Đang
truy
cập
:
476
•Máy chủ tìm kiếm : 4
•Khách viếng thăm : 472
Hôm
nay
:
79429
Tháng
hiện
tại
:
2305181
Tổng
lượt
truy
cập
:
120573213
13/4 đến rồi 13/4 về cũng như ngày Tết vậy, sinh nhật web lần thứ 22 của web cailuongvietnam.com lại đến, xin chúc trang web và Àdmin luôn được nhiều sức khoè. được sự tin yêu của bạn đọc và luôn là nơi dừng bước của khách mộ điệu nghệ thuật cải lương, quá khứ vàng son hay một tương lai vô định với những giấy phút tìm về, trăn trổ hướng đi, phát triển... hay...
Lối viết cải lương mang đậm chất thơ

Nhà
thơ
kiêm
soạn
giả
Kiên
Giang
(DR)
Chất
thơ
và
chất
Nam
Bộ
đã
thấm
sâu
trong
tâm
hồn
Kiên
Giang,
để
khi
ông
bước
vào
lĩnh
vực
sáng
tác
cải
lương,
ông
đã
tạo
được
cho
mình
một
lối
sáng
tác
rất
riêng:
lối
sáng
tác
mang
đậm
chất
thơ.
Kiên
Giang
tên
thật
là
Trương
Khương
Trinh,
sinh
năm
1929,
tại
làng
Đông
Thái,
huyện
An
Biên,
tỉnh
Kiên
Giang.
Ông
lấy
tên
quê
hương
để
làm
bút
danh
cho
mình.
Kiên
Giang
là
bút
danh
khi
ông
làm
thơ,
còn
khi
viết
báo
và
soạn
tuồng,
thì
ông
lấy
tên
là
Hà
Huy
Hà.
Tuy
vậy,
cái
tên
Kiên
Giang
đã
trở
nên
quen
thuộc
và
mọi
người
vẫn
quen
gọi
ông
là
Kiên
Giang
-
Hà
Huy
Hà,
hay
chỉ
đơn
giản
là
Kiên
Giang.
Tuổi
thơ
của
Kiên
Giang
trải
qua
những
nhọc
nhằn
ở
vùng
U
Minh
Thượng,
nơi
cha
mẹ
ông
phải
tảo
tần
gian
khó
để
nuôi
ông
ăn
học.
Nhà
thơ
chân
quê
Nam
Bộ
Cái
tên
Kiên
Giang
bắt
đầu
được
biết
đến
trên
thi
đàn
miền
Nam
Việt
Nam
từ
năm
1955.
Kiên
Giang
đã
để
lại
cho
đời
nhiều
bài
thơ
thuộc
hàng
tuyệt
tác.
Nét
đặc
sắc
ở
thơ
Kiên
Giang,
đó
là
nó
«
rặc
ròng
»
Nam
Bộ.
Lời
thơ
chân
chất,
bình
dị,
nhưng
rất
diễm
tình,
rất
nên
thơ.
Thử
đọc
lại
mấy
câu
sau
đây
:
Chiều
chiều
gió
đẩy
gió
đưa,
Nhìn
xem
lá
mạ
mà
mơ
duyên
nồng.
(Quán
giữa
đồng)
Hay
là
:
Ngày
thơ
xé
mắm
ăn
bần
chín
Bóng
mát
lung
linh
chở
khẳm
xuồng
(Chậu
nhỏ
đựng
đầy
hồn
cố
thổ)
Thật
không
thể
nào
Nam
Bộ
hơn
được
nữa!
Và
cũng
thật
không
thể
nào
tả
những
điều
bình
dị
mà
nên
thơ
hơn
được
nữa
!
Trong
rất
nhiều
bài
thơ
của
Kiên
Giang,
mỗi
khi
nhắc
về
ông,
người
ta
nghĩ
ngay
đến
hai
tuyệt
tác:
Hoa
trắng
thôi
cài
trên
áo
tím
và
Tiền
và
Lá.
Đây
là
hai
chuyện
tình
buồn,
rất
buồn,
nhưng
đẹp
và
rất
đẹp.
Người
mộ
điệu
làm
sao
khỏi
thấy
lòng
tê
tái
khi
đọc
những
vần
thơ
:
Xe
tang
đã
khuất
nẻo
đời
Chuông
nhà
thờ
khóc
đưa
người
ngàn
thu
Từ
đây
tóc
rũ
khăn
sô
Em
cài
hoa
trắng
lên
mồ
người
xưa
(Hoa
Trắng
thôi
cài
trên
áo
tím)
Hay
như
:
Kiếp
tôi
là
kiếp
làm
thơ,
Vốn
riêng
chỉ
có
muôn
mùa
lá
rơi.
