Sơ
lược
cốt
truyện:
Ông
giáo
Nguyễn
Văn
Hương
từ
Mỹ
Tho
được
đổi
về
dạy
học
tại
Vĩnh
Long.
Dù
đã
có
vợ
con
ở
tại
nguyên
quán,
ông
vẫn
dan
díu
với
một
bạn
đồng
nghiệp
là
cô
giáo
Lê
Thị
Lan
và
có
thêm
hai
mặt
con:
Lê
Thị
Trường
An
và
Lê
Long
Hồ.
Sau
đó
vì
việc
nhà
ông
phải
trở
lại
Mỹ
Tho
và
chiến
tranh
đã
làm
ông
mất
liên
lạc
với
gia
đình
người
vợ
thứ.
Hai
mươi
năm
sau,
ông
Hương
nay
là
cảnh
sát
trưởng
quận
9
tại
Sài
Gòn,
vẫn
thương
nhớ
người
vợ
lẽ
biệt
tăm,
sống
với
vợ
lớn
trong
một
gia
đình
không
được
êm
ấm.
Vợ
cờ
bạc
còn
con
trai
lớn,
Nhân,
chỉ
đua
đòi
ăn
chơi,
bỏ
bê
việc
học.
Nhân
không
bằng
lòng
với
cuộc
hôn
nhân
xếp
đặt
với
Kim
Hồng,
con
gái
ông
Sa,
người
bạn
thân
của
gia
đình.
Nhân
bắt
tình
với
Thoa,
trước
đây
là
thư
ký
riêng
của
ông
Sa.
Bà
Sa
biết
chồng
có
nhân
tình,
đến
đánh
ghen
bắt
được
quả
tang
ông
Sa
và
Thoa.
Ông
Hương
vì
nhiệm
vụ
phải
gác
tình
bạn,
thẩm
vấn
hai
bị
can.
Ông
khám
phá
ra
Thoa
chính
là
Lê
Thị
Trường
An,
con
gái
của
ông
nhưng
chưa
dám
nhận.
Hồ
đến
tìm
chị
tại
bót
cảnh
sát,
và
đã
tức
giận
bỏ
ra
về
sau
khi
biết
chị
là
một
cô
gái
giang
hồ.
Trường
An
đưa
ông
Hương
về
gặp
mẹ,
đang
bị
bệnh
nặng.
Vợ
chồng,
cha
con
trùng
phùng
trong
một
hoàn
cảnh
đầy
não
nùng,
đau
khổ.
Ông
Hương
nay
phải
đứng
trước
lương
tâm
chánh
trực
của
người
cầm
cân
nẩy
mực
và
hoàn
cảnh
xót
xa
của
một
người
cha.
Lúc
đầu
vở
tuồng
có
tên
là
Người
Đối
Diện
Lương
Tâm,
sau
đổi
là
Tuyệt
Tình
Ca
có
lẽ
vì
tên
nghe
ăn
khách
hơn.
Có
người
còn
gọi
là
Ông
Cò
Quận
9
nhưng
thật
ra
đó
chỉ
là
vai
diễn
của
nghệ
sĩ
Út
Trà
Ôn.
Ông
đã
quá
xuất
sắc
nên
khi
nhắc
đến
Tuyệt
Tình
Ca
là
người
ta
nhớ
ngay
đến
“Ông
Cò
Quận
9.”
Hoa
Phượng
thường
hay
viết
chung
với
Hà
Triều,
và
cặp
Bá
Nha,
Tử
Kỳ
này
của
sân
khấu
cải
lương
đã
cho
ra
đời
nhiều
vở
tuồng
bất
hủ
như
Nửa
Đời
Hương
Phấn,
Tấm
Lòng
Của
Biển,
Con
Gái
Chị
Hằng,
v.v.
nhưng
sau
đó
cặp
soạn
giả
thiên
tài
Hà
Triều
và
Hoa
Phượng
đã
tách
ra.
Hà
Triều
ở
lại
đoàn
Thanh
Minh
Thanh
Nga
còn
Hoa
Phượng
về
với
đoàn
Dạ
Lý
Hương.
Và
tuồng
Tuyệt
Tình
Ca
được
hai
soạn
giả
Hoa
Phượng
và
Ngọc
Ðiệp
(không
phải
Ngọc
Diệp
như
trên
bìa
in
DVD
Tuyệt
Tình
Ca
do
Thúy
Nga
phát
hành
tại
hải
ngoại)
hợp
tác
soạn
ra.
