tính
đến
nay
số
anh
em
hát
chuyên
nghiệp
hiện
diện
bên
Hoa
Kỳ
và
tại
Pháp
này
có
năm
người.
Một
vở
tuồng
ít
nhất
cũng
phải
có
9
diễn
viên
gạo
cội
trở
lên
và
8
diễn
viên
phụ.
Ấy
là
không
kể
khi
hát
tuồng
dã
sử.
Nói
riêng
về
diễn
viên
phụ
thôi,
làm
sao
đào
tạo
cho
kịp
một
người
không
biết
gì
bỗng
đầu
hôm
sớm
mai
kêu
người
đó
lên
hát?
Anh
ta
không
biết
thế
ngồi,
thế
đứng,
cách
ra
bộ
và
múa
một
vài
đường
kiếm
“vỡ
lòng”.
Anh
ta
cũng
chưa
hiểu
bản
Tây
Thi
mấy
nhịp,
Khóc
Hoàng
Thiên
mấy
nhịp,
chưa
kể
tới
vấn
đề
anh
có
hơi
ca
hay
không,
thì
làm
sao
anh
diễn
và
hát
trúng
nhịp,
điệu?
Thật
là
nan
giải!
Bên
Mỹ
tôi
có
dạy
một
số
em
tập
hát.
Nhưng
mà
qua
đây
lòng
người
thay
đổi
hết.
Không
như
bên
quê
nhà,
các
em
nhỏ
đã
chọn
kiếp
nghệ
sĩ
thì
dù
hay
hoặc
dở,
dù
thành,
bại,
các
em
vẫn
quyết
chí
đeo
đuổi
đến
cùng.
Các
em
kính
đàn
anh,
trọng
người
đi
trước,
nể
ông
“thầy”,
sống
chết
vì
bạn.
Trái
lại,
ở
ngoại
quốc,
các
em
tập
hát
Cải
Lương,
đứng
chàng
ràng
trên
sân
khấu
không
ngoài
ý
đồ
tán
gái.
Cho
đi
theo
hát
một
hai
xuất,
đóng
vai
quân
hầu,
vai
ngự
lâm
quân
chưa
kịp
tính
đường
dài
thì
các
em
đã
chớp
được
một
cô
vừa
ý.
Chẳng
thèm
nói
một
lời
từ
giã,
hay
mở
miệng
nói
một
tiếng
cám
ơn
công
lao
mình
truyền
nghề
mấy
tháng
qua,
âm
thầm
rút
lui,
âm
thầm
tổ
chức
đám
cưới.
Đoàn
hát
trở
về
California,
nhưng
“thằng
em
văn
nghệ”
đã
dính
như
đinh
đóng
cột
ở
lại
bến
Seattle,
tiểu
bang
Washington.
“Thằng
em
văn
nghệ”
bỏ
neo
ở
đây
vui
tuần
trăng
mật,
tảo
tần
chăm
lo
hạnh
phúc
mới
vừa
bắt
gặp,
và
mới
vừa
bị
cú
sét
ái
tình
quất
sụm.
Tôi
hỏi:
-
Tại
sao
em
nghỉ
hát?
Thằng
em
tỉnh
bơ
nhún
vai,
trả
lời:
-
Em
chỉ
cần
rống
một
câu
Vọng
Cổ
để
kiếm
vợ
thôi!
-
Nghĩa
là
em
giải
nghệ?
-
Vâng!
Đúng
ạ!
Có
vợ
rồi,
đi
hát
chi
nữa?
Đoàn
hát
lại
lâm
vào
cảnh
thiếu
diễn
phụ.
Bên
tân
nhạc
đỡ
bị
cái
nạn
kẹt
vai
này
dính
chùm
vai
kia,
có
thể
độc
diễn,
đứng
ca
một
mình
với
dàn
nhạc
hoặc
một
cây
đờn
cũng
xong.
Bên
Cải
Lương
trái
lại,
vở
tuồng
viết
ra
liên
hệ
đến
nhiều
nhân
vật,
ràng
buộc
một
tập
thể
sinh
hoạt
chung,
vai
này
gắn
bó
vai
kia.