Tiền
không
là
lá
em
ơi!
Tiền
là
giấy
bạc
của
đời
in
ra.
Người
ta
giấy
bạc
đầy
nhà,
Cho
nên
mới
được
gọi
là
chồng
em.
(Tiền
và
lá)
Cả
hai
bài
thơ
này
đều
đã
được
phổ
nhạc
và
được
nhiều
thế
hệ
ca
sỹ
thể
hiện.
Riêng
về
cổ
nhạc,
hai
bài
thơ
cũng
đã
được
chuyển
lời
vọng
cổ
và
được
nhiều
người
yêu
mến.
Soạn
giả
cải
lương
:
Thơ
trong
nhạc,
nhạc
trong
thơ
Bên
cạnh
sự
nghiệp
thi
ca,
Kiên
Giang
còn
là
một
soạn
giả
lừng
danh
một
thời
với
Năm
Châu,
Viễn
Châu,
Hà
Triều
-
Hoa
Phượng,
Quy
Sắc.
Đặc
biệt,
hai
soạn
giả
Hà
Triều
-
Hoa
Phượng
được
xem
là
đệ
tử
của
ông.
Cũng
giống
như
các
soạn
giả
khác,
những
vở
cải
lương
của
Kiên
Giang
thường
là
những
chuyện
tình
buồn.
Thế
nhưng,
nét
đặc
sắc
của
Kiên
Giang
đó
là,
lời
văn
trong
các
vở
tuồng
lúc
nào
cũng
đơn
giản,
mộc
mạc,
gần
gũi
với
bà
con
Nam
Bộ.
Một
điều
đặc
biệt
hơn
cả,
mà
mỗi
khi
người
ta
nghe
là
biết
ngay
tuồng
tích
của
Kiên
Giang,
đó
là
:
lời
văn
chân
phương
mộc
mạc
nhưng
thấm
đẫm
chất
thơ,
những
chuyện
tình
buồn
gần
gũi
với
đời
thường
nhưng
lại
rất
thi
vị.
Trong
nhiều
vở
tuồng
thành
công
của
Kiên
Giang,
nổi
tiếng
nhất
là
hai
vở
Người
vợ
không
bao
giờ
cưới
và
Áo
cưới
trước
cổng
chùa.
Người
vợ
không
bao
giờ
cưới
hay
còn
được
gọi
là
Sơn
nữ
Phà
Ca,
là
câu
chuyện
tình
của
một
công
tử
miền
xuôi
tên
là
Mộng
Long
cùng
với
cô
sơn
nữ
kiều
diễm
Phà
Ca.
Chàng
trai
miền
xuôi
trong
một
chuyến
đi
săn
đã
gặp
gỡ
và
phải
lòng
cô
sơn
nữ.
Thế
nhưng,
do
sự
phân
chia
giai
cấp
và
những
mưu
tính
lợi
danh
mẹ
cha,
mà
hai
người
không
được
trọn
chữ
đá
vàng.
Phà
Ca
nuốt
lệ
vào
lòng
để
nhìn
người
yêu
đi
cưới
cô
vợ
giàu
sang.
Người
mộ
điệu
vẫn
còn
thấy
lân
lân
với
những
câu
thơ
khi
hai
người
hội
ngộ:
Đói
lòng
ăn
nữa
trái
sim,
Uống
lưng
bát
nước
đi
tìm
người
thương.
Hoặc
còn
nghe
văng
vẳng
đâu
đây
lời
than
xé
lòng
của
Phà
Ca
khi
Mộng
Long
đi
lấy
vợ:
Ngày
mai
đám
cưới
người
ta,
Cớ
sao
sơn
nữ
Phà
Ca
lại
buồn.
Trái
sim
là
một
loại
trái
rừng,
có
vị
ngọt
nhưng
hơi
chát.
Ăn
Sim
xong
là
phải
uống
nước
ngay
để
tránh
bị
nghẹn.
Một
điều
bình
thường
và
bình
dị
như
thế
mà
khi
đã
vào
tay
Kiên
Giang
rồi
nó
trở
nên
lung
linh
quá,
nên
thơ
quá,
đẹp
đẻ
quá.
