HC
-
BT
Trong
lịch
sử
sân
khấu
cải
lương
gần
100
năm
qua,
giai
đoạn
nào
cũng
có
những
“cặp
đôi
hoàn
hảo”,
như
Phùng
Há
-
Năm
Châu
của
thập
niên
1940
-
1950,
hay
sau
này
là
Thành
Được
-
Út
Bạch
Lan,
Minh
Cảnh
-
Mỹ
Châu,
Minh
Vương
-
Lệ
Thủy,
Thanh
Tuấn
-
Thanh
Kim
Huệ...
Nhưng
theo
những
người
trong
nghề,
có
lẽ
cặp
đôi
Hùng
Cường
-
Bạch
Tuyết
là
“hoàn
hảo”
nhất.
Từ
nghệ
sĩ
tài
hoa
đến
ngôi
mộ
nhỏ
ven
đường
làng
Cho
tới
ngày
nay
ở
Sài
Gòn,
ngoài
Hùng
Cường,
chưa
có
nghệ
sĩ
nào
nổi
bật
trên
hầu
hết
các
lĩnh
vực
nghệ
thuật,
như:
Tân
nhạc,
cải
lương,
kịch
nói,
phim
ảnh...
Ông
còn
là
võ
sĩ
quyền
Anh
từng
thượng
đài
thi
đấu...
Nghệ
sĩ
Hùng
Cường.
Ông
cũng
là
nam
nghệ
sĩ
được
cho
là
có
nhiều
vợ
và
bồ
nhất
ở
Sài
Gòn.
Vậy
mà
khi
chết
đi,
ông
nằm
trong
ngôi
mộ
nhỏ
ven
con
đường
làng
ở
Bến
Tre.
Làm
sôi
động
sân
khấu
cải
lương
Cho
tới
ngày
nay,
chưa
có
ai
làm
được
chuyện
“kinh
thiên
động
địa”
trên
sân
khấu
cải
lương
như
Hùng
Cường.
Đó
là
vào
năm
1959,
một
nghệ
sĩ
chưa
từng
được
biết
trong
giới
cải
lương,
chưa
từng
đảm
nhận
bất
cứ
vai
phụ
nào,
bỗng
bất
ngờ
xuất
hiện
trong
vai
chính
và
thành
công
vang
dội.
Đó
là
điều
không
thể
hiểu
nổi,
bởi
một
người
theo
nghề
cải
lương
phải
mất
ít
nhất
2-3
năm
làm
“giàn
bao”
mới
lên
được
vai
phụ,
rồi
cũng
mất
chừng
ấy
thời
gian
mới
lên
được
vai
chính
nếu
thực
sự
có
tài
và
khổ
luyện.
Người
làm
chuyện
“động
trời”
ấy
là
ca
sĩ
tân
nhạc
Hùng
Cường.
Trước
đó,
dù
là
ca
sĩ
tân
nhạc
nổi
tiếng,
nhưng
Hùng
Cường
rất
yêu
thích
cải
lương,
nên
bỏ
công
sức
nghiên
cứu,
học
hỏi.
Với
một
nền
móng
nhạc
lý
vững
vàng,
cộng
với
chất
giọng
đã
được
trui
rèn
và
sự
kiên
trì,
cố
gắng
khổ
luyện,
ông
đã
mạnh
dạn
bước
lên
sân
khấu
cải
lương
và
khẳng
định
ngay
tên
tuổi
của
mình.
Đoàn
cải
lương
Ngọc
Kiều
như
đánh
cược
với
chén
cơm
manh
áo
của
mấy
chục
con
người
khi
chấp
nhận
cho
ca
sĩ
tân
nhạc
Hùng
Cường
chưa
hề
hát
cải
lương
đóng
vai
chính
Roméo
trong
vở
mới
dựng
“Mộng
đẹp
đêm
trăng”.
Một
giàn
diễn
viên
gạo
cội
thời
đó
của
đoàn
Ngọc
Kiều
như
Ngọc
Đáng,
Ngọc
Giàu,
Hoàng
Kinh,
Thanh
Sang,
Kim
Nguyên,
Thanh
Kỳ…
đã
chấp
nhận
làm
“giàn
bao”
cho
Hùng
Cường.
Kể
từ
đó,
trên
bầu
trời
cải
lương
miền
Nam
xuất
hiện
một
ngôi
sao
rực
sáng,
Hùng
Cường
đã
giúp
cho
tiếng
tăm
và
doanh
thu
của
đoàn
Ngọc
Kiều
cải
thiện
đáng
kể.
Với
vóc
dáng
“sáng”
sân
khấu,
chất
giọng
tenor
khỏe,
lối
diễn
xuất
vừa
tự
nhiên
vừa
tự
tin
và
rất
hợp
lý,
cùng
những
bài
bản
cải
lương
đã
được
luyện
tập
kỹ
càng,
Hùng
Cường
đã
thành
công
vang
dội
ngay
từ
vai
diễn
đầu.
Tức
thì,
chủ
đoàn
Ngọc
Kiều
ký
tiếp
hợp
đồng
với
Hùng
Cường
để
hát
vai
chính
trong
kịch
bản
mới
“Tuyết
phủ
chiều
đông”
sẽ
khai
trương
tại
rạp
Viễn
Trường
(Mỹ
Tho,
Tiền
Giang)
sau
một
tháng
tập
dượt.
Hùng
Cường
đã
mướn
riêng
một
nhạc
sĩ
cổ
nhạc
đến
nhà
ông
luyện
tập
ngày
đêm.
Ngoài
ra
ông
rất
nhạy
bén,
biết
được
sở
đoản,
sở
trường
của
mình,
nên
đã
phối
hợp
với
soạn
giả
cải
lương
lồng
vào
kịch
bản
khá
nhiều
đoạn
tân
nhạc,
khai
thác
đúng
tài
năng
của
ông.
“Tuyết
phủ
chiều
đông”
của
soạn
giả
Bạch
Yến
Lan
và
giọng
hát
mới
toanh
Hùng
Cường
đã
tạo
nên
một
sự
kiện
chấn
động
“thánh
địa
cải
lương”
Mỹ
Tho.
Rạp
Viễn
Trường
đầy
kín
từ
chỗ
ngồi
đến
chỗ
đứng,
bên
ngoài
còn
dư
khán
giả
gần
nửa
rạp.
Tiếp
theo,
đoàn
Ngọc
Kiều
dựng
tiếp
vở
cải
lương
“Màu
tím
đèn
hoa
giấy”,
khai
trương
từng
bừng
tại
rạp
hát
Nguyễn
Văn
Hảo
năm
1960,
rồi
tiếp
tục
lưu
diễn
nhiều
tỉnh,
thị
xã
lớn
ở
miền
Tây.
