Nên
duyên
vì
học
chung
lớp
Trong
những
ngày
Hà
Nội
mùa
thu
nắng
đẹp,
vợ
chồng
nghệ
sĩ,
NGƯT
Đoàn
Mạnh
Dung
và
NSƯT
Thanh
Dậu
ra
chơi
Hà
Nội.
Chị
là
con
gái
Hà
Nội
thứ
thiệt,
anh
là
trai
Bắc
chẳng
chệch
đi
đâu.
Hai
vợ
chồng
ngồi
cạnh
nhau,
chị
cười
nhẹ
nhàng,
nói
năng
nhỏ
nhẹ,
một
hai
đều
“anh
nhỉ”,
anh
nhìn
chị
ánh
mắt
dịu
dàng.
Bằng
ấy
tuổi
rồi
(chị
năm
nay
sáu
tám
tuổi,
anh
bảy
ba),
anh
chị
vẫn
cùng
nhau
đi
khắp
nơi,
vui
vẻ
và
hạnh
phúc.

Vợ
chồng
NSƯT
Đoàn
Mạnh
Dung
và
NSƯT
Thanh
Dậu.
Anh
chị
là
hai
trong
số
hai
mươi
lăm
học
viên
của
khóa
đào
tạo
diễn
viên
đầu
tiên
do
Sở
Văn
hóa
Hà
Nội
tổ
chức
năm
1957,
khi
ấy
chị
12
tuổi,
anh
17
tuổi.
Học
xong,
anh
chị
cùng
đầu
quân
về
đoàn
cải
lương
Chuông
Vàng,
tiền
thân
là
đoàn
cải
lương
Kim
Chung
nức
tiếng
Hà
Nội.
NSƯT
Đoàn
Mạnh
Dung
gần
như
đã
“đóng
đinh”
trong
lòng
khán
giả
với
hình
ảnh
“ông
già
Nam
Bộ”
cao
gày,
mặt
xương
xương,
tóc
bạc
búi
tó
củ
hành,
nói
giọng
Nam
Bộ
đặc
sệt
trong
các
phim
Đất
phương
Nam,
Những
đứa
con
thành
phố;…
mà
hầu
như
quên
mất
hoặc
ít
ai
biết
rằng
Đoàn
Mạnh
Dung
từng
là
kép
chính
nổi
tiếng
với
gần
100
vở
cải
lương,
trong
đó
có
vở
Bạch
Xà
nương,
Tống
Chân
-
Cúc
Hoa,
Lục
Vân
Tiên.
NSƯT
Thanh
Dậu
cũng
nổi
danh
trong
làng
cải
lương
trong
Nam
ngoài
Bắc
những
năm
60,
70
của
thế
kỷ
trước
với
hàng
loạt
vở:
Bạch
Viên
Tôn
Cát,
Mỵ
Châu
-
Trọng
Thủy,
Phương
Hoa,
Lý
Công,…
Năm
1964,
khi
kỷ
niệm
10
năm
giải
phóng
Thủ
đô,
chị
vào
vai
Chị
Quyên,
anh
vào
vai
Anh
Trỗi
trong
vở
“Sống
như
anh”.
Cùng
năm
ấy,
vai
kỹ
sư
Phi
Nhạn
trong
vở
“Một
dòng”
của
soạn
giả,
đạo
diễn
Lộng
Chương
cũng
đã
đem
lại
Huy
chương
vàng
cho
chị.
Chị
vốn
con
nhà
nòi
cải
lương,
bố
là
nghệ
sĩ
đàn
tranh
Ba
Vân,
mẹ
là
nữ
hề
Vân
Quý
nổi
tiếng
của
Hà
Nội
những
năm
năm
mươi
của
thế
kỷ
trước.
Nhà
chị
có
sáu
chị
em
thì
năm
người
làm
nghệ
thuật.
Theo
bố
mẹ
đi
diễn
từ
khi
mới
hai
tuổi,
cô
bé
Dậu
đã
lây
niềm
say
mê
cải
lương
từ
lúc
nào
không
hay.
Còn
Đoàn
Mạnh
Dung
đến
với
nghề
tình
cờ
đến
mức
hồn
nhiên.
Sau
khi
được
một
ông
bầu,
mà
sau
này
cậu
mới
biết,
bảo
“có
muốn
học
hát
không,
về
nhà
tôi
hát
cho
vui”
lúc
cậu
đang
ngồi
tán
đinh
trên
đường
đi
Sơn
Tây,
hát
nghêu
ngao
cùng
vài
anh
em
khác,
anh
vui
chân
đi
theo.
Ông
bảo
gì
thì
làm
nấy,
tuổi
trẻ
hiếu
động,
thấy
bảo
múa
giáo,
múa
kiếm,
chạy
vòng
vòng
thì
khoái
lắm.