Còn
những
câu
than
thở
của
cô
sơn
nữ
khi
người
yêu
lấy
chồng
cũng
vậy,
nó
quê
mùa
lắm,
nhưng
đã
trở
nên
thi
vị
và
diễm
tình
qua
ngòi
bút
của
Kiên
Giang.
Mấy
mươi
năm
trước,
lời
ngâm
này
đã
làm
đau
xé
không
biết
bao
nhiêu
con
tim
người
mộ
điệu
qua
giọng
ca
bi
ai
của
Sầu
Nữ
Út
Bạch
Lan.
Đây
là
một
vai
diễn
để
đời
của
Út
Bạch
Lan,
đến
mức
mà
người
mê
cải
lương
vẫn
thường
hay
gọi
cô
là
Sơn
Nữ
Phà
Ca.
Vai
diễn
Phà
Ca
cũng
là
một
vai
để
đời
của
Nữ
hoàng
sân
khấu
Thanh
Nga.
Vai
diễn
này
đã
giúp
cho
Thanh
Nga
đoạt
giải
Thanh
Tâm
vào
năm
1958,
mở
đầu
cho
một
sự
nghiệp
chói
lọi
sau
này.
Vở
tuồng
đã
ra
đời
trên
nửa
thế
kỷ,
thế
mà
sức
sống
hiện
tại
vẫn
còn
mạnh.
Bà
con
mê
cải
lương
Nam
Bộ,
dù
già
dù
trẻ,
hầu
như
ai
cũng
biết
đến
Sơn
Nữ
Phà
Ca.
Mấy
mươi
năm
nay,
mỗi
lần
cầm
cây
đờn
ghi
ta
phím
lõm
lên,
là
ông
cụ
nhà
tôi
tay
đờn
miệng
cứ
ca
một
khúc
Sương
Chiều
trong
Sơn
Nữ
Phà
Ca
:
«
Mộng
Long
ơi
anh
có
thấy
chăng
đóa
hoa
rừng,
nở
giữa
đồi
sim….
».
Áo
cưới
trước
cổng
chùa
cũng
là
một
tuyệt
tác
đậm
chất
thơ
của
Kiên
Giang.
Vở
tuồng
này
ông
viết
về
một
ngôi
chùa
ở
quê
hương
Kiên
Giang
của
ông,
đó
là
chùa
Phù
Dung.
Bên
cạnh
ngôi
chùa
hiện
vẫn
còn
ngôi
mộ
của
một
người
phụ
nữ
tên
là
Dì
Tự,
người
được
cho
là
thứ
thiếp
của
tổng
trấn
Hà
Tiên
Mạc
Thiên
Tích.
Soạn
giả
Kiên
Giang
đã
dựa
vào
một
giai
thoại
về
người
phụ
nữ
này
để
viết
vở
cải
lương
Áo
cưới
trước
cổng
chùa.
Nội
dung
vở
tuồng
Áo
cưới
trước
cổng
chùa
kể
về
mối
tình
thơ
mộng
của
cô
gái
miền
biển
Kiên
Giang
tên
là
Xuân
Tự
với
anh
thanh
niên
cùng
xóm
tên
gọi
Tô
Châu.
Cha
của
hai
người
là
tri
kỷ
của
nhau,
nên
đã
chỉ
phúc
giao
hôn
cho
Xuân
Tự
và
Tô
Châu
từ
nhỏ.
Cha
của
Xuân
Tự
mất
sớm,
cha
của
Tô
Châu
là
Hải
Lâm
cố
gắng
lo
liệu
đám
cưới
cho
hai
người
để
trọn
lời
hứa
với
người
đã
khuất.
Thế
nhưng,
số
trời
xui
khiến,
Xuân
Tự
được
tổng
trấn
yêu
thương.
Rồi
sau
đó
bao
giông
bão
cuộc
đời
ập
đến,
Xuân
Tự
trở
nên
tật
nguyền
và
phải
giấu
mẹ
đi
tu
tại
chùa
Phù
Dung.
Xuân
Tự
có
một
người
chị
nuôi
cùng
lớn
lên
từ
nhỏ
là
Phương
Thành.