Hùng
Cường
đóng
vai
Kha
Phong
-
một
kiếm
sĩ
Phù
Tang
điêu
luyện,
bên
cạnh
tài
danh
Ngọc
Đáng.
''Ngôi
sao''
cải
lương
Hùng
Cường
rực
sáng
từ
dạo
đó.
Đóng
phim,
đóng
kịch,
viết
nhạc,
làm
thơ...
Hùng
Cường
tên
thật
là
Trần
Kim
Cường,
sinh
năm
1936
tại
tỉnh
Bến
Tre,
sau
theo
gia
đình
về
sinh
sống
ở
Sài
Gòn.
Ngay
từ
khi
còn
là
học
sinh
Trường
Trung
học
Trần
Hưng
Đạo,
ông
đã
có
thể
tự
sáng
tác
và
biểu
diễn
những
bài
hát
học
sinh
trong
các
lần
hội
diễn
của
trường.
Sau
khi
học
xong
“tú
tài”,
ông
chính
thức
theo
nghiệp
ca
hát
tại
các
vũ
trường
Kim
Sơn,
Baccara...
Ngay
từ
những
năm
1954-1955,
Hùng
Cường
đã
nổi
tiếng
với
các
nhạc
phẩm
“tiền
chiến”
như:
Ông
lái
đò,
Vọng
ngày
xanh,
Sơn
nữ
ca,
Đường
xưa
lối
cũ…
Tất
cả
đều
được
thu
đĩa
và
đạt
số
bán
kỷ
lục
ở
Sài
Gòn
bấy
giờ.
Sau
khi
bước
sang
cải
lương
và
thành
công
vang
dội,
Hùng
Cường
vẫn
tiếp
tục
gắn
bó
với
sân
khấu
ca
nhạc
và
lại
làm
người
hâm
mộ
quay
cuồng
theo
ông
với
một
thể
loại
nhạc
mới
lạ
lần
đầu
tiên
xuất
hiện
ở
Sài
Gòn
–
nhạc
giật,
như
cách
gọi
lúc
đó
là
nhạc
“kích
động”,
một
dạng
pop-rock
đã
được
Việt
Nam
hóa.
Nhạc
“kích
động”
với
giọng
ca
Hùng
Cường
chỉ
thực
sự
đạt
đỉnh
cao
khi
phối
hợp
cùng
Mai
Lệ
Huyền
-
một
ca
sĩ
nữ
cũng
“quậy”
không
kém.
Những
ca
khúc
tươi
vui
và
“kích
động”
như:
Hai
trái
tim
vàng,
Vì
chưa
ngỏ
ý,
Túp
lều
lý
tưởng…
đã
từng
làm
sôi
động
giới
trẻ
miền
Nam
cuối
thập
niên
1960
-
đầu
1970.
Sau
ca
nhạc,
cải
lương,
Hùng
Cường
tiếp
tục
“lấn
sân”
sang
điện
ảnh.
Hàng
loạt
các
phim
do
Hùng
Cường
thủ
vai
chính
được
người
xem
chú
ý
thời
bấy
giờ
như:
“Chân
trời
tím”,
“Mãnh
lực
đồng
tiền”,
“Còn
gì
cho
nhau”,
“Nắng
chiều”,
“Ly
rượu
mừng”,
“Vết
thù
trên
lưng
ngựa
hoang”…
Lúc
mới
bước
sang
điện
ảnh,
Hùng
Cường
bị
châm
chích
rất
ác
ý,
chê
bai
là
“cải
lương”.
Thế
nhưng,
sau
khi
thành
công
với
phim
đầu
tiên
“Chân
trời
tím”,
nhiều
hãng
phim
đã
mời
Hùng
Cường
cộng
tác
và
phim
nào
có
tên
ông
cũng
ăn
khách.
Hãng
phim
Kim
Thân
đã
trả
thù
lao
khá
cao
để
mời
Hùng
Cường
và
Mai
Lệ
Huyền
đóng
cặp
trong
phim
“Mãnh
lực
đồng
tiền”.
Theo
chân
Hùng
Cường,
nhiều
đào
kép
cải
lương
khác
ở
Sài
Gòn
cũng
tham
gia
đóng
phim,
mà
nổi
hơn
cả
là
Thanh
Nga
và
Mộng
Tuyền.
Lúc
đầu,
các
nữ
tài
tử
điện
ảnh
rất
ngại
đóng
cặp
với
kép
hát
cải
lương,
trong
đó
có
Hùng
Cường.
Theo
báo
chí
thời
ấy,
công
ty
phim
truyện
Liên
Ảnh
trước
khi
mời
Kim
Vui
đã
có
ngỏ
ý
mời
Thẩm
Thúy
Hằng
đóng
cặp
với
Hùng
Cường,
nhưng
Thẩm
Thúy
Hằng
từ
chối,
có
lẽ
do
“định
kiến”
ấy.
Nhưng
sau
đó
“người
đẹp
Bình
Dương”
Thẩm
Thúy
Hằng
mới
tiếc
rẻ,
khi
thấy
Kim
Vui
nổi
bật
bên
Hùng
Cường
trong
phim
“Chân
trời
tím”
và
phim
vừa
thành
công
về
tài
chính
vừa
đoạt
Giải
văn
học
nghệ
thuật
Sài
Gòn
năm
1971,
lại
vinh
dự
là
lần
đầu
tiên
một
cuốn
phim
Việt
Nam
phụ
đề
Pháp
ngữ
được
gửi
đi
trình
chiếu
tại
Đại
hội
điện
ảnh
tổ
chức
ở
Dianard,
Anh
Quốc.
Vào
những
năm
1960,
khi
cải
lương
đang
chiếm
lĩnh
Sài
Gòn,
một
nhóm
“kịch
sĩ”
đứng
đầu
là
Vân
Hùng,
La
Thoại
Tân,
Hùng
Cường
hợp
cùng
kỳ
nữ
Kim
Cương,
Thẩm
Thúy
Hằng
và
ca
sĩ
Túy
Hồng
tạo
nên
một
“đặc
chủng”
nghệ
thuật
mới
mang
tên
“Kịch
nghệ
Sài
Gòn”.
Kịch
Sài
Gòn
ra
đời
muộn,
không
ồn
ào,
không
thu
hút
ngay
được
nhiều
khán
giả
tới
rạp,
nhưng
dần
dần
cũng
tạo
được
chỗ
đứng.