Vào
thời
đó
thủ
đô
Sài
Gòn
chỉ
được
chia
ra
làm
tám
quận.
Nếu
đặt
ông
Hương
vào
làm
cảnh
sát
trưởng
của
một
trong
tám
quận
thì
đụng
chạm
quá.
Rủi
ông
cảnh
sát
trưởng
nào
có
tật
giật
mình
lại
càng
nguy
hơn
nửa.
Bởi
vậy
nên
tuồng
hát
mới
có
quận
9.
Ai
dè
về
sau
Sài
Gòn
lại
có
đến
quận
11
nhưng
chánh
quyền
miền
Nam
cũng
dễ
dãi
nên
cứ
giữ
luôn.
Khi
trình
diễn
trên
sân
khấu
Dạ
Lý
Hương,
Bạch
Tuyết
thủ
vai
Lê
Thị
Trường
An,
Hùng
Cường
vai
Nhân,
Thanh
Sang
vai
Lê
Long
Hồ,
Tư
Rọm
vai
ông
Sa,
Mai
Lan
vai
bà
vợ
lớn
của
ông
Hương,
Hồng
Nga
vai
bà
Lê
Thị
Lan,
và
vai
quan
trọng
nhất
là
ông
cò
Hương
do
Út
Trà
Ôn
thủ
diễn.
Về
sau
khi
thu
dĩa
(hay
thu
băng),
vai
ông
Sa
do
Văn
Chung
đóng
và
Út
Bạch
Lan
thế
vào
vai
bà
Lan.
Tất
cả
các
diễn
viên
đều
rất
xuất
sắc
cả
trên
sân
khấu
lẫn
trong
băng,
dĩa.
Mỗi
người
mỗi
vẻ,
người
nào
cũng
đóng
tròn
vẹn
nếu
không
nói
là
tuyệt
vời
vai
trò
của
mình.
Văn
Chung
trong
dĩa
(băng)
tuy
có
cái
chất
“dê
xồm”
của
một
ông
chủ
mất
nết,
lợi
dụng
hoàn
cảnh
túng
ngặt
mà
đưa
đẩy
cô
thư
ký
Trường
An
sâu
vào
đường
sa
ngã
nhưng
cái
mĩa
mai
không
bằng
Tư
Rọm
khi
gặp
người
bạn
thân
và
cũng
là
ông
sui
hụt
trong
phòng
thẩm
vấn.
Có
lẽ
vì
Văn
Chung
đã
chuyển
sang
vai
hài
nên
chất
hài
thấm
nhập
nhiều
hơn
chăng?
Tư
Rọm
chuyên
về
các
vai
độc,
lưu
manh
nên
đoạn
đối
thoại
với
ông
cò
Hương
hay
hơn
chăng?
Tuy
nhiên
cái
khiếm
khuyết
nhỏ
đó
không
tạo
ra
một
tì
vết
nào
trong
sự
diễn
xuất
của
hai
nghệ
sĩ
lớn
nầy.
Vai
Nhân
của
Hùng
Cường
chỉ
là
vai
phụ
nhưng
anh
cũng
đóng
rất
trọn.
Thú
vị
nhất
là
cuộc
đối
thoại
lúc
anh
gặp
ông
Sa,
ông
cha
vợ
hụt,
ở
phòng
riêng
của
Thoa.
Vừa
dí
dỏm,
vừa
ngang
tàng.
Soạn
giả
đã
không
đào
sâu
thêm
vào
vai
trò
của
Nhân
trong
vở
tuồng
có
lẽ
để
tránh
một
taboo
là
sự
loạn
luân,
dù
không
cố
ý,
giữa
hai
anh
em
cùng
cha
khác
mẹ.
Và
cũng
tránh
cho
ông
cò
Hương
thêm
sự
đau
khổ
trước
khi
tuồng
hát
bước
vào
“emotional
climax”
là
cuộc
tái
ngộ
đầy
nước
mắt
với
bà
Lan.
Đây
là
một
điều
hay
vì
thêm
sự
dày
vò
cho
ông
Hương
lúc
nầy
sẽ
đưa
khán
giả
lên
đỉnh
cao
cảm
xúc
quá
sớm
và
hậu
quả
là
làm
giảm
bớt
cái
xúc
động
tràn
đầy
khi
cặp
vợ
chồng
cũ
gặp
lại
nhau
sau
hơn
hai
mươi
năm
cách
biệt.