Do
Xuân
Tự
đã
quy
y,
nên
mọi
người
mới
bàn
nhau
gạt
mẹ
của
Xuân
Tự
mà
đem
Phương
Thành
thay
thế
Xuân
Tự
để
tổ
chức
đám
cưới
đúng
ngày
hai
bên
đã
dự
kiến,
vừa
để
an
ủi
vong
linh
người
quá
cố,
vừa
để
có
người
chăm
sóc
cho
mẹ
của
Xuân
Tự
vốn
bị
mù
lòa
và
đau
yếu.
Màn
cuối
là
màn
hay
nhất
của
vở
tuồng
này.
Ngày
đó,
Xuân
Tự
tay
nương
gậy
trúc
từ
chùa
trở
về
nhà
dự
đám
cưới
chị,
và
mang
cho
chị
chiếc
áo
cưới
màu
xanh
nước
biển
mà
cô
đã
chuẩn
bị
từ
lâu
cho
đám
cưới
của
mình.
Tuy
nhiên
với
linh
cảm
của
một
người
mẹ,
cuối
cùng
mẹ
của
Xuân
Tự
đã
phát
hiện
ra
sự
thật.
Mẹ
con
ôm
nhau
mà
nứt
nở.
Đám
cưới
cuối
cùng
cũng
diễn
ra,
Xuân
Tự
lạy
từ
biệt
mẹ
già
trở
lại
chùa
Phù
Dung
tiếp
tục
đời
kinh
kệ.
Thật
đúng
là
«
Áo
cưới
trước
cổng
chùa
».
Ta
thấy
chỉ
cái
tên
tuồng
cũng
đã
rất
thi
vị
và
đầy
hình
ảnh.
Lời
văn
trong
vở
tuồng
thì
cũng
rất
nên
thơ
và
mộc
mạc
theo
kiểu
Kiên
Giang.
Người
mộ
điệu
vẫn
còn
nhớ
như
in
câu
ngâm
của
chị
em
Xuân
Tự
khi
lên
chùa
:
Tay
bưng
quả
nếp
lên
chùa,
Thắp
hương
lễ
phật
xin
bùa
cầu
duyên.
Hai
câu
thơ
này
phổ
biến
đến
mức
mà
có
người
còn
lầm
tưởng
là
ca
dao.
Hay
như
hai
câu
ca
trong
màn
kết
Xuân
Tự
nói
với
mẹ
già,
cũng
thấm
đẫm
nước
mắt
và
nhưng
đầy
ý
thơ
:
Mẹ
tin
con
đã
vu
quy,
Dẫu
rằng
Xuân
Tự
quy
y
lâu
rồi.
Xuân
Tự
là
một
trong
những
vai
diễn
ấn
tượng
của
Nữ
hoàng
sân
khấu
Thanh
Nga.
Lệ
Thủy
cũng
tỏa
sáng
với
vai
Xuân
Tự
tại
đoàn
2-84.
Ngoài
ra,
vở
tuồng
này
còn
góp
phần
làm
tỏa
sáng
nhiều
tên
tuổi
khác
:
Tô
Kim
Hồng
(vai
Phương
Thành),
Lương
Tuấn
(vai
Tô
Châu),
Diệp
Lang
(vai
Hải
Lâm),
đặc
biệt
là
nữ
nghệ
sĩ
Thanh
Nguyệt
đã
xuất
thần
với
vai
diễn
mẹ
của
Xuân
Tự.
Những
bài
vọng
cổ
lai
láng
tình
thơ
Ngoài
cải
lương,
Kiên
Giang
còn
nổi
tiếng
với
nhiều
bài
vọng
cổ
đặc
sắc,
có
thể
kể
ra
:
Trái
gùi
Bến
Cát,
Đội
gạo
đường
xa,
Tim
đá
mạ
vàng,
Ngồi
trâu
thổi
sáo,
Ánh
đèn
soi
ếch,
Người
đẹp
bán
tơ,
Hương
cao
quê
ngoại,
Trái
tim
cò
trắng,
Vắt
sữa
nai
nuôi
mẹ,
Hương
sắc
gái
Cà
Mau,
Lập
quán
kén
chồng,
Ni
cô
và
lão
ăn
mày,
Khói
lò
gạch,
Cô
gái
miền
Tây
...
Ta
thấy
những
bài
vọng
cổ
của
Kiên
Giang
hầu
hết
lấy
cẩm
hứng
từ
cuộc
sống
nông
thôn
Nam
Bộ.
Tuy
nhiên,
lời
văn
thì
hoàn
toàn
bình
dj
mà
không
quê
mùa,
người
nghe
cảm
nhận
được
ở
tác
giả
có
một
sự
trau
chốt
ngôn
từ
rất
cẩn
thận.
