13/4
đến
rồi
13/4
về
cũng
như
ngày
Tết
vậy,
sinh
nhật
web
lần
thứ
22
của
web
cailuongvietnam.com
lại
đến,
xin
chúc
trang
web
và
Àdmin
luôn
được
nhiều
sức
khoè.
được
sự
tin
yêu
của
bạn
đọc
và
luôn
là
nơi
dừng
bước
của
khách
mộ
điệu
nghệ
thuật
cải
lương,
quá
khứ
vàng
son
hay
một
tương
lai
vô
định
với
những
giấy
phút
tìm
về,
trăn
trổ
hướng
đi,
phát
triển...
hay...
Xem
tiếp...
2
thầnh
đồng
xưa
Phượng
mAI
&
Hương
Lan
CLVNCOM
-
Nhạc
truyền
thống
của
ta
nói
chung
và
nhạc
Tài
tử
Cải
lương
nói
riêng
được
lãnh
hội
bằng
trí
nhớ
và
được
truyền
đạt,
bảo
tồn
qua
nhiều
thế
hệ
bằng
giọng
người
/
trí
nhớ
mà
không
cần
văn
tự
để
ghi
chép.
DANH
SÁCH
CÁC
BÀI
BẢN
CẢI
LƯƠNG
Danh
sách
theo
thứ
tự
ABC
1
Ái
Tử
Kê
2
Ánh
Nắng
3
Ánh
Trăng
4
Bá
Hoa
5
Bát
Man
Tấn
Cống
6
Bắc
Sơn
Trà
7
Bài
Tạ
(Tọa
Ngọc
Lầu)
8
Bắn
Nhạn
9
Bình
Bán
Chấn
10
Bình
Bán
Vắn
11
Bình
Sa
Lạc
Nhạn
12
Cao
Phi
13
Cao
San
14
Chi
Hoa
Trường
Hận
15
Chiêu
Quân
16
Chinh
Phụ
Ly
Tình
(Chinh
Phụ)
17
Chuồn
chuồn
18
Cổ
Bản
19
Cổ
Bản
Vắn
20
Dạ
Cổ
Hoài
Lang
21
Dạ
Khúc
22
Đăng
Sơn
Lãm
Thủy
(Xàng
xàng
liu)
23
Đường
Thái
Tôn
24
Dì
Phạn
25
Đoản
Khúc
Lam
Giang
26
Duyên
Kỳ
Ngộ
27
Giang
Nam
28
Giang
Nam
Cửu
Khúc
29
Giang
Tô
Điểu
Ngữ
30
Hàn
Giang
31
Hành
Vân
32
Hoài
Nam
Khúc
33
Hoài
Tình
34
Hướng
Mã
Hồi
Thành
35
Khốc
Hoàng
Thiên
36
Khổng
Minh
tọa
lầu
37
Khúc
Ca
Hoa
Chúc
38
Kiều
Nương
39
Kim
Tiền
Bản
40
Kim
Tiền
Huế
41
Lạc
Âm
Thiều
42
Lạc
Xuân
Hoa
43
Lệ
Rơi
Thấm
Đá
44
Liên
Hườn
45
Liêu
Giang
46
Liễu
Thuận
Nương
47
Long
Đăng
48
Long
Hổ
Hội
49
Long
Hổ
(nhạc
cải
lương)
50
Long
Hổ
(nhạc
Huế)
51
Long
Ngâm
52
Lộng
Nguyệt
53
Lưu
Thủy
Đoản
54
Lưu
Thủy
Hành
Vân
(Hoài
Cầu)
55
Lưu
Thủy
Trường
56
Lý
Ba
Tri
57
Lý
Bông
Dừa
58
Lý
Bông
Trang
59
Lý
Cái
Mơn
60
Lý
Cây
Bông
61
Lý
Qua
Cầu
62
Lý
Chiều
Chiều
63
Lý
Chiều
Chiều
Huế
64
Lý
Chim
Quyên
65
Lý
Chim
Xanh
66
Lý
Con
Khỉ
67
Lý
Con
Sáo
68
Lý
Con
Sáo
Gò
Công
69
Lý
Con
Sáo
Sang
Sông
(Lý
Ở
Ở)
70
Lý
Đất
Giồng
(Lý
Tình
Tang)
71
Lý
Đêm
Trăng
72
Lý
Đương
Đệm
73
Lý
Giao
Duyên
74
Lý
Lu
Là
75
Lý
Kéo
Chài
76
Lý
Mỹ
Hưng
77
Lý
Mỹ
Trà
78
Lý
Năm
Căn
79
Lý
Phước
Châu
80
Lý
Phước
Kiến
81
Lý
Qua
Cầu
82
Lý
Sâm
Thương
83
Lý
Son
Sắc
(Lý
Tứ
Đại)
84
Lý
Trăng
Soi
85
Lý
Tòng
Quân
(Lý
Mù
Sương)
86
Lý
Tương
Phùng
(Lý
Tư
Phùng)
87
Mạnh
Lệ
Quân
88
Mẫu