Ngoài
kỳ
nữ
Kim
Cương
vốn
là
con
nhà
nòi
về
kịch
nói,
số
còn
lại
đều
từ
điện
ảnh,
ca
nhạc
sang.
Có
thể
nói,
chính
những
cái
tên
như
Thẩm
Thúy
Hằng,
Hùng
Cường
đã
lôi
kéo
một
lượng
khán
giả
không
nhỏ,
giúp
sân
khấu
kịch
Sài
Gòn
có
chỗ
đứng
và
phát
triển
dần.
Trong
giới
tài
tử
điện
ảnh
ở
Sài
Gòn
trước
năm
1975,
có
2
người
được
cho
là
giỏi
võ
nhất,
đó
là
Lý
Huỳnh
và
Hùng
Cường.
Lý
Huỳnh
vừa
đóng
phim
vừa
mở
võ
đường
Thái
cực
đạo,
nên
được
phong
là
“võ
sư”.
Hùng
Cường
mê
đánh
quyền
Anh
từ
thời
học
sinh,
sau
này
ông
vẫn
tiếp
tục
tập
quyền
Anh
như
là
môn
võ
thể
dục
giúp
rèn
luyện
sức
khỏe.
Lúc
ấy,
phong
trào
tập
luyện
quyền
Anh
ở
Sài
Gòn
rất
yếu,
số
người
giỏi
chỉ
có
thể
đếm
trên
đầu
ngón
tay,
trong
đó
có
Hùng
Cường.
Năm
1970,
khi
hàng
trăm
ngàn
bà
con
Việt
kiều
bỏ
nhà
cửa,
đất
đai,
tài
sản
ở
Campuchia
về
Việt
Nam
lánh
nạn
và
sinh
sống,
mở
lò
dạy
quyền
Anh
thì
phong
trào
mới
phát
triển
trở
lại.
Sau
đó,
người
ta
tổ
chức
thi
đấu
môn
quyền
Anh,
Hùng
Cường
cũng
đăng
ký
“thượng
đài”,
nhưng
vào
phút
cuối
đã
bỏ
cuộc
vì
bận
theo
đoàn
hát
đi
lưu
diễn
xa.
Chuyện
này
được
Hùng
Cường
thể
hiện
lại
trong
nội
dung
một
vở
cải
lương
sau
đó.
Hùng
Cường
còn
thọ
giáo
môn
võ
Bình
Định
của
một
thầy
dạy
võ
nổi
tiếng
ở
Quy
Nhơn
trong
một
lần
đi
diễn
ở
đây.
Khi
về
Sài
Gòn,
Hùng
Cường
rước
hẳn
thầy
dạy
võ
vào
Sài
Gòn
dạy
cho
mình
cả
năm
trời.
Với
năng
khiếu
bẩm
sinh,
Hùng
Cường
đã
nhanh
chóng
thăng
đến
hạng
“đai
đen”.
Nhờ
tập
luyện
nhiều
môn
võ
đông
tây,
kim
cổ
mà
Hùng
Cường
rất
giỏi
võ
và
có
sức
khỏe
hơn
người.
Khi
đóng
phim
hay
diễn
trên
sân
khấu,
ông
thường
ra
đòn
giống
như
thật,
nếu
người
bạn
diễn
cũng
giỏi
võ,
họ
sẽ
cống
hiến
cho
người
xem
những
màn
biểu
diễn
võ
thuật
đẹp
mắt.
Nhờ
giỏi
võ
mà
khi
đóng
phim
ở
những
trường
đoạn
đánh
nhau
hoặc
cảnh
đóng
nguy
hiểm,
Hùng
Cường
thường
tự
đóng
chứ
không
nhờ
người
đóng
thế,
đó
cũng
là
một
lợi
thế
của
Hùng
Cường
so
với
những
nghệ
sĩ
đóng
phim
khác.
Một
nghệ
sĩ
chưa
từng
được
biết
trong
giới
cải
lương,
chưa
từng
đảm
nhận
bất
cứ
vai
phụ
nào,
bỗng
bất
ngờ
xuất
hiện
trên
sân
khấu
cải
lương
trong
vai
chính
và
thành
công
vang
dội.
Người
làm
chuyện
“động
trời”
ấy
là
ca
sĩ
tân
nhạc
Hùng
Cường.
Chuyện
tình
Hùng
Cường
-
Bạch
Tuyết
NSƯT
Bạch
Tuyết
bên
mộ
Hùng
Cường.
Trong
lịch
sử
sân
khấu
cải
lương
gần
100
năm
qua,
giai
đoạn
nào
cũng
có
những
“cặp
đôi
hoàn
hảo”,
như
Phùng
Há
-
Năm
Châu
của
thập
niên
1940
-
1950,
hay
sau
này
là
Thành
Được
-
Út
Bạch
Lan,
Minh
Cảnh
-
Mỹ
Châu,
Minh
Vương
-
Lệ
Thủy,
Thanh
Tuấn
-
Thanh
Kim
Huệ...
Nhưng
theo
những
người
trong
nghề,
có
lẽ
cặp
đôi
Hùng
Cường
-
Bạch
Tuyết
là
“hoàn
hảo”
nhất.
Bài
2:
Chuyện
tình
Hùng
Cường
-
Bạch
Tuyết
“Cải
lương
chi
bảo”
Bạch
Tuyết
Sự
xuất
hiện
của
ngôi
sao
Hùng
Cường
trên
bầu
trời
cải
lương
cũng
là
lúc
bộ
môn
nghệ
thuật
đặc
trưng
này
của
Nam
Bộ
bước
vào
thời
kỳ
cực
thịnh.
Thập
niên
1960
có
thể
nói
là
“thời
kỳ
hoàng
kim”
của
sân
khấu
cải
lương.
Thời
ấy
ở
Sài
Gòn
và
cả
miền
Nam,
bộ
môn
nghệ
thuật
cải
lương
đủ
sức
làm
lu
mờ
mọi
bộ
môn
nghệ
thuật,
mọi
hoạt
động
giải
trí
khác.
Cũng
trong
giai
đoạn
này,
cái
tên
Hùng
Cường
đứng
bên
Bạch
Tuyết
có
sức
thu
hút
mãnh
liệt
người
mộ
điệu
cải
lương
và
được
đặt
cho
biệt
danh
cặp
“sóng
thần”,
cùng
với
tên
đoàn
hát
Dạ
Lý
Hương
mà
họ
đầu
quân.
Bạch
Tuyết
tên
thật
là
Nguyễn
Thị
Bạch
Tuyết,
sinh
ngày
24.12.1945
tại
Khánh
Bình
-
Châu
Đốc
(thuộc
tỉnh
An
Giang
ngày
nay).