Tuy
nhiên,
do
cái
chất
Nam
Bộ
đã
thấm
vào
máu
của
Kiên
Giang,
nên
lời
vọng
cổ
của
ông
càng
chọn
lọc
thì
càng
lộ
rõ
chất
Nam
Bộ.
Và
do
cái
chất
thi
vị
đã
thấm
sâu
trong
tâm
hồn
Kiên
Giang,
nên
lời
vọng
cổ
của
ông
rất
nên
thơ,
rất
trữ
tình.
Hai
bài
vọng
cổ
được
nhiều
người
biết
đến
nhất
của
Kiên
Giang,
đó
là
bài
Trái
Gùi
Bến
Cát
và
Tiền
Và
Lá.
Bài
Trái
Gùi
Bến
Cát
được
ông
viết
từ
một
câu
chuyện
có
thật
của
một
người
phụ
nữ
ở
Lái
Thiêu.
Người
phụ
nữ
này
đi
Lộc
Ninh
(Bình
Phước)
mua
bán
để
nuôi
con
nhỏ
và
người
chồng
đang
ốm
đau.
Ngày
nào
cũng
vậy,
sáng
tinh
mơ
cô
đón
xe
lửa
lên
đường
đi
buôn
bán,
tối
mịt
cũng
trở
về
bằng
xe
lửa.
Mỗi
bận
như
vậy,
cô
thường
mua
mang
về
cho
đứa
con
nhỏ
thứ
trái
cây
mà
đứa
con
yêu
thích:
trái
gùi
ở
Bến
Cát
Bình
Bương.
Thế
nhưng,
một
hôm
nọ,
sau
khi
bán
xong,
do
đói
khát,
cô
vừa
mua
xong
xâu
gùi
chín
cho
con,
khi
đón
xe
lửa
trở
về,
cô
bị
trượt
chân
té
xuống
đường
ray
và
bị
xe
lửa
cán
qua
mà
trên
tay
vẫn
còn
nắm
chặt
xâu
gùi.
Bài
vọng
cổ
mở
đầu
bằng
một
lối
vè
rất
dân
dã
Nam
Bộ
:
Nghe
vẻ
nghe
ve,
ai
về
Bến
Cát
Nghe
con
trẻ
hát:
Sài
Gòn,
Lộc
Ninh;
Tang
tính,
tang
tình,
trái
gùi
Bến
Cát
…
Tiếp
theo
đó
là
bốn
câu
thơ
cũng
rất
dân
dã:
Mẹ
đi
chợ
chớ
ở
lâu,
Bận
về
mẹ
nhứ
mua
xâu
trái
gùi.
còn
chờ
xe
lửa
kéo
còi,
Ra
ga
đón
mẹ
lấy
gùi
ăn
chơi.
Thật
sự
không
còn
có
thể
Nam
Bộ
hơn
được
nữa.
Chưa
hết,
sau
khi
vợ
mất,
người
chồng
sống
trong
cảnh
nhớ
nhung
triền
miên.
Đây
là
nỗi
niềm
của
người
chồng
được
Kiên
Giang
mô
tả
ở
câu
vọng
cổ
số
5:
Bao
chiều
tàu
lại
tàu
qua,
Khói
tàu
vơ
vẫn
xót
xa
tiếng
còi.
Khi
nhìn
khói
quyện
mây
trời,
Ngỡ
người
vợ
cũ
về
nơi
chân
thêm.
Người
nghe
cảm
nhận
được
ở
đây
một
nỗi
buồn
tê
tái
nhưng
là
một
nỗi
buồn
rất
thi
ca.
Nghệ
sĩ
Minh
Cảnh
được
xem
là
người
thể
hiện
thành
công
nhất
bài
vọng
cổ
này.
Trong
sáng
tác
của
Kiên
Giang,
từ
thơ
tới
vọng
cổ,
ta
thấy
mẹ
là
chủ
đề
xuyên
suốt.
Hình
ảnh
người
mẹ
được
ông
nâng
niu,
trân
quý.
Khách
thơ
làm
sao
quên
được
những
vần
thơ
về
mẹ
rất
đặc
sắc
của
Kiên
Giang
:
Chày
khuya
làm
mỏi
canh
sương
Nện
từng
nhịp
mạnh
mở
đường
chữ
thơm
(Cối
khuya)
Hay
như
:
Mẹ
rắc
hoàng
hôn
theo
gạo
trắng
Cám
bay
phương
phất
quyện
hương
cau
Nghiêng
nghiêng
bóng
xế
sau
lưng
Mẹ
Gạo
trắng
như
màu
tóc
trắng
phau.