Đơn
89
Mẫu
Tầm
Tử
90
Miên
Hậu
Hồi
Cung
91
Minh
Châu
92
Nam
Ai
93
Nam
Đảo
(Đảo
Ngũ
Cung)
94
Nam
Xuân
95
Nặng
Tình
Xưa
96
Ngươn
Tiêu
Hội
Oán
97
Nguyên
Tiêu
98
Nguyệt
Bác
Xuân
Đài
99
Ngự
Giá
Đăng
Lâu
100
Ngũ
Điểm
101
Ngũ
Điểm
-
Bài
tạ
102
Ngựa
Ô
Bắc
103
Ngựa
Ô
Nam
104
Ngũ
Đối
Hạ
(bài
Hạ)
105
Ngũ
Đối
Thượng
106
Nhạn
Về
107
Phẩm
Tuyết
108
Phi
Vân
Điệp
Khúc
109
Phong
Ba
Đình
110
Phong
Nguyệt
111
Phú
Lục
112
Phụng
Cầu
Hoàng
(Phụng
Cầu/Phụng
Cầu
Hoàng
Duyên)
113
Phụng
Hoàng
Lai
Nghi
(Phụng
Hoàng
Tài
Tử/Phụng
Hoàng
Cầu)
114
Phụng
Hoàng
Cải
Lương
(Phụng
Hoàng
12
câu)
115
Phụng
Nghi
Đình
116
Quý
Phi
Túy
Tửu
117
Song
Cước
118
Song
Phi
Hồ
Điệp
119
Sơn
Đông
Hướng
Mã
120
Sương
Chiều
121
Sương
Chiều
-
Tú
Anh
122
Tam
Pháp
Nhập
Môn
123
Tân
Xái
Phỉ
124
Tấn
Phong
125
Tẩu
Mã
126
Tây
Mai
127
Tây
Thi
128
Thanh
Dạ
Đề
Quyên
129
Thu
Hồ
130
Thu
Hồ
Diệp
Lạc
131
Thu
Phong
132
Thủ
Bình
Bán
133
Thủ
Phong
Nguyệt
134
Tiểu
Khúc
135
Tô
Võ
Mục
Dương
136
Trạng
Nguyên
Hành
Lộ
137
Trăng
Thu
Dạ
Khúc
138
Trăng
Thu
lớp
Vĩ
139
Trống
Quân
140
Trung
Thu
141
Trường
Tương
Tư
142
Tú
Anh
143
Từ
Bá
Tướng
(Đại
Bá
Đương)
144
Tử
Qui
Từ
145
Tứ
Đại
Oán
146
Tùng
Lâm
Dạ
Lãm
147
Ú
Liu
Ú
Xáng
(Thiên
Bất
Túc)
148
Uyên
Ương
Hội
Vũ
149
Vạn
Giá
150
Văn
Thiên
Tường
151
Vạn
Huê
Trường
Hận
152
Vọng
Kim
Lang
153
Võ
Biền
Xuất
Đội
154
Võ
Tắc
Biệt
155
Võ
Văn
Hội
Oán
156
Xuân
Nữ
157
Xuân
Phong
158
Xuân
Tình
159
Xàng
Xê
lớp
Hò
160
Xàng
Xê
lớp
Xề
161
Xang
Xừ
Líu
162
Xế
xảng
163
Sâm
Thương
CÁC
BÀI
BẢN
TÀI
TỬ
CẢI
LƯƠNG
Nhạc
truyền
thống
của
ta
nói
chung
và
nhạc
Tài
tử
Cải
lương
nói
riêng
được
lãnh
hội
bằng
trí
nhớ
và
được
truyền
đạt,
bảo
tồn
qua
nhiều
thế
hệ
bằng
giọng
người
/
trí
nhớ
mà
không
cần
văn
tự
để
ghi
chép.
Tuy
vậy
lúc
đầu
còn
ít
bài
bản
(vài
chục
bài)
còn
có
thể
nhớ,
ngày
nay
đã
hơn
trăm
bản
không
ai
nhớ
hết
được,
nếu
không
ghi
chép
lại
thì
dễ
bị
thất
lạc,
rất
uổng.
Hơn
nữa
ghi
chép
lại
thì
phổ
biến
dễ
và
mau
hơn.
Phần
còn
lại
của
bài
này
được
chia
thành
5
phần:
A.
Những
Sưu
Tầm
Đầu
Tiên
B.
Các
Sưu
Tập
Sau
Này
C.
Phân
Loại
Các
Bài
Bản
D.
Cách
Dùng
Các
Bài
Bản
E.
Liệt
Kê
Các
Bài
Bản
Phần
A
điểm
qua
những
tuyển
tập
đầu
tiên
về
các
bản
đờn
và
lời
hát
của
các
điệu
hát
cải
lương.
Phần
B
nhắc
đến
các
quyển
sách
“tương
đối”
cập
nhựt
hơn.
