Đang
truy
cập
:
593
•Máy chủ tìm kiếm : 5
•Khách viếng thăm : 588
Hôm
nay
:
13062
Tháng
hiện
tại
:
2908381
Tổng
lượt
truy
cập
:
121176413
13/4 đến rồi 13/4 về cũng như ngày Tết vậy, sinh nhật web lần thứ 22 của web cailuongvietnam.com lại đến, xin chúc trang web và Àdmin luôn được nhiều sức khoè. được sự tin yêu của bạn đọc và luôn là nơi dừng bước của khách mộ điệu nghệ thuật cải lương, quá khứ vàng son hay một tương lai vô định với những giấy phút tìm về, trăn trổ hướng đi, phát triển... hay...
NS Trường Xuân
Cố
nghệ
sĩ
kiêm
soạn
giả
Nguyễn
Thành
Châu
nói:
“Nghệ
sĩ
yêu
như
một
người
bình
thường
biết
yêu,
nhưng
họ
lại
cũng
yêu
những
cái
gì
oái
oăm,
thô
vụng
hay
kỳ
dị
mà
trong
đó
họ
tìm
thấy
một
nét
“Đẹp”.
Mà
khi
họ
đã
yêu
thì
họ
thành
thật
yêu,
cuồng
nhiệt
yêu,
ngây
ngất
yêu,
không
đắn
đo,
không
dè
dặt,
không
đòi
hỏi
lợi
danh
mà
chỉ
yêu
với
tất
cả:
TÂM
HỒN
NGHỆ
SĨ.
Tất
cả
thành
tâm
yêu
mãnh
liệt
có
một
vật
là:
Sân
Khấu.
Một
chéo
lòng
mà
người
này
giữ
được
của
người
kia
là:
Sân
Khấu.
Một
góc
trời
mà
luôn
luôn
họ
được
gặp
gỡ
nhau
là:
Sân
Khấu.”
Cố nữ nghệ sĩ Bảy Nam (thân mẫu của nữ diễn viên Kim Cương) nói: “Nghệ thuật sân khấu là một cái Đạo”.
Cố soạn giả Tư Chơi (Huỳnh Thủ Trung) nói: “Sân khấu làm cho người ta ghiền, ghiền còn dữ dội hơn là ghiền tứ đổ tường. Trong tứ đổ tường, người ghiền á phiện có thể cai thuốc được, ghiền rượu có thể bỏ rượu được, ghiền cờ bạc hay chơi bời trai gái đều có thể bỏ được. Còn cái ghiền cải lương, mê sân khấu thì người nghệ sĩ chỉ đến cái chết mới dứt được cái ghiền lạ lùng đó.”
Tôi thích nhất câu nói của cố soạn giả Tư Chơi, vì tôi thấy đúng khi chiêm nghiệm lại cuộc đời mình và cuộc đời của biết bao nghệ sĩ thân quen trong nhiều đoàn hát cải lương ở Việt Nam. Tôi xin giới thiệu Cuộc đời của nghệ sĩ Trường Xuân, tiêu biểu cho lối sống của lớp nghệ sĩ trong các thập niên 40, 50, 60…
Trường
Xuân
tên
thật
là
Hồ
Trường
Xuân,
sanh
năm
1929
tại
Trà
Ôn
(Cần
Thơ).
Thân
mẫu
của
anh
là
một
cô
giáo
tiểu
học
trong
làng.
Anh
học
hết
lớp
5
tiểu
học
năm
1943,
nhân
dịp
đoàn
hát
Tiến
Hóa
của
ông
bầu
Trương
Gia
Kỳ
Sanh
hát
ở
Trà
Ôn,
anh
trốn
nhà
xin
đi
theo
gánh
hát.
Anh
được
giao
nhiệm
vụ
nhắc
tuồng.
Nhờ
vậy
lần
lần
Trường
Xuân
thuộc
nhiều
vai
và
biết
ca
những
bài
ca
trong
tuồng.
Ngoài
ra,
Trường
Xuân
bái
nhạc
sĩ
Năm
Hưng
làm
sư
phụ
để
học
ca
đúng
bài
bản,
đúng
nhịp
điệu.
Anh
muốn
được
ra
sân
khấu
hát
nhưng
ông
bầu
không
cho
vì
không
có
người
thế
Trường
Xuân
nhắc
tuồng.
Năm
1944,
Trường
Xuân
rời
đoàn
Tiến
Hóa,
gia
nhập
đoàn
hát
Chấn
Hưng
của
ông
bà
bầu
Năm
Thành
–
Chín
Diệp,
được
cho
làm
quân.