Thanh
Sang
trong
vai
Lê
Long
Hồ
đã
rất
thành
công.
Đây
cũng
là
một
vai
đúng
ni
tấc
của
vở
tuồng.
Tôi
nhớ
lại
một
điều
thật
thú
vị
trong
lần
tuồng
Tuyệt
tình
ca
được
trực
tiếp
truyền
thanh
trên
đài
phát
thanh
Sài
Gòn.
Lúc
cậu
Hồ
gặp
chị
tại
bót
cảnh
sát,
cậu
đã
hỏi
một
cách
tự
nhiên:
“Tại
sao
chị
bị
bắt?
Chị
làm
tội
gì?
Có
làm
chánh
trị
không?”
Tới
đây
khán
giả
trong
radio
cười
rần
lên,
và
thính
giả
ở
ngoài
cũng
cười
vui
vẻ,
khoái
trá.
Thật
đáng
yêu
làm
sao
cái
tính
mộc
mạc,
hồn
nhiên
của
người
Sài
Gòn
thuở
đó.
Cậu
Hồ
thương
chị
lắm
nhưng
không
thể
chấp
nhận
việc
làm
tồi
bại
của
người
chị.
Tính
bộc
trực
đưa
đến
sự
bốc
đồng
không
suy
xét
khi
đòi
xé
bỏ
bằng
Tú
Tài
có
được
công
nuôi
dưỡng
và
đồng
tiền
của
chị.
Đứa
con
vô
cùng
hiếu
thảo
đã
suy
nghĩ
lại
sau
khi
nghe
lời
khuyên
của
mẹ.
Không
muốn
sự
giúp
đỡ
của
cha
để
tránh
thêm
bi
đát
cho
mẹ
mình
nhưng
không
nghĩ
rằng
điều
từ
chối
đó
có
thể
làm
mọi
người
càng
đau
khổ
thêm.
Cậu
Hồ
là
một
hình
ảnh
của
người
miền
Nam,
luôn
luôn
theo
trái
tim
trước
khi
dùng
đầu
óc.
Những
đoạn
rất
hay
là
khi
cậu
kể
lại
kỷ
niệm
ấu
thời
như
ngày
mẹ
dắt
con
đi
thi
và
nhất
là
“lúc
mới
hồi
cư,
người
ta
không
cho
má
đi
dạy
học,
nhà
mình
nghèo
má
phải
đi
bán
chuối
chưng.
Nhiều
bữa
trời
mưa
bán
ế,
thấy
tụi
con
ăn
chuối
thay
cơm,
má
cắn
môi
mặt
quay
vào
vách
cho
suối
lệ
tuôn
tràn.”
Đoạn
nầy
đã
làm
chảy
không
biết
bao
nhiêu
nước
mắt
của
những
người
dân
lam
lũ,
buôn
gánh
bán
bưng,
thấu
hiểu
vô
cùng
cảnh
tình
của
những
ngày
ế
ẩm.Giọng
ca
của
Thanh
Sang
không
có
được
cái
uyển
chuyển
như
Hữu
Phước,
Tấn
Tài
hay
cái
hùng
hồn,
bức
phá
của
Thành
Được,
Hùng
Cường
và
hình
như
lúc
nào
cũng
có
vẻ
buồn
rười
rượi.
Chính
vì
không
có
sự
cao
vút,
uyển
chuyển
đó
mà
ta
cảm
thông
hơn
với
cái
cơ
cực
và
nỗi
băn
khoăn
lo
lắng
của
cậu
Hồ
cho
người
mẹ
bất
hạnh.
Không
chát
chúa
khi
tức
giận
với
chị,
và
làm
mủi
lòng
người
nghe
khi
tâm
tình
với
mẹ.
Trong
làng
cải
lương
Việt
Nam
có
bao
nhiêu
giọng
ca
hay
hơn,
mùi
hơn
nhưng
có
lẽ
không
ai
diễn
tả
cậu
Lê
Long
Hồ
được
như
Thanh
Sang.
Trên
sân
khấu
Dạ
Lý
Hương,
Bạch
Tuyết
là
đào
chánh
thường
hay
đóng
cặp
với
Hùng
Cường.
Dù
có
nhiều
vai
nổi
bật
khác
nhưng
khi
nhắc
đến
Lê
Thị
Trường
An
là
khán
giả
cải
lương
đều
liên
tưởng
ngay
đến
Bạch
Tuyết.