Phần
C
phân
loại
các
bài
bản
cải
lương
dựa
theo
các
tài
liệu
cũ.
Phần
D
điểm
qua
các
bài
bản
thông
dụng
/
thường
hay
dùng.
Phần
E
liệt
kê
tất
cả
các
bài
bản
được
biết
cho
tới
nay.
A.
Những
Sưu
Tầm
Đầu
Tiên
Bộ
sưu
tập
các
bản
đờn
và
lời
ca
cải
lương
được
in
/
xuất
bản
xưa
nhất
có
lẽ
là
ở
khoảng
cuối
thập
niên
đầu
tiên
của
thế
kỷ
20
(không
kể
các
bộ
sưu
tập
chép
tay,
không
được
biết
tới).
Ông
Vương
Hồng
Sển,
trong
cuốn
“Hồi
Ký
50
Năm
Mê
Hát”
của
ông,
do
cơ
sở
Phạm
Quang
Khải
xuất
bản,
08.1968,
cho
biết
ông
còn
giữ
được
các
tài
liệu
sau:
“Bản
Đờn
Tranh
&
Bài
Ca”,
12.1909,
do
Phụng
Hoàng
San
chủ
bút,
Đinh
Thái
Sơn
(còn
tên
khác
là
Phát
Toán)
xuất
bản
lần
thứ
tư
tại
nhà
in
Libraire-Imprimeur,
55-57
rue
d’Ormay,
Saigon.
Trong
quyển
này
có
các
bản
đờn
của
11
điệu
và
lời
của
24
bài
hát:
Lưu
Thủy
Trường
(1),
Phú
Lục
(1),
Bình
Bán
Chấn
(1),
Xuân
Tình
(1),
Bình
Bán
Vắn
(1),
Bát
Man
Tấn
Cống
(1),
Tứ
Đại
(7),
Phụng
Hoàng
(1),
Nam
Xuân
(1),
Nam
Ai
(2),
Tứ
Đại
Cảnh
(7).
“Lục
Tài
Tử”,
12.06.1915,
của
Đặng
Tiền
Nhiều,
do
Đinh
Thái
Sơn
xuất
bản,
nhà
in
Imprimerie
de
l’Union,
Saigon.
Đây
là
một
tập
bài
ca,
có
18
lời
hát
của
các
điệu:
Tứ
Đại
(14),
Phụng
Hoàng
(2),
Nam
Ai
(1),
Nam
Xuân
(1).
“Thập
Tài
Tử”,
15.06.1915,
của
Đặng
Đắc
Lợi,
Đinh
Thái
Sơn
xuất
bản
kỳ
nhứt,
nhà
in
Imprimerie
de
l’Union,
Saigon.
Đây
là
một
tập
bài
ca,
có
19
lời
hát
của
các
điệu:
Tứ
Đại
(16),
Phụng
Hoàng
(1),
Phú
Lục
(1),
Lý
6
bài
Bắc
(6).
“Tứ
Tài
Tử”,
16.06.1915,
của
Đặng
Nhiều
Hơn,
do
Đinh
Thái
Sơn
xuất
bản
–
nhà
in
Imprimerie
de
l’Union,
Saigon.
Đây
là
một
tập
bài
ca,
có
21
lời
hát
của
các
điệu:
Tứ
Đại
(16),
Nam
Xuân
(2),
Lưu
Thủy
(2),
Bình
Bán
Vắn
(1).
“Bát
Tài
Tử”,
29.08.1915,
của
Nguyễn
Tùng
Bá,
do
Đinh
Thái
Sơn
xuất
bản,
nhà
in
Imprimerie
de
l’Union,
Saigon.
Đây
là
một
tập
bài
ca
với
21
lời
hát
của
bài
Tứ
Đại.
Với
các
cuốn
“Lục
Tài
Tử”,
“Thập
Tài
Tử”
và
“Tứ
Tài
Tử”
ông
Vương
Hồng
Sển
nghi
rằng
tên
họ
tác
giả
trên
bìa
sách
là
không
đúng
sự
thật
và
có
khi
bịa
đặt
(vì
các
tên
hơi
giống
nhau
và
hơi
kỳ
quặc:
Đặng
Tiền
Nhiều,
Đặng
Đắc
Lợi,
Đặng
Nhiều
Hơn
?!?),
có
thể
chỉ
là
người
sưu
tầm
/
trích
lục
mà
không
đề
tên
thật.
Để
ý
là
“Bản
Đờn
Tranh
&
Bài
Ca”
xuất
bản
tháng
12
năm
1909
là
tái
bản
/
in
lần
thứ
4,
vậy
lần
xuất
bản
đầu
tiên
cũng
khoảng
1-2
năm
trước
đó:
1907-1908.
B.
Các
Sưu
Tập
Sau
Này
Giới
đàn
ca
tài
tử
trước
đây
thường
nhắc
tới
hai
cuốn:
“Cầm
Ca
Tân
Điệu”,
của
Lê
Văn
Tiến,
xuất
bản
ở
Sài
Gòn,
khoảng
năm
1930.