Trường
Xuân
ẩn
nhẫn
ở
với
đoàn
hát
mới
để
theo
dõi
lối
ca
diễn
của
các
nghệ
sĩ
đàn
anh
và
học
hát
các
vai
tuồng
của
họ,
nên
khi
có
người
bịnh
bỏ
hát
thì
anh
tình
nguyện
hát
thế
vai.
Ông
bà
bầu
công
nhận
anh
hát
thế
vai
thành
công
nhưng
không
nâng
anh
lên
thành
diễn
viên
mà
cứ
kể
anh
là
vệ
sĩ,
quân
hầu.
Năm 1945, vì muốn được ra sân khấu hát, Trường Xuân rời đoàn Chấn Hưng, gia nhập đoàn hát Tân Xuân của bà bầu Tư Hélène. Sau khi thử giọng ca của Trường Xuân, bà bầu cho anh đóng vai kép độc Lý Du Hòa trong tuồng Chiếc Lá Vàng của soạn giả Mộng Vân. Lần đầu tiên được đóng một vai đàng hoàng trên sân khấu, Trường Xuân học tuồng thật thuộc, dượt ca chu đáo và tập trung tinh thần hát. Anh được khán giả khen, bà bầu cũng hài lòng và cho anh lãnh lương kép độc, chỉ thua lương của vài người trong đoàn hát. Anh mua gà cúng tổ, đãi ông thầy đờn và anh em nghệ sĩ mới quen. Anh được đóng thêm vai kép độc trong tuồng Cánh Buồm Đen và tuồng Đêm Tơ Vương thì chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, các đoàn hát ngưng hoạt động, anh trở về Trà Ôn ở với mẹ anh.
Muốn
giữ
chân
anh
ở
lại
với
gia
đình,
ông
ngoại
cho
anh
hưởng
huê
lợi
10
công
vườn
cam
của
ông
(kế
bên
vuông
nhà
của
mẹ
anh).
Nhưng
Trường
Xuân
không
muốn
làm
một
tên
nhà
quê
giàu
có
mà
muốn
trở
thành
một
tên
tướng
cướp
khét
tiếng
hay
một
vị
vua
chễm
chệ
trên
ngai
vàng
của
sân
khấu.
Anh
mê
hát
nên
khi
anh
ra
vườn
cam
thì
không
phải
để
coi
người
phụ
làm
vườn
vun
bồi
gốc
cam,
bắt
kiến
vàng
mà
là
để
hò,
hát,
ca
vọng
cổ
và
múa
cây
kiếm
bằng
tre
hay
vuốt
râu
bằng
lá
chuối…
Ông
ngoại
tưởng
anh
bị
bịnh
tà,
bèn
rước
ông
thầy
pháp
đăng
đàn
vẽ
bùa
bắt
quỷ,
trị
bịnh
cho
anh.
Trường
Xuân
gặp
dịp
học
cách
đóng
vai
thầy
pháp
trên
sân
khấu
nên
anh
bắt
chước
ông
thầy
pháp,
cũng
đọc
bùa,
múa
kiếm
cây
bắt
quỷ
và
dùng
khăn
ấn
đỏ
của
ông
thầy
pháp,
múa
nẹt…
nẹt
khăn
ấn,
kêu
thần
hú
quỷ
rồi
đánh
kiếm
với
ông
thầy
pháp
khiến
cho
ông
thầy
tưởng
đã
gặp
quỷ
dữ
nên
ông
bỏ
pháp
đàn
chạy
trốn
luôn.
Mẹ
anh
tưởng
anh
mê
cô
đào
hát
nào
nên
nhờ
một
bà
mai
kiếm
cô
gái
đẹp
nhất
trong
xóm
để
cưới
cho
anh,
dù
lúc
đó
anh
mới
có
17
tuổi
ta
(tính
theo
âm
lịch).
Cuối
năm
1946,
trong
khi
mẹ
anh
đang
tuyển
chọn
người
vợ
xứng
đôi
vừa
lứa
cho
anh,
thì
một
đêm
tối
trời,
Trường
Xuân
ôm
bọc
quần
áo
trốn
đi
tìm
người
tình
trong
mộng
của
anh:
đó
là
sân
khấu
cải
lương.