(Sàn
gạo)
Kiên
Giang
đã
đưa
thành
công
hình
ảnh
người
mẹ
trong
những
bài
thơ
của
ông
vào
những
bài
vọng
cổ
do
ông
sáng
tác,
để
có
được
những
lời
vọng
cổ
và
những
hình
ảnh
đẹp
và
đầy
chất
thơ
ca,
như
bài
Trái
Gùi
Bến
Cát
bên
trên
rõ
ràng
là
một
tuyệt
tác
về
mẹ
của
Kiên
Giang.
Về
tình
yêu
đôi
lứa,
Kiên
Giang
cũng
có
một
tuyệt
phẩm
để
đời,
đó
là
bài
Tiền
Và
Lá.
Bài
này
ông
phát
triển
từ
bài
thơ
cùng
tên
của
chính
ông.
Nội
dung
bài
ca
kể
về
một
chuyện
tình
buồn
của
một
đôi
trai
gái
cùng
lớn
lên
từ
thuở
ấu
thơ
:
Hồi
bé
thơ,
anh
hay
rủ
em
ra
cất
nhà
chòi
bên
bờ
giếng,
anh
lấy
đất
nắn
tượng
người
để
bán,
em
nhặt
lá
vàng
rơi
làm
tiền
để
mua
tượng.
Khi
lớn
lên,
em
mới
phát
hiện
ra
rằng,
tiền
không
phải
là
lá,
và
thế
là
ngày
xưa
em
dùng
lá
để
mua
tượng
hình
nhân
do
anh
nắn,
còn
bây
giờ
em
đã
bị
người
ta
dùng
tiền
thật
mua
đi
mất
rồi.
Chúng
ta
thấy,
đó
một
chuyện
tình
buồn,
nhưng
đã
được
Kiên
Giang
thi
vị
hóa
với
những
hình
ảnh
so
sánh
rất
đỗi
gần
gũi
đời
thường
mà
lại
rất
nên
thơ.
Bài
thơ
đã
hay,
mà
khi
Kiên
Giang
viết
thành
vọng
cổ
lại
càng
hay.
Bài
thơ
viết
theo
thể
lục
bát,
với
lời
lẽ
bình
dị
và
chân
quê.
Có
lúc
người
ta
còn
tưởng
bài
thơ
Tiền
Và
Lá
là
của
nhà
thơ
chân
quê
Bắc
Bộ
Nguyễn
Bính.
Nhưng
rõ
ràng,
xem
lại
lời
lẽ
trong
bài
thơ,
ta
thấy
rằng,
nếu
không
phải
một
người
sinh
ra
và
lớn
lên
ở
Nam
Bộ,
không
lấy
Nam
Bộ
làm
cái
chất
trong
tâm
hồn
và
tính
cách,
thì
không
thể
có
được
những
lời
thơ
“rặc
ròng”
Nam
Bộ
như
vậy
được.
Trở
lại
bài
vọng
cổ
Tiền
Và
Lá,
Kiên
Giang
đã
khéo
léo
đưa
được
chất
thơ
vào
trong
bài
vọng
cổ.
Và
khi
nghe,
người
mộ
điệu
có
lúc
thả
hồn
phiêu
lãng
để
không
còn
biết
là
mình
đang
lạc
vào
thế
giới
của
thi
ca
hay
những
cung
bậc
bổng
trầm
của
bài
vọng
cổ.
Chẳng
hạn
như
Kiên
Giang
đã
khéo
léo
đưa
trọn
vẹn
6
câu
lục
bát
trong
bài
thơ
vào
bài
vọng
cổ,
khiến
người
mê
vọng
cổ
rất
thích
thú
:
Tiền
không
là
lá
em
ơi!
Tiền
là
giấy
bạc
của
đời
in
ra
.
Người
ta
giấy
bạc
đầy
nhà,
Cho
nên
mới
được
gọi
là
chồng
em.
Nhớ
em
những
buổi
chiều
hôm,
Anh
gom
lá
đốt
khói
lên
tận
trời.
Kiên
Giang
hiện
tại
tuổi
đã
ngoại
bát
tuần.