“Cổ
Nhạc
Tầm
Nguyên”,
do
một
số
nghệ
sĩ
và
nhạc
sĩ
sưu
tầm,
xuất
bản
ở
Sài
Gòn,
không
rõ
năm
nào.
Hai
cuốn
này
thì
Chín
Đờn
Cò
cũng
chỉ
nghe
qua
thôi
chớ
chưa
biết
/
thấy
hình
dung
ra
sao
(vì
xưa
quá).
Còn
nhiều
quyển
nữa
của
các
nhạc
sĩ
Sáu
Tửng,
Năm
Hưng,
v.v…
cũng
xuất
bản
tại
Sài
Gòn.
Bà
con
nào
có
các
quyển
nói
trên
xin
vui
lòng
lên
tiếng
và
chỉ
bảo
cho
mọi
người.
Phần
lớn
đi
học
trực
tiếp
ở
các
thầy
đờn
/
nghệ
sĩ
/
nghệ
nhân
hoặc
học
qua
bạn
bè.
Đờn
/
nghe
riếc
rồi
thấm,
rồi
thuộc
lòng
không
cần
ghi
chép.
Chỉ
có
loại
u
mê
như
Chín
Đờn
Cò,
học
mười
hiểu
một,
mới
phải
lui
cui
chép
lại
các
bài
bản
rồi
từ
từ
học.
Gần
đây
có
quyển
“Tìm
Hiểu
Âm
Nhạc
Cải
Lương”
của
Đắc
Nhẫn,
xuất
bản
ở
Sài
Gòn,
năm
1987.
Quyển
này
chủ
yếu
dựa
vào
“Cầm
Ca
Tân
Điệu”
của
Lê
Văn
Tiến,
có
bổ
sung
thêm
và
xếp
loại
lại.
Nhiều
chi
tiết
trong
bài
viết
này
được
trích
từ
quyển
này.
Nên
nhắc
qua
là
các
bản
đờn
trong
các
sách
nói
trên
có
tính
ước
lệ
/
“lòng
bản”,
tức
là
chỉ
chứa
các
âm
chính,
tiêu
biểu
cho
điệu
hát.
Các
bản
đờn
được
ký
âm
bằng
hệ
thống
ngũ
âm
cổ
truyền
(Hò
–
Xự
–
Xang
–
Xê
–
Cống
–
…).
Bản
đờn
với
cách
ghi
này
thường
có
các
chữ
đờn
tương
đối
rời
rạc,
chỉ
dùng
để
hát
/
xướng
âm
và
để
lưu
trử,
bởi
vì
nếu
đờn
sao
ghi
vậy
thì
rất
dài
dòng,
phức
tạp.
Mỗi
người
đờn
mỗi
khác,
không
ai
giống
ai.
Ngay
cả
đối
với
cùng
một
người
thì
cũng
có
khi
đờn
lúc
này,
lúc
khác,
không
cố
định,
chỉ
có
hát
là
tương
đối
giống
nhau
thôi.
Với
cách
xướng
âm
có
tính
tượng
trưng
/
ước
lệ
như
vậy
thì
đờn
từng
chữ,
đúng
theo
như
bản
ghi,
thì
khó
mà
nghe
ra
nhạc.
Người
đờn
trên
thực
tế
phải
thêm
/
bớt
các
chữ
đờn
sao
cho
nghe
được
liền
lạc,
trôi
chảy
(nhưng
không
được
vượt
ra
ngoài
lòng
bản).
Đờn
cải
lương
thường
là
để
hòa
với
người
hát,
chỉ
cần
giữ
đúng
NHỊP
và
đúng
những
chữ
đờn
quan
trọng
(thường
là
ở
cuối
mỗi
câu)
để
cho
ra
ĐIỆU,
còn
những
chổ
khác
thì
…
tự
do.
Đờn
làm
sao
mà
hài
hòa
với
lời
hát
là
được.
C.
Phân
Loại
Các
Bài
Bản
Tài
tử
cải
Lương
Theo
các
sách
hướng
dẫn
đờn
hát
cải
lương
nói
trên
thì
nhạc
cổ
và
cải
lương
được
phân
thành
mười
mục:
Nhứt
Lý
:
các
điệu
Lý
Nhì
Ngâm
:
ngâm
Kiều,
ngâm
thơ,
ngâm
sa
mạc
…
Tam
Nam
:
ba
bài
Nam
lớn
Tứ
Oán
:
các
bài
Oán
Ngũ
Điểm
:
sáu
bài
Bắc
lớn
Lục
Xuất
:
sáu
bài
ngắn
Thất
Chinh
:
bảy
bài
nhạc
lớn
lễ,
cung
đình
Bát
Ngự
:
tám
bài
Ngự
Cửu
Nhĩ
:
2
bài
do
nhóm
tài
tử
miền
Đông
biên
soạn
Thập
Thủ
:
thập
thủ
liên
hoàn,
10
bài
ngắn
Bài
Vọng
Cổ,
hậu
thân
của
bài
Dạ
Cổ
Hoài
Lang
của
ông
Sáu
Lầu
ở
Bạc
Liêu
sáng
tác
trong
những
năm
1920,
không
thấy
trong
bảng
phân
loại
nói
trên.