Trường
Xuân
gia
nhập
đoàn
hát
Hề
Lập,
có
vai
hát
trong
các
tuồng
Lý
Chơn
Tâm
Cởi
Củi,
Long
Hình
Quái
Khách,
Giòng
Châu
Hiệp
Nữ,
Lửa
Lòng
Thiếu
Phụ,
Cõi
Lòng
Tan
Nát.
Năm
1948,
Trường
Xuân
rời
đoàn
hát
của
Hề
Lập,
gia
nhập
đoàn
hát
Hậu
Tấn
Năm
Nghĩa,
hát
các
tuồng
Ba
người
Lính
Ngự
Lâm,
Trên
Đường
Nhiệm
Vụ,
Xâu
Chuỗi
Ngọc,
Cành
Vàng
Trong
Lửa
Đỏ.
Năm
1949,
Trường
Xuân
về
hát
cho
đoàn
Tiếng
Chuông
Bầu
Cang,
có
vai
hát
trong
tuồng
Tình
Bên
Sông
Nguyệt,
Người
Mẹ
Mù,
Trộm
Mắt
Phật,
Cây
Đèn
Thần,
Cánh
Đồng
Máu.
Khi đoàn Tiếng Chuông hát ở huyện Ô Môn, một cô gái trẻ đẹp đến rạp hát trao cho Trường Xuân bức thơ của mẹ anh. Bà kêu Trường Xuân xin phép nghỉ một tuần lễ, về Trà Ôn cưới vợ rồi sẽ tiếp tục đi hát… Cô gái mang thư đến chính là cô vợ mà mẹ anh đã dạm hỏi cưới cho anh. Trường Xuân thấy cô gái thì rất ưng bụng nhưng sợ về quê cưới vợ thì ông ngoại và mẹ anh sẽ giữ anh ở lại nhà, không cho đi hát nữa, nên anh trả lời thư: “Nếu mẹ muốn con cưới vợ để có cháu bồng, có người nối dõi thì xin mẹ tổ chức lễ cưới đơn sơ ở gánh hát, anh em trong đoàn hát sẽ giúp con trang trí, nấu cỗ bàn và không trở ngại cho đêm hát của đoàn. Con không thể xin nghỉ hát được vì không có người thế tuồng, xin mẹ thương mà giúp con”.
Ông bầu Cang biết chuyện anh kép độc muốn cưới vợ nên ông cho quản lý đi mướn rạp hát ở Trà Ôn, đưa đoàn về xã nhà của Trường Xuân hát, đồng thời giúp cho việc tổ chức đám cưới. Các nhơn viên và đào kép hát đồng loạt giúp một đêm lương để Trường Xuân có tiền tổ chức đám cưới. Ông bà bầu Cang cho 3000 đồng và tiền bông rạp, trang trí, nấu nướng. Ông ngoại và mẹ của Trường Xuân chỉ tốn tiền mua nữ trang tặng cô dâu, còn mọi phí tổn đều do đoàn hát giúp. Đám cưới của Trường Xuân được tổ chức linh đình, có dàn tân nhạc giúp vui, đêm lại có đờn ca tài tử, gánh hát hát thí một đêm cho bà con bên chồng bên vợ và lối xóm của mẹ Trường Xuân đến xem Trường Xuân hát. Đêm đó diễn tuồng Xâu Chuỗi Ngọc, Trường Xuân hát vai Hoàng đế A Tu La, tướng vua rất đẹp và oai phong. Sau đám cưới, vợ Trường Xuân theo gánh hát, làm nhiệm vụ giữ cửa soát vé, hai vợ chồng được ăn cơm hội và có thêm một đầu lương của vợ Trường Xuân.
Năm
1943,
tôi
gặp
ông
thầy
cũ
của
tôi
là
ông
Trương
Gia
Kỳ
Sanh,
bầu
gánh
hát
Tiến
Hóa,
lúc
đó
thì
Trường
Xuân
đang
làm
nhiệm
vụ
nhắc
tuồng.
Sáu
năm
sau
tôi
gặp
lại
Trường
Xuân
trong
gánh
hát
Tiếng
Chuông
của
bầu
Cang,
tôi
đã
trở
thành
soạn
giả,
Trường
Xuân
là
kép
độc
chánh
của
đoàn
hát.
Tôi
có
hỏi
Trường
Xuân:
“Tại
sao
mỗi
năm
anh
thay
đổi
một
gánh
hát?”,
thì
được
anh
trả
lời:
–
Mỗi
lần
tôi
thay
đổi
một
gánh
hát
mới
là
tôi
lên
được
một
bậc
trong
hàng
ngũ
diễn
viên?