Nhưng
thời
bấy
giờ,
đoàn
tư
nhân
không
được
phép
hoạt
động,
ai
muốn
làm
diễn
viên
thì
phải
thi,
thế
là
khi
đoàn
Chuông
Vàng
tổ
chức
thi
tuyển,
cậu
cũng
tham
dự.
Cuối
cùng
là
đỗ,
rồi
đi
học.
Lúc
đó,
Đoàn
Mạnh
Dung
mới
nhận
ra,
mình
cũng
có
niềm
yêu
thích
bộ
môn
nghệ
thuật
này.
“Cho
đến
bây
giờ
tôi
vẫn
còn
nhớ
cảm
giác
chân
mình
run
lên
khi
lần
đầu
tiên
đứng
trên
sân
khấu
rạp
Chuông
Vàng,
trước
đầy
ắp
người
xem
cả
ba
tầng
lầu.
Khi
ấy
tôi
đóng
vai
Hứa
Tiên
(vở
Bạch
xà
nương),
vai
này
tôi
đóng
khi
mới
chỉ
học
một
năm
rưỡi”,
nghệ
sĩ
Đoàn
Mạnh
Dung
kể.
Và
cũng
chính
từ
vai
diễn
đó,
cộng
với
thời
gian
học
cùng
nhau
mà
cô
bé
Thanh
Dậu
đã
để
ý
đến
anh
chàng
đẹp
trai,
cao
ráo,
hát
hay
Đoàn
Mạnh
Dung.
Bây
giờ,
ngồi
trước
anh,
chị
đỏ
mặt
thừa
nhận:
“Nói
ra
thì
mắc
cỡ
nhưng
đúng
là
mình
thích
ổng
trước.
Chẳng
biết
ổng
thế
nào
chứ
mình
yêu
ông
ấy
là
người
đầu
tiên
và
cũng
là
duy
nhất”.
Khi
nghe
chị
nói
thế,
anh
nheo
mắt
cười
hiền,
“bà
ấy
nói
thật
đấy”.
Khi
nhận
lời
tỏ
tình
dễ
thương
“làm
vợ
anh
nhé”,
chị
thấy
mình
hạnh
phúc
hơn
bất
cứ
lúc
nào.
Tâm
đầu
ý
hợp
Cho
đến
bây
giờ
nghĩ
lại,
cả
anh
và
chị
đều
thấy
mình
may
mắn
đã
lấy
được
nhau.
Chị
dịu
dàng,
chăm
lo
cho
chồng
con
rất
mực,
anh
hiền
lành,
yêu
thương
vợ
con.
May
mắn
hơn
nữa,
họ
cùng
chung
một
niềm
đam
mê
nghệ
thuật
cải
lương.
Cuộc
đời
họ,
ngoài
chuyện
tình
nghĩa
vợ
chồng,
còn
là
chuyện
đồng
nghiệp
say
nghề,
cống
hiến
tận
tâm
cho
nghề,
càng
yêu
nghề
bao
nhiêu
càng
gắn
bó
với
nhau
bấy
nhiêu.
Trên
bước
đường
nghệ
thuật
của
anh
đều
có
chị
bên
cạnh,
sự
nghiệp
của
chị
cũng
đều
có
anh
ở
bên,
dù
họ
ở
đâu,
trong
Nam
hay
ngoài
Bắc,
làm
gì
cũng
có
nhau,
thời
gian
nào
xa
nhau
thì
chỉ
là
lý
do
đi
biểu
diễn
mà
thôi.
Anh
chị
cũng
thừa
nhận,
vì
chung
sở
thích
nên
họ
đồng
cảm,
chung
suy
nghĩ
trong
khai
thác
các
vai
diễn,
nhất
là
với
những
đoạn
diễn
chung.
Niềm
say
mê
đó
theo
họ
vào
cả
trong
bữa
ăn,
giấc
ngủ.
Khi
còn
ở
Ngô
Thì
Nhậm
(Hà
Nội),
hàng
xóm
cứ
tưởng
họ
điên,
bởi
nửa
đêm
hai
vợ
chồng
dựng
nhau
dậy
để…
diễn.
Cũng
bởi
niềm
say
mê
mà
năm
1970,
anh
chị
đều
xin
từ
Chuông
Vàng
sang
Đoàn
cải
lương
Nam
Bộ
(ban
đầu
Đoàn
cải
lương
Nam
Bộ
ở
Hà
Nội)
bởi
anh
chị
nghĩ
rằng,
Nam
Bộ
mới
là
cái
nôi
của
nghệ
thuật
cải
lương,
ở
đó,
anh
chị
sẽ
được
học
hỏi
nhiều
và
phát
huy
hết
tài
năng.
Để
có
thể
ca
tốt,
cả
anh
và
chị
đều
học
nói
giọng
Nam
Bộ.