Không
biết
là
bởi
vì
bài
Vọng
Cổ
quá
đặc
biệt
để
phân
loại
hay
do
sự
phân
loại
này
được
làm
trước
khi
bản
Vọng
Cổ
được
phổ
biến
rộng
rãi.
Cũng
cần
nên
nhắc
qua
là
trước
khi
bài
Vọng
Cổ
chiếm
được
vị
trí
số
một
trong
âm
nhạc
cải
lương
thì
bài
Hành
Vân
được
dùng
rất
rộng
rải
trên
sân
khấu
cải
lương,
như
bài
Vọng
Cổ
ngày
nay
vậy.
Dưới
đây
mỗi
mục
sẽ
được
điểm
qua
sơ
lược.
1.
Nhứt
Lý
Các
điệu
Lý,
xuất
xứ
từ
dân
ca,
được
cải
lương
hóa,
thường
dùng
để
hát
đệm
trong
bài
Vọng
Cổ
hoặc
trong
các
tuồng
cải
lương.
Những
bài
hay
được
dùng
nhiều
nhất
là
:
Lý
Con
Sáo
Lý
Ngựa
Ô
(Nam
và
Bắc)
Lý
Thập
Tình
Lý
Giao
Duyên
Lý
Vọng
Phu
Lý
Chiều
Chiều
Lý
Cái
Mơn
Lý
Huế
Trong
các
điệu
Lý,
như
Lý
Ngựa
Ô,
có
ngựa
ô
Nam
và
ngựa
ô
Bắc.
Lý
Con
Sáo
và
Lý
Thập
Tình
có
hơi
Xuân
và
hơi
Ai.
Đờn
hơi
Bắc
và
hơi
Xuân
thì
vui,
đờn
hơi
Nam
và
hơi
Ai
thì
buồn.
Các
điệu
Lý
khác
phần
nhiều
đờn
hơi
Nam.
2.
Nhì
Ngâm
Gồm
có
ngâm
thơ,
ngâm
sa
mạc,
ngâm
Kiều
,
và
nhiều
điệu
ngâm
khác.
Có
người
ngâm
theo
điệu
Bắc,
có
người
ngâm
theo
điệu
Huế
nhưng
đa
số
ngâm
theo
điệu
Sài
Gòn
(tùy
theo
sở
trường
và
khả
năng
của
mỗi
người).
3.
Tam
Nam
Gồm
ba
bài
Nam:
Nam
Xuân
:
điệu
nhạc
thanh
thản
lâng
lâng,
sảng
khoái,
nghiêm
trang,
nhẹ
nhàng,
có
người
cho
là
“tiên
phong
đạo
cốt”.
Bài
này
được
dùng
để
mở
đầu
các
chương
trình
ca
nhạc
cải
lương
ở
Sài
Gòn.
Nam
Ai
:
buồn
ảo
não,
não
nùng,
bi
thảm.
Bài
này
có
8
lớp,
cấu
trúc
cũng
như
Nam
Xuân
(cũng
nhắc
đi
nhắc
lại
nhiều
lớp).
Lớp
7
và
8
(hai
lớp
Mái)
thường
hay
dung
nhất.
Nam
Đảo
(hay
Đảo
Ngũ
Cung)
:
tôn
nghiêm,
hùng
tráng,
gay
gắt.
Hai
câu
cuối
được
chuyển
sang
hơi
Hò
Ba
âm
điệu
buồn,
để
chấm
dứt,
gọi
là
“song
cước”.
Trong
“Nghệ
Thuật
Sân
Khấu
Việt
Nam”
của
ông
Trần
Văn
Khải,
nhà
sách
Khai
Trí
xuất
bản
năm
1970
tại
Sài
Gòn,
có
nhắc
tới
Nam
Bình
và
Nam
Chạy.
Nam
Bình:
còn
gọi
là
Trường
Tương
Tư
(trong
Bát
Ngự).
Nam
Chạy:
vừa
ca
vừa
chạy,
là
hai
lớp
trống
của
Nam
Ai,
nhưng
ca
nhịp
thúc
để
diễn
tả
lúc
chạy
giặc.
4.
Tứ
Oán
Gồm
các
bài:
Tứ
Đại
Oán
:
điệu
nhạc
thất
vọng,
bi
thiết,
oán
hờn
giống
bài
Văn
Thiên
Tường,
nhưng
hơi
hướng
có
phần
cổ
và
chơn
chất
hơn.
Hai
lớp
Xang
vắn
thường
hay
được
dùng.
Văn
Thiên
Tường
:
trần
thuật,
thổ
lộ
tâm
tình,
buồn
ảo
não.