Từ
nhỏ,
Bạch
Tuyết
đã
có
khiếu
ca
hát
tân
nhạc,
ngâm
thơ.
Cuối
năm
1955,
sau
một
tai
nạn
thảm
khốc,
mẹ
cô
đã
từ
giã
cuộc
đời,
để
lại
hai
đứa
con
gái
tuổi
còn
thơ
dại.
Còn
rất
nhỏ,
mà
Bạch
Tuyết
đã
đi
hát
kiếm
tiền
ở
những
nhà
hàng
ca
nhạc.
Thời
đó,
cô
cũng
như
các
bạn
học
rất
ái
mộ
các
nghệ
sĩ
như
Thanh
Nga,
Kim
Cương,
Thẩm
Thúy
Hằng…
Sau
thời
gian
học,
cả
đám
hay
kéo
vào
hậu
trường
sân
khấu
xem
tập
tuồng
và
cũng
để
xin
hình
và
chữ
ký
của
các
thần
tượng
mà
mình
ái
mộ.
Thanh
Nga
tuy
nổi
tiếng
nhưng
rất
nhiệt
tình
và
không
bao
giờ
từ
chối
người
hâm
mộ.
Nhìn
thấy
Bạch
Tuyết,
cô
đào
Thanh
Nga
bất
ngờ
hỏi:
“Em
có
biết
hát
không?”.
“Dạ
thưa,
em
chỉ
biết
hát
tân
nhạc
thôi”
-
Bạch
Tuyết
bẽn
lẽn
đáp
lời.
Thanh
Nga
mỉm
cười
và
nói:
“Cưng
đi
hát
đi,
chị
tin
rằng
cưng
sẽ
thành
công”.
Những
lời
nói
khích
lệ
đó
của
nghệ
sĩ
Thanh
Nga
như
là
định
mệnh,
làm
thay
đổi
cả
số
phận,
cuộc
đời
của
Bạch
Tuyết.
Không
lâu
sau,
vào
năm
1963,
Thanh
Nga
và
Bạch
Tuyết
lại
gặp
nhau
trong
một
tình
huống
khác:
Bạch
Tuyết
đoạt
giải
Thanh
Tâm
còn
Thanh
Nga
là
người
trao
giải!
Năm
1960,
Bạch
Tuyết
vào
học
trường
nội
trú,
thời
gian
này
bà
bắt
đầu
giao
du
học
hỏi
với
nhiều
nghệ
sĩ,
trong
đó
có
soạn
giả
Điêu
Huyền.
Điêu
Huyền
nhận
bà
làm
con
nuôi,
cho
gia
nhập
đoàn
Kiên
Giang.
Năm
1961,
đoàn
Kiên
Giang
diễn
vở
“Lá
thắm
chỉ
hồng”,
cô
đào
chính
tới
trễ,
Bạch
Tuyết
bất
ngờ
được
giao
vai
cô
lái
đò
Lệ
Chi,
diễn
xuất
của
bà
khiến
khán
giả
hết
sức
ngạc
nhiên.
Dù
còn
rất
trẻ,
Bạch
Tuyết
đã
khẳng
định
tên
tuổi
mình
ở
đoàn
hát
tỉnh
Kiên
Giang.
Nhờ
đó,
bà
được
nghệ
sĩ
Út
Trà
Ôn
mời
về
đoàn
Thống
Nhất
và
đảm
nhận
vai
chính
trong
vở
“Tiếng
hát
Muồng
Tênh”,
tên
tuổi
bà
bắt
đầu
nổi
từ
đó.
Cuối
năm
1962,
bà
vào
đoàn
Bạch
Vân.
Năm
sau
được
giải
Thanh
Tâm
cho
diễn
viên
triển
vọng
cùng
các
nghệ
sĩ
Mộng
Tuyền,
Trương
Ánh
Loan,
Tấn
Tài,
Thanh
Tú,
Diệp
Lang.
Năm
1964,
bà
về
hát
cho
đoàn
Dạ
Lý
Hương,
hợp
tác
với
các
soạn
giả
danh
tiếng
bấy
giờ
là
Hà
Triều
-
Hoa
Phượng,
tài
năng
của
bà
càng
được
khẳng
định.
Năm
sau,
vở
“Tần
Nương
Thất”
đã
mang
lại
cho
bà
huy
chương
vàng
giải
Thanh
Tâm
cho
nghệ
sĩ
xuất
sắc.
Năm
1966,
Hùng
Cường
gia
nhập
đoàn
Dạ
Lý
Hương,
cùng
với
Bạch
Tuyết
tạo
thành
1
cặp
đôi
hoàn
hảo
trong
mắt
khán
giả.
Đến
năm
1971,
bà
cùng
với
Hùng
Cường
mở
gánh
hát
Hùng
Cường
–
Bạch
Tuyết.
NSƯT
Bạch
Tuyết.
Cặp
“sóng
thần”
Hùng
Cường
–
Bạch
Tuyết
Suốt
thời
gian
dài,
từ
năm
1966
cho
tới
1972,
hai
cái
tên
Hùng
Cường
–
Bạch
Tuyết
luôn
xuất
hiện
đầy
rẫy
trên
các
trang
báo,
trên
các
panô
quảng
cáo,
trên
khắp
các
nẻo
đường
Sài
Gòn.
Dù
đã
mấy
chục
năm
trôi
qua,
nhưng
nhiều
người
Sài
Gòn
vẫn
chưa
quên
những
vở
tuồng
để
đời
của
cặp
đôi
Hùng
Cường
–
Bạch
Tuyết
như:
“Cho
trọn
cuộc
tình”
;
“Lệnh
của
bà”;
“Má
hồng
phận
bạc”
,
“Tình
chú
Thoòng”’
“Trăng
Thề
Vườn
Thúy”,
“Cung
Thương
sầu
nguyệt
hạ”...
cùng
hàng
chục
bản
tân
cổ
giao
duyên
với
giọng
ca
Hùng
Cường
-
Bạch
Tuyết.
Những
giai
thoại
về
Hùng
Cường
–
Bạch
Tuyết
thì
nhiều
vô
kể,
liên
quan
đến
mọi
khía
cạnh,
từ
nghề
nghiệp
đến
tình
cảm.
Chẳng
hạn,
người
ta
cho
rằng
chuyện
tình
giữa
Tam
Lang
và
Bạch
Tuyết
tan
vỡ
là
có
yếu
tố
Hùng
Cường.