Lê
Thị
Trường
An
do
Bạch
Tuyết
diễn
vẫn
chưa
tìm
được
người
thay
thế
hay
hơn.
Từ
sự
bướng
bỉnh
trong
lần
gặp
gỡ
ông
cò
Hương
lần
đầu
tiên
cho
đến
lúc
diễn
tả
nỗi
xấu
hổ
không
dám
khai
tên
cha
mẹ
ở
lúc
thẩm
cung.
“Ông
mà
nói
nữa
là
tôi
cắn
lưỡi
tự
tử
cho
ông
coi.”
Đau
đớn
cho
người
con
gái
hiếu
thảo
vì
cảnh
đời
nghiệt
ngã
mà
phải
lỡ
bước
sa
chân,
như
một
nàng
Kiều
tân
thời.
Xưa
bán
mình
chuộc
cha,
nay
bán
thân
lo
cho
mẹ
bệnh
và
nuôi
em
ăn
học.
Nhưng
khi
ông
cò
thẩm
vấn
thản
thốt
nói
đúng
tên
cha
và
mẹ,
cô
Lê
Thị
Trường
An-Bạch
Tuyết
đã
quỵ
xuống:
“Hồi
sáng
nầy...
bác
nói...
bác
có
quen
với
người
ở
Vĩnh
Long
mà!”
Giọng
diễn
tả
đầy
nước
mắt
của
nỗi
mừng
nhận
được
người
quen,
nỗi
lo
sợ
và
xấu
hổ
đã
làm
lấm
lem
danh
dự
cha
mẹ.
Bao
nhiêu
cái
cứng
rắn,
ngang
bướng
của
một
người
phải
tự
chống
chỏi
với
cuộc
đời
đen
bạc
nay
đã
hoàn
toàn
sụp
đổ
qua
câu
nói
ấy.
Và
không
phải
chỉ
ở
Trường
An
mà
ông
cò
Hương
cũng
bị
cuốn
theo
trong
nổi
đau
đớn.
Người
cha
trước
nỗi
bất
hạnh
của
“đứa
con
gái
mà
ngày
xưa
ảnh
cưng
như
ngọc
như
vàng
mà
ngày
nay
đã
quen
cùng
sương
gió”
cũng
chỉ
biết
cắn
răng
đau
khổ.
Ai
nở
lòng
trách
móc!
Ai
nở
tâm
làm
tình
làm
tội!
Từ
phút
nầy
về
sau,
tâm
hồn
của
ông
Hương
được
phơi
bày
rõ
ràng
hơn,
những
dằn
vật
của
lương
tâm
hiện
ra,
không
cần
dấu
diếm
ở
“đêm
đêm
nằm
trằn
trọc
một
mình
đối
diện
với
lương
tâm.”
Cho
đến
nay
chưa
ai
có
thể
diễn
tả
xuất
sắc
hơn
Bạch
Tuyết.
Từ
Phượng
Liên
khi
còn
trong
nước
cho
đến
Kim
Tuyến
sau
nầy
ở
hải
ngoại.
Vai
bà
Lê
Thị
Lan,
người
vợ
thứ,
chỉ
xuất
hiện
ngắn
ngủi
ở
màn
cuối
nhưng
có
thể
nói
là
một
vai
thật
nổi
bật,
gần
như
ngang
hàng
với
vai
Lê
Thị
Trường
An.
Nổi
bật
vì
đó
là
nguyên
nhân
mấu
chốt
của
những
ray
rức
mà
ông
cò
Hương
phải
chịu
đựng
bao
nhiêu
năm
qua.
Cuộc
chia
tay
tại
bến
sông
Mỹ
Thuận
vẫn
không
làm
phai
nhạt
được
tình
yêu
thắm
thiết
trong
lòng
hai
người.
Soạn
giả
đã
dựng
vai
bà
Lan
rất
hay
với
sự
thể
hiện
tánh
ý
thông
thường
của
người
phụ
nữ.
Bà
cũng
ghen
dù
chỉ
với
lời
trách
móc,
hờn
lẩy
ông
chồng:
“Nhưng
chồng
của
tôi
lại
quá
đỗi
bạc
tình
Về
với
vợ
lớn
rồi,
không
trở
lại
thăm
mẹ
con
tôi
....