Mất
một
vai,
mất
một
diễn
viên
quân
hầu
coi
như
bỏ
cuộc.
Gánh
Cải
Lương
những
khi
di
chuyển,
kéo
đi
từng
đoàn:
giàn
đờn,
trống,
kèn,
chập
chõa,
nhân
công
dựng
cảnh,
nghệ
sĩ,
bầu
bì
thê
tử,
càng
đông
nhân
lực
càng
tốt.
Kép
mùi
đối
thoại
đào
mùi.
Kép
độc
diễn
chung
với
đào
lẳng.
Có
vua
phải
có
tướng.
Có
tướng
phải
có
quân.
Vua,
tướng,
quân
là
một
số
nhân
lực
không
thể
thiếu
trong
một
đoàn
hát
Cải
Lương.
Sắp
đến
giờ
khai
mạc,
bỗng
dưng
biệt
dạng
anh
kép
mùi.
Cách
duy
nhất
để
giải
quyết,
cáo
lỗi
trả
vé
khán
giả.
Không
thể
nào
kéo
màn
hát,
nếu
mất
anh
kép
mùi,
tức
mất
đi
một
vai
chánh,
vai
thắt
buộc
với
đào
mùi.
Đào
mùi
còn
lại
một
mình
trên
sân
khấu,
hát,
diễn
với
ai?
Hơn
thế
nữa,
vở
tuồng
dựng
hai
vai
chánh.
Hai
vai
chánh
đứng
mũi
chịu
sào
cho
các
vai
phụ.
Giờ
hụt
mất
một
vai
chánh,
những
vai
kia
sẽ
mất
luôn
cái
“mối”
làm
đầu
cầu
đứng
diễn.
Vở
kịch
sẽ
lẩm
cẩm
và
biến
thành
một
cốt
truyện
tào
lao.
Tóm
lại,
Cải
Lương
là
bộ
môn
hoạt
động
tập
thể,
từ
hình
thức
đến
nội
dung,
từ
nhân
lực
tới
vật
lực
đều
sống
hòa
đồng,
hỗ
tương
lẫn
nhau.
Thêm
một
trở
ngại
khác.
Anh
em
nghệ
sĩ
sang
đây,
mỗi
người
đi
định
cư
một
ngã.
Dũng
Thanh
Lâm
sống
ở
Marseille,
Phương
Thanh
ở
Nancy,
Hữu
Phước,
Hương
Lan,
Minh
Đức,
Tài
Lương,
Kiều
Lệ
Mai
ở
Paris.
Tôi,
Việt
Hùng,
Kim
Tuyến,
Hà
Mỹ
Hạnh
lập
nghiệp
bên
Hoa
Kỳ.
Khi
tổ
chức
hát,
nhà
tổ
chức
trả
phương
tiện
di
chuyển
một
số
tiền
khá
tốn
kém.
Vé
máy
bay,
vé
tàu
hỏa,
đài
thọ
chỗ
ăn
ở
và
bao
nhiêu
thứ
chi
lặt
vặt
khác,
chi
phí
quá
sức
tưởng
tượng,
nếu
tính
chuyện
lâu
bền
ít
ai
chịu
đựng
nổi.
Sở
hụi
tập
trung
nghệ
sĩ
từ
các
quốc
gia
khác
về
Pháp,
hay
từ
Pháp
qua
Mỹ
trình
diễn,
tính
ra
đắt
hơn
tiền
mướn
rạp
và
thù
lao
trả
nghệ
sĩ.
Bán
vé
bao
nhiêu,
trả
tiền
vé
phi
cơ
bấy
nhiêu.
Kiểm
điểm
lại,
về
mặt
tinh
thần,
gặt
hái
thành
công
đáng
kể.
Về
mặt
tài
chánh,
ít
khi
nào
thu
hoạch
được
con
số
khả
quan.