Vì
thế,
bây
giờ
cả
anh
và
chị
đều
nói
giọng
Nam
Bộ
rất
ngọt,
anh
còn
có
thể
nói
đặc
sệt
tiếng
Huế.
Và
cũng
chính
vì
yêu
nghề
mà
sau
này,
anh
chị
quyết
định
rời
Hà
Nội
vào
TP
Hồ
Chí
Minh,
mảnh
đất
của
cải
lương.
Nhưng,
hai
vợ
chồng
chị
hay
dùng
từ
“nhưng”,
khi
Nhà
hát
cải
lương
Trung
ương
thành
lập
năm
1977
ở
Hà
Nội
(ban
đầu
là
Đoàn
Cải
lương
Trung
ương),
cần
có
những
diễn
viên
cốt
cán
về
gây
dựng
thì
cũng
là
anh
chị,
lại
đầu
quân
cho
nhà
hát,
anh
ở
đoàn
1,
chị
là
đoàn
trưởng
đoàn
2.
Trong
khi
chị
đi
lưu
diễn
liên
miên,
đến
cả
vùng
sâu
vùng
xa
phục
vụ
bà
con,
có
thời
gian
đi
diễn
ở
Cao
Bằng
cả
tháng
trời,
thì
anh
theo
học
lớp
đạo
diễn
sân
khấu
khóa
đầu
tiên.
Năm
1984,
anh
được
điều
về
Trường
Nghệ
thuật
sân
khấu
2
(TP
Hồ
Chí
Minh)
giảng
dạy
môn
Kỹ
thuật
biểu
diễn
(nay
là
Trường
Đại
học
Sân
khấu
Điện
ảnh
TP
Hồ
Chí
Minh).
Để
có
thể
gần
chồng,
tiện
chăm
sóc
cho
anh,
chị
cũng
xin
về
trường
dạy
môn
hóa
trang.
Anh
chị
ở
TP
Hồ
Chí
Minh
từ
đó
cho
đến
bây
giờ.
Giờ
đây
chị
đã
lui
vào
hậu
trường,
nhưng
niềm
say
nghề
của
chị
thì
vẫn
như
thưở
nào.
Gần
bảy
mươi
tuổi
rồi,
nhưng
dù
có
làm
gì
thì
chị
cũng
vẫn
quanh
quẩn
với
sân
khấu,
khi
trường
cần
giảng
viên
đi
tỉnh
dạy
là
chị
xung
phong
ngay.
“Không
có
ai
say
mê
cải
lương
như
bà
ấy.
Đấy,
có
mấy
ngày
ra
Hà
Nội,
trời
mưa
thế
mà
vẫn
đội
mưa
đi
xem
bằng
được
vở
“Yêu
là
thoát
tội”
của
Nhà
hát
cải
lương
Hà
Nội”,
anh
kể.
Niềm
say
mê
ấy
đi
vào
tiềm
thức
chị,
trong
các
giấc
mơ
còn
mơ
về
những
chuyến
đi
diễn,
mơ
đến
nơi
diễn
bị
lạc
đường.
Những
giấc
mơ
liên
tục
hàng
đêm,
để
sáng
hôm
sau
nói
với
anh:
“anh
ơi
em
lại
mơ
mình
bị
lỡ
lớp,
em
lại
mơ
anh
quên
không
mang
cho
em
cái
vali
để
đồ
hóa
trang,
anh
ơi
bộ
quần
áo
của
em
đâu”.
Còn
NSƯT
Đoàn
Mạnh
Dung
thì
chưa
khi
nào
rảnh
rỗi.
Lúc
nào
“ông
già
Nam
Bộ”
cũng
tất
bật
với
hết
phim
này
đến
phim
khác.
Mới
đây,
anh
vừa
tham
gia
một
vai
trong
bộ
phim
truyền
hình
“Bên
lề
tội
ác”
(đạo
diễn
Minh
Quang).
Trở
về
TP
Hồ
Chí
Minh
sau
chuyến
ra
Hà
Nội
lần
này,
anh
sẽ
tiếp
tục
tham
gia
bộ
phim
truyền
hình
“Vết
dầu
loang”
(đạo
diễn
Nguyễn
Trọng
Hải).
Trong
suốt
cuộc
đời
mình,
dù
là
diễn
viên
cải
lương,
diễn
viên
điện
ảnh
hay
giảng
viên
thì
anh
đã
cống
hiến
hết
mình
cho
nghệ
thuật.
Anh
đã
được
khán
giả
ghi
nhận,
và
đây
món
quà
quý
giá
hơn
bất
cứ
tấm
huy
chương
hay
danh
hiệu
nào
dành
cho
người
nghệ
sĩ.
Bài
và
ảnh:Xuân
Phong
Ý kiến bạn đọc