Nhưng
Bạch
Tuyết
cho
rằng
mình
yêu
quý
Hùng
Cường
đơn
thuần
vì
thái
độ
lao
động
nghệ
thuật.
Hùng
Cường
–
Bạch
Tuyết
“hoàn
hảo”
đến
mức
ca
diễn
đều
hay,
hát
tân
nhạc
và
cổ
nhạc
đều
tốt,
quăng
bắt
hợp
lý...
Chính
họ
đã
làm
nên
thương
hiệu
Dạ
Lý
Hương
nổi
đình
nổi
đám
vào
giữa
thập
niên
1960.
Bạch
Tuyết
kể:
“Ngày
ấy
những
vở
tuồng
tôi
hát
với
Hùng
Cường
tạo
hiệu
ứng
rất
tốt,
khán
giả
kéo
đến
rạp
như
sóng
thần,
vì
vậy
báo
giới
mới
đặt
cặp
“sóng
thần”
Hùng
Cường
–
Bạch
Tuyết.
Hùng
Cường
là
một
nghệ
sĩ
cực
kỳ
giỏi.
Đó
là
một
con
người
tài
hoa,
có
tri
thức,
đam
mê
nghề,
hết
sức
nghiêm
túc
với
nghề.
Với
một
người
như
vậy,
lại
làm
việc
chung
thì
không
có
cớ
gì
lại
không
đem
lòng
yêu
mến
được.
Nhưng
con
người
tôi
lạ
lắm,
tôi
nhớ
có
lần
nói
với
anh
ấy:
“Em
rất
thương
anh,
quý
anh.
Mọi
khán
giả
đều
yêu
mến
anh,
muốn
được
gần
gũi
anh,
muốn
được
anh
yêu.
Em
lại
được
anh
yêu
trong
nghệ
thuật,
em
muốn
giữ
mãi
cảm
xúc
đẹp,
thanh
khiết
này
để
dâng
hiến
cho
khán
giả”.
Phải
đấu
tranh
nội
tâm
và
kiềm
chế
dữ
lắm
chứ.
Rất
may
là
không
có
chuyện
gì
xảy
ra
chứ
nếu
không
chưa
chắc
tình
cảm
và
hình
ảnh
của
chúng
tôi
trong
nhau
lại
mãi
đẹp
như
thế”.
Họ
đã
làm
nên
một
Dạ
Lý
Hương
Giải
thưởng
Thanh
Tâm
ra
đời
năm
1958
do
nhà
báo
Trần
Tấn
Quốc
lập
ra
để
khuyến
khích
nhân
tài
trẻ
cho
sân
khấu
cải
lương.
Sau
khi
ra
mắt,
giải
Thanh
Tâm
trở
nên
danh
giá
trong
làng
sân
khấu.
Ngoài
tiêu
chuẩn
ca
diễn
xuất
sắc,
giải
Thanh
Tâm
còn
đòi
hỏi
tiêu
chuẩn
đạo
đức,
cho
nên
nghệ
sĩ
luôn
rèn
luyện,
phấn
đấu.
Việc
chấm
giải
rất
lạ,
không
hề
có
một
cuộc
thi
nào
diễn
ra.
Ban
giám
khảo
sẽ
đi
xem
tất
cả
các
vở
tuồng
trong
năm,
chọn
ra
tuồng
hay,
nghệ
sĩ
giỏi
rồi
cuối
cùng
mới
ngồi
lại
bình
bầu.
Vì
thế,
nghệ
sĩ
phải
luôn
trong
tư
thế
“thi”
suốt
cả
năm,
hết
năm
này
lại
năm
khác,
hết
suất
này
tới
suất
khác.
Thậm
chí
phải
luôn
sống
tử
tế,
vì
chỉ
cần
tai
tiếng
là
coi
như
bị
loại.
Nghệ
sĩ
Thanh
Nga
là
người
duy
nhất
nhận
giải
Thanh
Tâm
lần
đầu
tiên
năm
1958.
Những
người
trong
giới
đều
nhìn
nhận,
giải
thưởng
Thanh
Tâm
ngày
ấy
có
sức
động
viên
rất
lớn,
khuyến
khích
nghệ
sĩ
trẻ
rèn
luyện
để
có
cơ
hội
bước
lên
bục
vinh
quang.
Hùng
Cường
là
nghệ
sĩ
cải
lương
duy
nhất
tài
năng
thăng
hoa
trong
thời
kỳ
của
giải
Thanh
Tâm
nhưng
lại
không
nhận
được
giải
thưởng
này,
lý
do
là
vì
khi
đó
Hùng
Cường
đã
24
tuổi,
vượt
quá
tuổi
quy
định
của
giải
thưởng.
Thực
ra,
dù
giải
Thanh
Tâm
không
chỉ
dành
riêng
cho
nghệ
sĩ
cải
lương
ở
Sài
Gòn,
nhưng
trong
10
năm
tồn
tại
với
24
huy
chương
vàng
được
trao,
không
có
nghệ
sĩ
nào
ở
đoàn
tỉnh
được
nhận
vinh
dự
cao
quý
ấy,
mà
tất
cả
đều
đang
hát
ở
Sài
Gòn.
Mà
ở
Sài
Gòn,
giải
thưởng
Thanh
Tâm
cũng
tập
trung
vào
diễn
viên
của
một
số
đoàn
“đại
bang”,
trong
đó
phải
kể
đến
đoàn
Kim
Chung
và
đoàn
Dạ
Lý
Hương.
Thời
ấy
ở
Sài
Gòn,
dân
mộ
điệu
cải
lương
nếu
thích
xem
tuồng
“hương
xa”,
tuồng
tích
cũ,
có
đánh
kiếm,
kể
cả
chuyện
bên
Tàu,
bên
Nhật,
người
ta
tìm
đến
đoàn
Kim
Chung.
Còn
đối
với
những
khán
giả
yêu
thích
tuồng
“tình
cảm
xã
hội”,
những
câu
chuyện
của
xã
hội
miền
Nam
đương
đại,
họ
tìm
đến
đoàn
Dạ
Lý
Hương.
Lý
hương
là
một
loài
cây
có
nguồn
gốc
từ
Châu
Mỹ,
được
người
Pháp
đưa
đến
trồng
đầu
tiên
ở
Đà
Lạt.
Cây
có
nhiều
hoa
màu
vàng
lục
nhạt,
hay
lục
nhạt,
thơm
ngát
về
đêm,
vì
vậy
mà
có
tên
là
dạ
lý
hương.
Chọn
đặt
tên
cho
đoàn
hát
là
“Dạ
Lý
Hương”
vào
đầu
thập
niên
1950,
ông
Bầu
Xuân
muốn
gửi
gắm
vào
đó
sự
“tỏa
hương”
của
nghệ
thuật
cải
lương.