Khởi
đầu
là
nhắc
tuồng,
kế
đó
làm
quân
sĩ,
rồi
quân
sĩ
có
vài
câu
bẩm
báo,
vệ
sĩ
đánh
võ,
rồi
kép
cạnh,
kép
độc,
kép
lẳng
độc,
bây
giờ
là
kép
nhì
chỉ
đứng
sau
kép
chánh,
đào
chánh.
Rồi
tôi
hỏi
tiếp:
“Bí
mật
nghề
nghiệp
của
anh
là
gì?”,
thì
anh
nói:
–
Đầu
tiên
là
phải
biết
bắt
chước,
học
theo
cái
hay
của
các
bậc
đàn
anh.
Học
rồi
thì
phải
kiếm
chỗ
tập
luyện
để
cái
miệng
của
mình
có
thể
phát
âm
đúng,
tay
chân
múa
may
cử
động
như
nhân
vật
mà
mình
thủ
diễn.
Khi
đã
bắt
chước
được
thì
tìm
tới
những
ông
thầy
nhạc
sĩ
để
học
ca
cho
có
căn
bản,
học
hỏi
các
soạn
giả
để
nghe
giải
thích
tính
cách
của
nhân
vật,
rồi
mình
phải
tìm
nét
diễn
xuất
của
riêng
mình
để
thể
hiện
nhân
vật
đó.
Khi
hát,
nghe
khán
giả
cười
chỗ
nào,
vỗ
tay
chỗ
nào
thì
phải
suy
nghĩ
tại
sao
khán
giả
thích
chỗ
đó
để
lần
sau
mình
hát
hay
hơn,
khán
giả
vỗ
tay
nhiều
hơn…
Đam
mê
cái
nghề
hát
như
mê
người
tình
trong
mộng!
Người
tình
thật
đẹp,
huyền
ảo,
mình
chạy
theo
đuổi
hoài
mà
chưa
bao
giờ
nắm
bắt
được
trọn
vẹn.
Năm 1952, tôi gia nhập đoàn Thanh Minh bầu Nghĩa, Trường Xuân vẫn ở lại đoàn hát Tiếng Chuông, anh là diễn viên trụ cột của đoàn hát. Anh vừa làm kép nhì (vai độc, lẳng) vừa là người phụ trách sân khấu, tập cho các diễn viên thế vai, điều khiển mỗi suất hát, giới thiệu quảng cáo tuồng hát đêm sau. Anh lãnh bốn đầu lương trong một đêm hát vì những phần việc mà anh đảm nhận như vừa kể. Thời gian này Trường Xuân nghe theo lời bạn bè cho rằng hút á phiện có nhiều sáng kiến, hát không biết mệt, hát hay…, nên anh thử làm quen với á phiện để rồi sa chân vào con đường nghiện ngập.
Năm
1956,
chánh
phủ
Ngô
Đình
Diệm
bài
trừ
tứ
đổ
tuờng,
nghiêm
cấm
hút
á
phiện,
cờ
bạc,
đĩ
điếm,
Trường
Xuân
bị
bắt
quả
tang
đang
hút
á
phiện,
bị
nhốt
ở
khám
quận
nhứt.
May
nhờ
ông
quận
trưởng
Lê
Minh
Tùng,
có
cảm
tình
với
giới
nghệ
sĩ
nên
thay
vì
bắt
Trường
Xuân
giải
tòa,
ông
cảnh
cáo
và
tha
cho
Trường
Xuân
ra
khỏi
khám.
Trở
về
đoàn
hát,
Trường
Xuân
xấu
hổ
với
bạn
bè,
rời
bỏ
đoàn
hát
và
cương
quyết
cai
nghiện.
Anh
bặt
tăm
hơi
cho
đến
năm
1959,
khán
giả
mới
gặp
lại
Trường
Xuân
trong
đoàn
hát
Kim
Chưởng
qua
vai
Hoàng
Đế
Diệp
Chấn
Phong
trong
tuồng
Thuyền
Ra
Cửa
Biển.