Những
xuất
hát
trước
đây,
số
khán
giả
ủng
hộ
có
chiều
hướng
rất
lấy
làm
khích
lệ
cho
anh
em
nghệ
sĩ.
Nhưng
sau
khi
tính
toán,
nhà
tổ
chức
lắc
đầu
ngao
ngán,
buông
tiếng
than
thở:
“Tiền
thâu
trừ
hành
trừ
tỏi
xong
xuôi,
phần
còn
lại
từ
huề
đến
lỗ
nặng”.
Ngoài
vấn
đề
nghệ
sĩ
định
cư
rải
rác
khắp
nơi,
mỗi
lần
qui
tụ
lại
rất
tốn
kém,
chúng
ta
còn
gặp
một
chuyện
rắc
rối
khác
nữa
là
vấn
đề
bị
hạn
chế
bởi
công
ăn
việc
làm.
Thật
vậy.
Làm
sao
có
thể
anh
em
xin
nghĩ
việc
cùng
một
lúc
9,
10
người
để
đi
hát?
Nếu
Dũng
Thanh
Lâm
nghỉ
được
ngày
đó,
thì
anh
Ngọc
Lưu
xin
nghỉ
không
được.
Nếu
người
này
rảnh,
người
kia
bận
đi
làm.
Muốn
hội
tụ
đủ
mặt
anh
em,
cách
tiện
nhất
đợi
vào
những
ngày
lễ
lớn
của
quốc
gia
này
trùng
hợp
với
quốc
gia
kia.
Lễ
Quốc
Khánh
4
Juillet
của
Pháp
hằng
năm
không
hẳn
diễn
ra
cùng
một
ngày
với
lễ
Quốc
Khánh
của
Hoa
Kỳ.
Pháp
không
có
ngày
lễ
Tạ
Ơn
(Thanksgiving)
của
Mỹ.
Ấy
là
chưa
đề
cập
tới
việc
trước
ngày
hát
khoảng
một
tháng,
chúng
ta
còn
gặp
nhau
để
tập
tuồng.
Sở
nào
cho
chúng
ta
nghỉ
ăn
lương
một
tháng
để
dợt
tuồng?
Cho
dù
tổ
chức
vào
dịp
Giáng
Sinh
hoặc
Tết
dương
lịch,
anh
em
cũng
vẫn
phải
xin
nghỉ
việc
một,
hai
tuần
tập
dợt.
Đó
là
thời
gian
diễn
tập
tối
thiểu
của
một
nghệ
sĩ
khi
nhận
vai
tuồng.
Nói
thẳng
ra,
Cải
Lương
hải
ngoại
không
thể
nuôi
sống
anh
em,
anh
em
tự
túc
lo
lấy
sinh
kế
và
nếu
yêu
nghề
nhớ
ánh
đèn
sân
khấu
thì
cứ
tự
túc
bỏ
tiền
túi
ra
mướn
rạp,
kéo
màn
hát
cho
vơi
nỗi
buồn.
Phân
tích
lý
do
vì
sao
bộ
môn
Cải
Lương
khó
phát
triển
ở
hải
ngoại,
cứu
xét
tỉ
mỉ
từng
khía
cạnh,
người
ta
có
thể
kết
luận
không
sai
lầm
như
sau:
Vì
nguyên
do
nghệ
sĩ
định
cư
rải
rác
mỗi
quốc
gia
một
vài
người,
phương
tiện
di
chuyển
quá
tốn
kém
cho
mỗi
lần
tập
trung,
tiền
rạp
quá
đắt,
nhân
sự
rành
nghề
không
có,
thiếu
giàn
đờn,
không
có
nguồn
tài
chánh
yểm
trợ
lâu
dài,
khán
thính
giả
xem
Cải
Lương
mỗi
năm
mỗi
thưa
thớt
dần,
do
lớn
tuổi,
đi
đứng
khó
khăn,
lớp
trẻ
chẳng
thích
Cải
Lương
vì
không
hiểu
Cải
Lương,
v.v.
Ý kiến bạn đọc