Dù
vậy,
đoàn
Dạ
Lý
Hương
vẫn
không
có
gì
nổi
bật
sau
khi
thành
lập.
Mãi
đến
năm
1964,
khi
ngôi
sao
mới
đoạt
giải
Thanh
Tâm
là
“cải
lương
chi
bảo”
Bạch
Tuyết
về
đầu
quân,
cùng
lúc
cặp
soạn
giả
Hà
Triều
–
Hoa
Phượng
vừa
kết
nối
thành
cặp
“bài
trùng”
để
cho
ra
những
tuồng
hát
“tâm
lý
xã
hội”
sâu
sắc,
thì
đoàn
Dạ
Lý
Hương
mới
có
tiếng
nói
trong
giới
sân
khấu
cải
lương
Sài
Gòn.
Tuy
vậy,
cho
đến
khi
Hùng
Cường
về
đầu
quân
cho
Dạ
Lý
Hương
vào
năm
1966,
thì
cái
tên
Dạ
Lý
Hương
mới
vượt
lên
tột
đỉnh,
làm
lu
mờ
các
đoàn
hát
khác.
Đoàn
Dạ
Lý
Hương
với
Hùng
Cường
-
Bạch
Tuyết
đi
tới
đâu
là
tạo
nên
hiện
tượng
tới
đó,
rạp
hát
không
bào
giờ
còn
chỗ
trống,
thậm
chí
mỗi
ngày
diễn
2
suất,
tiền
bán
vé
phải
chứa
bằng
bao
bố...
Ngày
ấy
đoàn
Dạ
Lý
Hương
“danh
giá”
đến
nổi
khi
đội
bóng
đá
miền
Nam
Việt
Nam
chuẩn
bị
đi
tranh
giải
Merdeka
1966
ở
Malaysia,
các
cầu
thủ
“được”
chiêu
đãi...
một
suất
xem
hát
ở
đoàn
hát
này.
Vì
vậy
mà
chiếc
cúp
danh
giá
Merdeka
từ
Kuala
Lumpur
đội
tuyển
giành
được
mang
về
Sài
Gòn
có
dấu
ấn
của
đoàn
Dạ
Lý
Hương,
của
Hùng
Cường
–
Bạch
Tuyết.
Cũng
từ
duyên
cớ
này
mà
người
Sài
Gòn
được
chứng
kiến
một
câu
chuyện
khác,
gắn
với
cái
tên
của
đội
trưởng
đội
tuyển
bóng
đá
miền
Nam,
danh
thủ
Phạm
Huỳnh
Tam
Lang
Chuyện
“tay
ba”
thú
vị
Tam
Lang-Bạch
Tuyết-Hùng
Cường
Câu
chuyện
“tay
ba”
Tam
Lang
-
Bạch
Tuyết
-
Hùng
Cường
gắn
liền
với
chiếc
cúp
Merdeka
năm
1966.
Thời
ấy,
giải
Merdeka
giống
như
giải
Châu
Á
thu
nhỏ.
Một
tờ
báo
ở
Sài
Gòn
khai
thác
chuyện
“tay
ba”
Tam
Lang
-
Bạch
Tuyết
-
Hùng
Cường.
Các
tuyển
thủ
miền
Nam
đã
vượt
qua
các
đội
Thái
Lan,
Nhật
Bản,
Hồng
Kông,
Miến
Điện...
để
bước
lên
ngôi
vô
địch.
Chiếc
cúp
Merdeka
1966
gắn
liền
với
tên
tuổi
của
thủ
quân
đội
tuyển
miền
Nam
là
Phạm
Huỳnh
Tam
Lang.
Ít
người
biết
rằng,
chiếc
cúp
danh
giá
này
còn
có
dấu
ấn
của
đôi
“sóng
thần”
cải
lương
thời
bấy
giờ
là
Hùng
Cường
-
Bạch
Tuyết.
Xem
cải
lương
trước
khi
đi
dự
giải
đấu
lớn
Giải
Merdeka
năm
1966
được
đánh
dấu
lần
tổ
chức
thứ
10
liên
tục,
với
sự
tham
gia
của
12
quốc
gia,
vùng
lãnh
thổ
sừng
sỏ
về
bộ
môn
bóng
tròn
là:
Đại
Hàn
(Hàn
Quốc
ngày
nay),
Nhật
Bản,
Miến
Điện
(Myanmar),
Kuwait,
Singapore,
Đài
Loan,
Hồng
Kông,
Thái
Lan,
Indonesia,
Ấn
Độ,
Nam
Việt
Nam
và
nước
chủ
nhà
Malaysia.
Một
món
quà
bất
ngờ
đến
với
đội
tuyển
trước
khi
đi
Malaysia
3
ngày.
Sau
buổi
tập
sáng,
đích
thân
''ngôi
sao''
cải
lương
Hùng
Cường
và
bầu
Xuân
(đoàn
Dạ
Lý
Hương)
đến
mời
toàn
đội
tới
chiêu
đãi
1
suất
hát
tại
rạp
Quốc
Thanh.
Nếu
chuyện
này
diễn
ra
vào
năm
2013,
ắt
hẳn
là
khá
buồn
cười
nhưng
vào
thời
điểm
năm
1966,
khi
mà
cải
lương
đang
thời
vàng
son,
còn
các
cầu
thủ
bóng
đá
chưa
cao
giá
thì
lời
mời
trên
là
rất
vinh
dự.
Sở
dĩ
có
cuộc
“chiêu
đãi”
suất
hát
cải
lương
này
là
do
Hùng
Cường
rất
mê
bóng
đá,
ông
đã
bàn
với
bầu
Xuân
tổ
chức
buổi
“chiêu
đãi”,
vừa
để
quảng
bá
cho
đoàn
hát
Dạ
Lý
Hương.
Trước
giờ
kéo
màn,
bầu
Xuân
nói
vài
lời
phi
lộ
và
chúc
đội
tuyển
lên
đường
thi
đấu
thành
công.
Các
cầu
thủ
được
mời
lên
sân
khấu
chào
khán
giả
và
để
đoàn
hát
tặng
hoa.
Cô
đào
hát
nổi
tiếng
Bạch
Tuyết
bước
đến
trước
thủ
quân
Phạm
Huỳnh
Tam
Lang
trao
bó
hoa
tươi
thắm.