Nghệ
sĩ
Trường
Xuân
đã
tìm
lại
được
phong
độ
xưa,
anh
nổi
tiếng
qua
các
vai
hát
kép
độc
trong
các
tuồng
Áo
Trắng
Nàng
Mộng
Trinh,
Hoang
Hồn
Trên
Tháp
Đá,
Lá
Đào
Rơi,
Nửa
Bản
Tình
Ca,
Cô
Gái
Sông
Đà,
Người
Anh
Khác
Mẹ,
Nước
Mắt
Kẻ
Sang
Tần,
Chín
Đường
Tuyệt
Kiếm,
Đồ
Long
Đao…
Năm
1962,
tại
rạp
Quốc
Thanh,
nghệ
sĩ
Trường
Xuân
trong
vai
Đại
đế
Mông
Kha
tuồng
Hai
Chiều
Ly
Biệt
đã
làm
cho
khán
giả
nín
thở
theo
dõi
khi
sân
khấu
xuật
hiện
tướng
Mông
Cổ
tàn
ác
khét
tiếng
với
cái
đầu
trọc
lóc.
Đại
đế
Mông
Kha
với
cái
hình
tượng
trọc
đầu
khiến
cho
các
ký
giả
kịch
trường
rộ
lên
viết
bài
kép
đầu
trọc
Trường
Xuân
trong
vai
Đại
đế
Mông
Kha
làm
sống
lại
hình
ảnh
Yul
Brynner
trong
vai
vua
Xiêm
phim
Le
Roi
et
moi!
Trường
Xuân
vẫn
giữ
cái
đầu
trọc
đầy
ấn
tượng
trong
thời
gian
anh
hát
cho
đoàn
Kim
Chưởng
từ
năm
1959
đến
năm
1969.
Năm
1970,
Trường
Xuân
hát
cho
đoàn
Thái
Dương.
Năm
1971,
anh
hát
cho
đoàn
Kim
Chung
cho
đến
tháng
4
năm
1975.
Cuối
năm
1975,
Trường
Xuân
được
chánh
quyền
mới
phân
công
về
hát
cho
đoàn
cải
lương
tập
thể
Saigon
1
với
số
lương
10
đồng
một
suất
hát.
Anh
cũng
hát
vai
kép
độc
nhưng
khán
giả
nhớ
anh
nhất
khi
anh
hát
vai
hề,
vai
thầy
bói
Nghêu
trong
tuồng
Nghêu
Sò
Ốc
Hến.
Năm
1995,
sức
khỏe
Trường
Xuân
sút
kém,
anh
về
ở
trong
một
căn
phòng
nhỏ
của
nhà
tập
thể
đoàn
cải
lương
tập
thể
Saigon
1,
ăn
cơm
hội,
sống
lây
lất
vì
đoàn
Saigon
1
cũng
không
hát
được.
Trường
Xuân
bị
bịnh
suyễn
và
loét
bao
tử,
anh
qua
đời
lúc
16
giờ
chiều
ngày
12
tháng
01
năm
1998,
hưởng
thọ
70
tuổi.
Trường
Xuân
là
người
ham
hát,
ham
học
hỏi
nghề
hát,
được
sự
mến
phục
của
bạn
đồng
nghiệp
và
các
ký
giả
kịch
trường,
được
khán
giả
hoan
nghinh
qua
nhiều
vai
tuồng
để
đời
của
anh.
Các
bạn
thân
thường
nhớ
đến
Trường
Xuân
qua
câu
anh
thường
nói:
“Tôi
mê
sân
khấu
như
mê
người
tình
trong
mộng.
Cái
mà
mình
cặm
cụi
đi
tìm
con
đường
riêng
cho
mình,
bằng
tất
cả
nỗ
lực
mà
vẫn
thấy
đích
đến
mãi
mãi
xa
hút,
xa
như
cõi
vĩnh
hằng
mà
ta
mơ
hồ
rằng
chỉ
có
ở
nơi
đó,
nơi
cõi
vĩnh
hằng,
người
nghệ
sĩ
mới
có
cái
hoàn
hảo!”.
Nhớ
các
bạn
trọn
đời
trả
nợ
dâu
Nguyễn
Phương,
93
tuổi
nghệ sĩ, tiền phong, sân khấu, diễn đạt, tinh tế, đam mê, nghệ thuật
Mã
an
toàn:

13/4 đến rồi 13/4 về cũng như ngày Tết vậy, sinh nhật web lần thứ 22 của web cailuongvietnam.com lại đến, xin chúc trang web và Àdmin luôn được nhiều sức khoè. được sự tin yêu của bạn đọc và luôn là nơi dừng bước của khách mộ điệu nghệ thuật cải lương, quá khứ vàng son hay một tương lai vô định với những giấy phút tìm về, trăn trổ hướng đi, phát triển... hay chỉ thư giản thôi.
Ý kiến bạn đọc