Có
nhiều
mức
độ,
khi
buồn
vừa
vừa
thì
dung
lớp
1,
khi
buồn
nhiều
thì
dùng
lớp
2
(lớp
Oán).
Lớp
Xế
Xảng
thật
ngắn
thường
dùng
để
gối
đầu
vào
Vọng
Cổ.
Bình
Sa
Lạc
Nhạn
:
hơi
ngang
và
dựng.
Thanh
Dạ
Đề
Quyên
:
cao
hơn
Bình
Sa
Lạc
Nhạn.
Phụng
Hoàng
:
như
Tứ
Đại
Oán,
nhưng
hơi
dựng
hơn.
Giang
Nam
:
trầm
hơn
Tứ
Đại
Oán,
chậm
rãi.
Phụng
Cầu
:
như
Phụng
Hoàng.
Xuân
Nữ:
ngắn,
có
tính
bi
thiết,
thường
dùng
trong
cảnh
bi
ai,
đau
thưong
đột
xuất.
Mỗi
bài
Oán
có
sắc
thái
riêng
biệt,
nhưng
khác
biệt
rõ
nhứt
là
giữa
hai
bài
Tứ
Đại
Oán
và
Văn
Thiên
Tường.
Các
bài
Oán
khác
đều
có
những
nét
giống
với
bài
Tứ
Đại
Oán
hoặc
Văn
Thiên
Tường.
Hai
bài
này
là
tiêu
biểu
cho
loại
Oán
và
được
dùng
nhiều
trong
cải
lương.
5.
Ngũ
Điểm
Gồm
sáu
bài
Bắc
lớn,
các
bài
này
có
điệu
vui,
ngắn,
gọn.
Lưu
Thủy
Trường
:
điệu
nhạc
nhàn
hạ,
khoan
thai,
phù
hợp
với
cảnh
trí
thanh
nhàn,
non
xanh
nước
biếc,
cỏ
hoa
chim
chóc.
Lưu
Thủy
Trường
là
do
Lưu
Thủy
Đoản
phát
triển,
kéo
dài
ra.
Một
câu
của
“đoản”
bằng
hai
câu
của
“trường”.
Bài
này
có
4
lớp,
32
câu
(8,
6,
12,
6).
Phú
Lục
:
sôi
nổi,
rộn
rả,
khẩn
trương,
khác
với
bài
Lưu
Thủy
Trường
có
tính
thiên
nhiên.
Bài
này
có
xuất
xứ
từ
bài
Phú
Lục
ở
Huế.
Khi
mới
vào
Nam
Bộ
được
cải
lương
hóa
thành
bài
Phú
Lục
Vắn
(17
câu,
nhịp
1),
sau
phát
triển
thành
bài
Phúc
Lục
của
nhạc
tài
tử
(34
câu
nhịp
4).
Bài
này
rất
nghiêm
chỉnh
cân
đối,
câu
đối
câu,
nhịp
đối
nhịp,
có
4
lớp
(8,
8,
8,
10).
Xuân
Tình
:
vui
tươi,
lúc
bình
thường
khi
rộn
rã,
âm
điệu
vang,
trong
sáng,
nồng
nhiệt.
Bình
Bán
Chấn:
phát
triển
từ
bài
Bình
Bán,
đến
Bình
Bán
Vắn,
rồi
đến
bài
Bình
Bán
Chấn
(dài).
Gốc
là
bài
Bình
Bán
vui
vẻ
sảng
khoái,
nhưng
khi
phát
triển
thành
Bình
Bán
Chấn
thì
trở
thành
đĩnh
đạc,
nghiêm
trang.
Bài
này
phức
tạp,
khúc
mắc,
ít
được
dùng
trên
sân
khấu.
Tây
Thi
:
êm
dịu,
trong
sáng,
vui
tươi,
có
tính
tự
sự,
không
gay
gắt
như
Phú
Lục.
Bản
này
là
bản
dễ
nhớ
nhứt
trong
sáu
bài
Bắc.
Bài
này
có
26
câu,
3
lớp
(9,
13,
4).
Cổ
Bản
:
câu
ngắn
gọn,
dồn
dập,
nhưng
không
nhấn
mạnh
như
bài
Phú
Lục.
6.
Lục
Xuất
Điệu
nhạc
các
bài
này
vui,
ngắn,
gọn.
Gồm
sáu
bài:
Bình
Bán
Vắn
Tây
Thi
Vắn
Cổ
Bản
Vắn
Xuân
Phong
Kim
Tiền:
được
dùng
như
bài
Mẫu
Tầm
Tử
trong
trường
hợp
đối
đáp,
cãi
nhau.
Long
Hổ:
thường
đi
cặp
với
bài
Long
Hổ
Hội,
có
tiết
tấu
đối
chọi.
7.
Thất
Chinh
Gồm
bảy
bài:
Xàng
Xê
:
hùng
tráng
uy
nghi
nhưng
dịu
dàng,
êm
ái.
Ngũ
Đối
Hạ:
còn
gọi
tắt
là
bài
Hạ,
có
tính
uy
nghi,
nghiêm
trang,
man
mác,
thanh
thản.