Sau
này
Tam
Lang
đã
có
lần
thừa
nhận
là
ngay
ở
lần
chạm
mặt
đầu
tiên
ấy,
“cải
lương
chi
bảo”
Bạch
Tuyết
đã
hớp
hồn
chàng
cầu
thủ
tài
hoa
từng
được
gọi
vào
đội
tuyển
bóng
đá
Châu
Á.
Không
biết
“cải
lương
chi
bảo”
Bạch
Tuyết
gửi
gắm
gì
trong
bó
hoa,
mà
tại
Kuala
Lumpur
sau
đó
mấy
ngày
Tam
Lang
đá
như
“lên
đồng”.
Tam
Lang
đóng
vai
trò
quan
trọng
đưa
đội
tuyển
miền
Nam
đoạt
ngôi
vô
địch
tại
“chảo
lửa”
Kuala
Lumpur.
Chuyện
tình
Tam
Lang
-
Bạch
Tuyết
Lần
gặp
nhau
đầu
tiên
vào
tháng
8
năm
1966
khi
Bạch
Tuyết
tặng
hoa
cho
thủ
quân
Tam
Lang,
giữa
họ
đã
nổ
ra
tiếng
sét
ái
tình.
Thủ
quân
Tam
Lang
chợt
thấy
lòng
lâng
lâng,
giúp
anh
thanh
thoát
đôi
chân
trong
những
trận
cầu
căng
thẳng
sau
đó
ở
Malaysia.
Còn
Bạch
Tuyết,
suốt
thời
gian
dài
theo
gánh
hát
cải
lương
thường
lênh
đênh
trên
những
chiếc
ghe
biểu
diễn
khắp
vùng
sông
nước,
nên
bà
luôn
cầu
trời
ban
cho
mình
một
tấm
chồng
trên
bờ.
Và
bà
đã
được
toại
nguyện
khi
gặp
Phạm
Huỳnh
Tam
Lang,
cầu
thủ
bóng
đá
đang
rất
nổi
danh-
không
chỉ
ở
Sài
Gòn-
mà
cả
Châu
Á.
Sau
khi
đội
bóng
đoạt
ngôi
vô
địch
trở
về,
Tam
Lang
thường
xuyên
đến
đoàn
Dạ
Lý
Hương,
nhưng
không
phải
để
coi
hát
cải
lương,
mà
là
để
thăm
Bạch
Tuyết.
Tính
tình
hiền
hòa,
cử
chỉ
ân
cần,
phong
cách
lịch
lãm
của
chàng
cầu
thủ
bóng
đá
lừng
danh
Châu
Á
đã
nhanh
chóng
chinh
phục
trái
tim
của
cô
đào
cải
lương
đang
nổi
như
cồn
trên
đất
Sài
Gòn.
Họ
cưới
nhau
sau
đó
gần
1
năm.
Thời
đó,
ở
Sài
Gòn
thanh
niên
nam
nữ
rất
ngưỡng
mộ
chuyện
tình
Tam
Lang
-
Bạch
Tuyết
mà
họ
cho
là
“đẹp
như
huyền
thoại”.
Thế
nhưng,
cuộc
tình
tưởng
như
là
hoàn
hảo
của
họ
chỉ
kéo
dài
được
hơn
6
năm.
Bạch
Tuyết
từng
có
lần
tâm
sự:
“Hai
đứa
thương
nhau,
mà
như
tuồng
cải
lương
vậy
đó.
Thương
nhau
mà
không
có
con
được
nên
đành
phải
xa
nhau
vì
anh
Tam
Lang
là
người
cực
kỳ
tốt
và
có
hiếu
với
gia
đình.
Sau
anh
Tam
Lang
lập
gia
đình
và
có
một
con
gái.
Hai
đứa
thương
nhau
lắm
nhưng
xa
nhau
chỉ
vì
hoàn
cảnh
thôi.
Tụi
này
vẫn
thân
quý
nhau”.
Bạch
Tuyết
cũng
cho
biết,
vì
bà
theo
đoàn
diễn
rày
đây
mai
đó,
còn
ông
Tam
Lang
cũng
thường
xuyên
đi
thi
đấu
xa
nhà,
vì
vậy
mà
thời
gian
họ
bên
nhau
rất
ít.
Tuy
nhiên,
đó
không
phải
là
lý
do
chính
làm
họ
xa
cách,
điều
quan
trọng
là
cả
hai
vợ
chồng
mong
mãi
mà
chẳng
có
một
mụn
con
nào.
Bạch
Tuyết
quan
niệm,
là
phụ
nữ
mà
không
sinh
được
con
thì
không
nên
ràng
buộc
người
chồng.
Sau
đó
bà
đã
lại
có
chồng
và
mang
thai,
sinh
được
cậu
con
trai
kháu
khỉnh.
Bố
của
cháu
là
tiến
sĩ
kinh
tế
ở
Pháp
về
thăm
quê,
có
lẽ
đó
là
duyên
tiền
định,
nhờ
đó
mà
bà
có
được
cuộc
sống
yên
ấm
và
có
điều
kiện
nâng
cao
kiến
thức
sau
này.
Trong
lúc
Tam
Lang
cũng
có
mái
ấm
gia
đình
khác
và
có
được
đứa
con
gái
xinh
xắn.
Âu
cũng
là
duyên
số,
trời
định!
Tam
Lang
xách
súng
rulô
rượt
bắn
Hùng
Cường?
Ngày
ấy,
khi
cuộc
hôn
nhân
giữa
Tam
Lang
và
Bạch
Tuyết
tan
vỡ,
dư
luận
Sài
Gòn
cho
rằng
do
những
vai
diễn
quá
mùi
mẫn
trên
sân
khấu
của
Hùng
Cường
và
Bạch
Tuyết.
Quả
thật,
thời
đó
bất
cứ
người
hâm
mộ
nào
cũng
chạnh
lòng
trước
những
cảnh
diễn,
sự
quăng
bắt
ngọt
ngào,
đằm
thắm
giữa
Hùng
Cường
-
Bạch
Tuyết.
Thậm
chí
có
báo
còn
đưa
tin
giật
gân
là
vì
ghen
mà
Tam
Lang
xách
súng
rulô
đuổi
bắn
Hùng
Cường.
Cách
đây
hơn
10
năm,
sau
thành
công
của
những
vai
diễn
mang
tính
thể
nghiệm
trên
sân
khấu
Sài
Gòn
như
Diễn
kịch
một
mình,
Hoàng
hậu
hai
vua,
Độc
thoại
đêm…,
một
ký
giả
kịch
trường
đã
hỏi
vì
sao
Bạch
Tuyết
lại
chọn
cuộc
chơi
độc
diễn
này?