Những
bài
thơ,
những
vở
cải
lương
hay
những
bài
vọng
cổ
của
ông
vẫn
có
sức
hút
mạnh
mẽ
đối
với
các
thế
hệ
người
mộ
điệu.
Đến
hiện
tại,
người
mê
thơ
vẫn
còn
ngậm
ngùi
với
Hoa
trắng
thôi
cày
trên
áo
tím,
với
Tiền
Và
Lá,
người
mê
vọng
cổ-cải
lương
vẫn
còn
xao
xuyến
với
Sơn
nữ
Phà
Ca,
Chiếc
Áo
Trước
Cổng
Chùa,
với
Trái
Gùi
Bến
Cát,
với
Tiền
và
Lá,
hay
với
nhiều
bài
khác
nữa.
Sáng
tác
đừng
xa
rời
thực
tế
Dù
nói
về
thơ
ca
hay
vọng
cổ-cải
lương,
thì
lối
sáng
tác
của
Kiên
Giang
vẫn
mang
đậm
chất
bình
dị,
gần
gủi
và
rất
nên
thơ.
Đặc
biệt,
tinh
hoa
của
Kiên
Giang
tập
trung
ở
cái
chất
thuần
Nam
Bộ
của
ông.
Có
người
còn
so
sánh
:
Nguyễn
Bính
là
nhà
thơ
chân
quê
Bắc
Bộ
còn
Kiên
Giang
là
nhà
thơ
chân
quê
Nam
Bộ.
Và
Kiên
Giang
đã
đưa
được
cái
chân
quê
Nam
Bộ
này
vào
những
tác
phẩm
của
ông
để
tạo
được
nét
đặc
sắc
riêng.
Nói
về
vọng
cổ-cải
lương,
ta
thấy
rằng
nét
đặc
sắc
của
Kiên
Giang
thể
hiện
ở
hai
điểm:
bình
dị
và
thi
vị.
Ông
đã
vận
dụng
cái
chất
nông
thôn
Nam
Bộ,
vốn
là
bản
chất
của
ông,
để
sáng
tác,
bởi
thế
lời
văn
rất
bình
dị.
Ông
đã
chuyển
tải
thành
công
cái
thi
vị
của
cuộc
đời,
vốn
đã
ăn
sâu
trong
tâm
hồn
của
một
nhà
thơ
như
ông,
để
viết
nên
những
lời
ca
đầy
thi
vị.
Và
chính
cái
bình
dị
đã
khiến
cho
bài
ca
của
ông
trở
nên
gần
gũi,
chính
cái
chất
thi
ca
đã
khiến
cho
các
tác
phẩm
vọng
cổ-cải
lương
của
ông
trở
nên
đẹp
và
thơ
mộng,
làm
say
lòng
người
mộ
điệu.
Nhìn
lại
lịch
sử
cải
lương
100
năm
qua,
có
thể
nói
rằng,
Kiên
Giang
là
soạn
giả
điển
hình
cho
lối
sáng
tác
“thơ
trong
nhạc,
nhạc
trong
thơ”.
Lối
sáng
tác
của
Kiên
Giang
là
một
tấm
gương
sáng
cho
thế
hệ
soạn
giả
cải
lương
hiện
tại.
Bởi
dù
muốn
dù
không
cũng
phải
thừa
nhận
rằng,
một
trong
những
nguyên
nhân
khiến
cho
cải
lương
mất
đi
sức
hấp
dẫn,
đó
chính
là
các
bài
vọng
cổ
và
những
vở
cải
lương
được
sáng
tác
ngày
nay
hình
như
thiếu
chút
thi
vị,
và
thường
có
lời
văn
quá
bóng
bẩy
văn
chương,
mà
lại
còn
đề
cập
đến
những
chủ
đề
quá
xa
vời
đối
với
người
mê
cải
lương
vùng
sông
nước
Nam
Bộ.
Lê
Phước
Mã
an
toàn:

13/4 đến rồi 13/4 về cũng như ngày Tết vậy, sinh nhật web lần thứ 22 của web cailuongvietnam.com lại đến, xin chúc trang web và Àdmin luôn được nhiều sức khoè. được sự tin yêu của bạn đọc và luôn là nơi dừng bước của khách mộ điệu nghệ thuật cải lương, quá khứ vàng son hay một tương lai vô định với những giấy phút tìm về, trăn trổ hướng đi, phát triển... hay chỉ thư giản thôi.
Ý kiến bạn đọc