Long
Đăng:
giống
bài
Hạ,
nhưng
tiết
tấu
khỏe,
ít
nghiêm
trang.
Long
Ngâm:
giống
bài
Hạ,
ít
thấy
dùng
trên
sân
khấu
cải
lương.
Ngũ
Đối
Thượng:
ba
bài
Ngũ
Đối
Thượng,
Vạn
Giá,
Tiểu
Khúc
có
nhiều
âm
hưởng
nhạc
lễ.
Vạn
Giá
Tiểu
Khúc
Các
bài
này
là
bảy
bài
lớn
dùng
trong
nhạc
lễ,
mỗi
khi
cúng
lễ,
cúng
tế,
tính
chất
nghiêm
trang.
Riêng
bài
Ngũ
Đối
Hạ
sân
khấu
hát
bội
thường
dùng,
trên
sân
khấu
cải
lương
thì
bài
Xàng
Xê
được
dùng
nhiều
hơn.
8.
Bát
Ngự
Gồm
tám
bài:
Đường
Thái
Tôn:
êm,
vui,
phấn
khởi,
đắc
chí.
Bát
Man
Tấn
Cống:
vui
khỏe,
để
múa
hát,
chúc
tụng.
Duyên
Kỳ
Ngộ:
dùng
trong
cảnh
tái
ngộ,
thăm
hỏi,
vui
tươi
nhộn
nhịp.
Tiết
tấu
nhanh,
rộn
rã
vui
tươi.
Kim
Tiền
Bản:
tâm
trạng
giận
dữ,
mắng
mỏ,
hỏi
tội,
bày
binh
bố
trận,
điều
binh
khiển
tướng.
Ngự
Giá
Đăng
Lâu:
khệ
nệ,
rườm
rà,
đắc
chí
vui
tươi,
kể
lể
dài
dòng.
Ái
Tử
Kê:
ngắn,
giai
điệu
chững
chạc,
cân
đối,
trìu
mến
thương
tiếc.
Lời
gốc
của
điệu
này
tả
một
bầy
gà
con
bị
chồn
bắt.
Chiêu
Quân:
quạnh
quẽ
cô
đơn,
trầm
lặng
nhưng
rất
ảo
não.
Bài
này
thường
đi
cặp
với
bài
Ái
Tử
Kê.
Trường
Tương
Tư:
bài
này
nhẹ
nhàng
thư
thái,
thất
vọng,
nhớ
nhung,
ít
thê
lương
hơn
Nam
Ai.
Giới
đờn
hát
tài
tử
thường
đờn
liên
hoàn
các
bài
Ái
Tử
Kê,
qua
Chiêu
Quân,
rồi
đến
Trường
Tương
Tư.
9.
Cửu
Nhĩ
Gồm
hai
bài:
Hội
Nguyên
Tiêu
Bát
Bản
Chấn
Hai
bài
này
do
nhóm
tài
tử
miền
Đông
sáng
tác,
ít
thấy
dùng
trên
sân
khấu
cải
lương.
10.
Thập
Thủ
Thập
Thủ
Liên
Hườn
còn
gọi
là
Liên
Bộ
Thập
Chương
từ
Huế
đưa
vào
Nam,
được
cải
lương
hóa.
Các
bài
này
có
điệu
nhạc
vui,
ngắn
gọn.
Gồm
mười
bản
Tàu,
đã
được
Việt
Nam
hóa
từ
lâu,
thường
được
đờn
liên
hoàn
với
nhau.
Phẩm
Tuyết
Nguyên
Tiêu
Hồ
Quảng
Liên
Hoàn
Bình
Bản
(Bình
Nguyên)
Tây
Mai
Kim
Tiền
Huế
Xuân
Phong
Long
Hổ
Tẩu
Mã
Một
điều
nên
nhắc
qua
là
sự
phân
loại
như
trên
(khoảng
60
bài
được
nhắc
đến)
là
ở
những
năm
1950.
Cho
đến
nay
đã
có
hơn
100
bài
được
biết
/
thu
thập
(và
còn
nhiều
bài
sẽ
được
sáng
chế
thêm
trong
tương
lai).
Cách
phân
loại
như
vậy
có
phần
hơi
gò
bó,
còn
bỏ
sót
nhiều
bài
bản.
Có
nhiều
tài
liệu
sau
này
phân
loại
theo
hơi
Bắc
/
Nam
/
Oán
hay
cở
nhỏ
/
trung
bình
/
lớn.
Ngoại
trừ
một
số
bản
đặc
trưng
của
mỗi
loại,
dễ
dàng
nhận
ra,
có
không
ít
bài
bản
khó
mà
xác
định
được
thuộc
loại
nào
(chẳng
hạn
ranh
giới
giữa
nhỏ
–
trung
bình,
trung
bình
–
lớn
đôi
khi
không
rõ
ràng,
có
nhiều
bản
pha
lẫn
các
hơi
…)
D.