Câu
hỏi
khiến
Bạch
Tuyết
thấy
nao
lòng.
Khán
giả
vẫn
dành
tình
yêu
cho
bà
cùng
các
bạn
diễn
như
Tấn
Tài,
Thanh
Sang,
Minh
Vương,
Thanh
Tuấn…
Nhưng
cất
giữ
một
góc
trong
lòng
khán
giả
và
trong
chính
Bạch
Tuyết,
không
thể
bù
đắp,
không
ai
thay
thế
được,
đó
là
nghệ
sĩ
Hùng
Cường.
Thỉnh
thoảng
Bạch
Tuyết
vẫn
bắt
gặp
những
câu
hỏi
tò
mò
của
khán
giả,
đại
loại:
"Ai
cũng
mê
Hùng
Cường.
Bạch
Tuyết
đóng
chung
với
Hùng
Cường
đẹp
và
hợp
nhau
đến
vậy,
Bạch
Tuyết
có
mê
Hùng
Cường
không?". Và
Bạch
Tuyết đã
hỏi
lại:
"Thế
mọi
người
thấy
tôi
có
mê
Hùng
Cường
không?".
Khán
giả
hồn
nhiên
bảo:
"Mê
quá
chớ
sao
không.
Nếu
không
mê
thì
làm
sao
ca
diễn
tình
tứ,
hòa
quyện
vào
nhau
như
thế
được…".
Vậy
là,
khán
giả
trả
lời
hộ
cho
bà.
Chỉ
có
điều,
sự
tình
tứ,
độ
nồng
nàn,
sức
cuốn
hút
vào
nhau
trên
sàn
diễn
chỉ
còn
lại
cái
dè
chừng,
nghi
hoặc
ở
ngoài
đời.
Đêm
-
nhân
vật
của
Hùng
Cường
và
Bạch
Tuyết
bay
bổng
cùng
nhau.
Ngày
-
hai
con
người,
hai
cá
thể
cứ
chực
sẵn
vẻ
lạnh
lùng,
thách
thức
cố
ý.
Bạch
Tuyết
thổ
lộ:
"Tôi
ẩn
náu
trong
sự
kiêu
hãnh
mà
kỳ
thực,
luôn
yếu
đuối,
trẻ
con,
khờ
khạo
trước
anh
lẫn
cuộc
đời…".
Về
tin
đồn
rằng
vì
quá
ghen
tuông
với
những
cảnh
mùi
mẫn
trên
sân
khấu
nên
Tam
Lang
xách
súng
rulô
rượt
bắn
Hùng
Cường,
Tam
Lang
đã
có
lần
giải
thích:
"Đúng
là
khi
còn
đá
cho
đội
cảnh
sát
của
chế
độ
cũ,
tôi
được
gắn
lon
trung
sĩ
và
được
phát
khẩu
súng
ngắn.
Ngay
sau
đó
tôi
trả
súng
lại
vì
thấy
nguy
hiểm,
đồng
thời
cũng
không
muốn
giữ
súng
vì
đâu
có
chi
cần
thiết
để
giắt
kè
kè
bên
người.
Do
đó
không
hề
có
chuyện
tôi
xách
súng
rượt
kép
hát
ngay
trên
sân
khấu
như
đồn
đại
đâu.
Ngay
cả
cái
lon
trung
sĩ
cũng
là
chuyện
chẳng
đặng
đừng
vào
thuở
ấy.
Lương
cầu
thủ
chẳng
được
là
bao,
do
vậy
ông
bầu
của
đội
mới
gắn
cho
tôi
thêm
lon
trung
sĩ
cảnh
sát
để
có
thêm
vài
đồng
lương
hằng
tháng".
Câu
chuyện
Hùng
Cường
-
Bạch
Tuyết
-
Tam
Lang
còn
được
soạn
giả
nào
đó
"cắc
cớ"
viết
hẳn
thành
bài
tân
cổ
giao
duyên
rất
nổi
tiếng
có
tên
"Chuyến
xe
thơ
mộng"
được
chính
Hùng
Cường
và
Bạch
Tuyết
hát
liên
tục
trên
đài
phát
thanh
Sài
Gòn
đầu
thập
niên
1970.
Nội
dung
bài
hát:
Trên
một
chuyến
xe
đò
"lục
tỉnh"
về
miền
Tây,
cô
gái
tên
là Nguyễn
Thị
Bạch
Tuyết mơ
màng
ngủ
khi
tỉnh
giấc
thấy
mình
ngã
vào
vai
của
người
bạn
đường
ngồi
bên
cạnh
có
tên
là
"Trần
Trung
Dũng
tự
là
Hùng
Cường".
Họ
làm
quen
nhau,
đưa
nhau
qua
phà
Mỹ
Thuận,
theo
xe
về
Châu
Đốc
quê
Bạch
Tuyết.
Trước
khi
chia
tay,
chàng
trai
nói:
"Xin
phép
ghé
thăm
và
tặng
cô
một
món
quà".
"Món
quà
gì
vậy
anh?",
cô
gái
hỏi.
"Một
chiếc
xe
kết
đầy
hoa
trắng",
chàng
trai
trả
lời.
Để
rồi
Bạch
Tuyết
hát
câu
cuối
cùng
của
bài
hát:
"Cảm
ơn
anh.
Xe
hoa
em
đã
nhận
rồi,
người
tặng
chính
là
một
cầu
thủ
vang
danh".
Bài
hát
đã
dứt,
mà
thính
giả
còn
nghe
giọng
Hùng
Cường
kêu
với
theo:
"Trời
ơi!".
Đầu
năm
1971,
sau
khi
đã
quá
nổi
tiếng
với
tư
cách
một
cặp
diễn
hoàn
hảo,
ăn
khách
nhất
ở
Sài
Gòn,
Hùng
Cường
cùng
Bạch
Tuyết
tách
ra
lập
đoàn
cải
lương
riêng
cho
họ
mang
tên
"Đoàn
cải
lương
Hùng
Cường
-
Bạch
Tuyết".
Hùng
Cường
và
Bạch
Tuyết
không
có
đối
thủ
cạnh
tranh
với
tư
cách
đôi
nghệ
sĩ
biểu
diễn
trên
sân
khấu.
Nhưng
trong
vai
trò
quản
lý,
điều
hành
một
đoàn
hát
thì
họ
không
bằng
nhiều
"ông
bầu",
"bà
bầu"
có
"nanh
vuốt"
trên
đất
Sài
Gòn.
Chỉ
hơn
1
năm
sau
"liên
danh"
Hùng
Cường
-
Bạch
Tuyết
tan
rã.
Ý kiến bạn đọc