Cách
Dùng
Các
Bài
Bản
Tùy
theo
hoàn
cảnh,
tình
huống,
tâm
trạng
…
mà
các
bài
sau
đây
thường
hay
được
dùng
nhất
trong
các
tuồng
cải
lương
cũng
như
trong
những
lúc
đàn
ca
tài
tử:
1.
Lúc
vui
rộn
rã,
ngắn,
gọn,
thường
dùng
các
bản:
Long
Hổ
Hội,
Ngũ
Điểm
–
Bài
Tạ,
Lưu
Thủy
Đoản,
Bình
Bán
Vắn,
Xang
Xừ
Líu,
Khốc
Hoàng
Thiên,
Khúc
Ca
Hoa
Chúc,
Ú
Liu
Ú
Xáng,
Lạc
Âm
Thiều,
Mạnh
Lệ
Quân,
Tam
Pháp
Nhập
Môn,
Liễu
Thuận
Nương,
Duyên
Kỳ
Ngộ,
Bắc
Sơn
Trà,
Lý
Ngựa
Ô
Bắc,
Lý
Phước
Kiến,
Xuân
Phong,
Long
Hổ,
Bình
Bán.
2.
Lúc
vui
lâng
lâng,
kể
chuyện
dài,
thong
thả
nhàn
hạ
dạo
cảnh
ngắm
hoa,
thường
dùng
các
bản
:
Lưu
Thủy
Trường,
Nam
Xuân,
Xuân
Tình.
3.
Lúc
buồn
cách
biệt
thấm
thía,
não
nùng
bi
thảm,
thường
dùng
các
bản
:
Văn
Thiên
Tường,
Nam
Ai,
Trường
Tương
Tư,
Xuân
Nữ.
4.
Lúc
buồn
man
mác,
kể
lể
tâm
tình
oán
hận,
bi
hùng
trước
cảnh
chia
phôi,
phút
giây
gặp
gỡ,
thường
dung
các
bản
:
Lý
Con
Sáo,
Chiêu
Quân,
Lý
Ngựa
Ô
Nam,
Lý
Thập
Tình,
Lý
Giao
Duyên,
Lý
Vọng
Phu,
Nam
Xuân,
Tứ
Đại
Oán,
Phụng
Hoàng,
Vọng
Cổ,
Xàng
Xê.
Các
bản
Nam
Xuân,
Vọng
Cổ
và
Xàng
Xê
có
thể
dùng
trong
nhiều
tình
huống,
tâm
trạng
:
vui
nhẹ
nhàng,
lâng
lâng,
hay
buồn
man
mác
đều
dùng
được
Nam
Xuân.
Cảnh
hội
ngộ
hay
chia
phôi;
cảnh
thống
thiết
hay
bi
hùng
đều
dùng
được
các
bản
Xàng
Xê
hay
Vọng
Cổ.
5.
Lúc
cãi
vã,
giận
dữ,
đối
đáp,
tranh
biện
có
tính
chất
gay
gắt,
dứt
khoát,
trả
treo,
thường
dùng
các
bản:
Khổng
Minh
Tọa
Lầu,
Kim
Tiền
Bản,
Đảo
Ngũ
Cung.
6.
Lúc
kể
chuyện,
thuật
chuyện
có
tính
cách
hòa
hoãn
bình
thường,
các
bản
sau
đây
hay
được
dùng
:
Lưu
Thủy
Trường,
Phú
Lục,
Xuân
Tình,
Bình
Bán
Chấn,
Tây
Thi,
Bài
Tạ.
7.
Lúc
kể
chuyện,
thuật
chuyện
có
tính
cách
gấp
rút,
vội
vàng,
thường
dùng
các
bản
:
Cổ
Bản,
Mẫu
Tầm
Tử,
Kim
Tiền
Huế,
Ú
Liu
Ú
Xáng,
v.v…
Trên
thực
tế
chỉ
có
một
số
bản
được
sử
dụng
rộng
rãi
mà
thôi.
Đa
số
những
bài
cải
lương
dùng
trong
những
buổi
đàn
ca
tài
tử
được
trích
từ
các
vở
tuồng
cải
lương.
Lý
do
là
lời
đặt
riêng
cho
các
điệu
/
bài
bản
không
nhiều.
Có
thể
nói
là
sau
này
không
còn
thấy
lời
mới
nữa.
Các
soạn
giả
chỉ
sáng
tác
lời
cho
bài
vọng
cổ
(và
các
bài
bản
nhỏ,
để
hát
xen
kẽ
với
vọng
cổ).
Sưu
Tầm
Email
liên
hệ; thiengia@cailuongvietnam.com
Nguồn
tin:
khangianhandan
tổng
hợp
-
CLVNCOM
Chú
ý:
Việc
đăng
lại
bài
viết
trên
ở
website
hoặc
các
phương
tiện
truyền
thông
khác
mà
không
ghi
rõ
nguồn
http://www.cailuongvietnam.com
là
vi
phạm
bản
quyền
Ý kiến bạn đọc