Từ
Mỹ
Tho
xuống
Vĩnh
Long
chỉ
có
một
đoạn
đường
Tôi
chờ
đợi
mỏi
mòn,
anh
Hương
vẫn
không
thèm
xuống
Bỏ
tôi
lạc
lỏng,
giữa
chợ
đời
với
lũ
con
thơ
Sống
vất
vưởng
bơ
vơ,
với
cái
nghèo
bữa
đói
bữa
no.”
hay
khi
“kể
lể”
cho
chồng
nghe
nỗi
khổ
cực
đơn
độc
nuôi
con
“Ba
con
An
còn
nhớ
hôn,
ngày
xưa
thấy
tôi
cực
khổ
mình
thường
ví
tôi
với
loài
chim
dương
nga.”
Mình
thấy
không,
lúc
có
mình
tôi
còn
khổ
như
vậy
thì
lúc
mình
ra
đi
bỏ
mẹ
con
tôi,
tôi
còn
cực
nhọc
dường
nào.
Nhưng
mình
ơi,
trách
thì
trách
vậy
nhưng
lòng
tôi
vẫn
một
mực
với
mình.Tôi
vẫn
thương,
tôi
vẫn
yêu
mình
trong
suốt
mấy
chục
năm
dài.
Bao
nhiêu
nước
mắt
khán
giả
đã
đổ
ra
khi
nghe
cảnh
tình
vô
cùng
cảm
động
của
một
người
vợ
quá
thương
yêu
người
chồng
xa
cách
đến
độ
gìn
giữ,
tâng
tiu
từng
kỷ
niệm,
kỷ
vật
của
chồng:
“Đây,
bộ
bà
ba
lụa
lèo
mà
chồng
tôi
bận
hai
mươi
năm
về
trước
Lượt
sau
cùng
ảnh
bận
là
buổi
tối
mà
sáng
ra
ảnh
ra
bến
Mỹ
Thuận
để
về
tỉnh
Mỹ
Tho
Hơi
hám
của
chồng
tôi,
tôi
còn
giữ
tới
bây
giờ
Hễ
cứ
mỗi
lần
trở
xuân
Gợi
niềm
luyến
nhớ
bâng
khuâng
Hồi
xưa
ảnh
ra
đi
tôi
xếp
lại
y
trang
Để
khi
buồn
ôm
ấp
làm
vui
Tôi
luống
những
ngậm
ngùi
Nhớ
thương
chồng
tôi
vần
chừa
nguyên
vẹn
Bộ
bà
ba
kỷ
niệm,
tấm
mồ
hôi
của
ảnh
tới
bây
giờ”
Bởi
vậy
đừng
hỏi
tại
sao
mà
ông
Hương
không
thương,
không
nhớ?
Đừng
hỏi
tại
sao
mà
“Mỗi
khi
nhắc
đến
người
Vĩnh
Long
để
thương
để
nhớ
Ảnh
ngọt
ngào
dùng
ba
cái
tiếng
“má
con
An””
Ba
tiếng
“má
con
An”
đã
nói
lên
tấm
lòng
trìu
mến
của
người
chồng
dành
cho
người
vợ
thủy
chung.
Người
miền
Nam
nhà
quê
hay
gọi
vợ
hay
chồng
bằng
“má
thằng
Tèo,
ba
con
Tý”
hay
khi
trọng
tuổi
hơn
một
chút
“má
bầy
trẻ,
ba
xấp
nhỏ.”
Thật
tuyệt
vời
khi
tiếng
gọi
đằm
thắm
và
chân
thật
đó
được
soạn
giả
đặt
vào
miệng
của
ông
Hương.
Soạn
giả
đã
thiên
vị
thì
ta
chớ
thắc
mắc
khi
ông
Hương
gọi
người
vợ
lớn,
má
cậu
Nhân,
bằng
“bà”
nhưng
lại
ngọt
lịm
”má
con
An”
với
người
vợ
thứ.
Hỏi
làm
sao
mà
bà
vợ
lớn
lại
phải
trách:
“Trồng
trầu
thì
phải
khai
mương
Làm
trai
hai
vợ
mà
ông
thương
không
đồng
Chim
quyên
ăn
trái
nhản
lồng
Lia
thia
quen
chậu
mà
vợ
chồng
sao
ông
lại
quên
hơi”
Một
điều
rất
đặc
biệt
là
Út
Bạch
Lan
chỉ
thủ
vai
bà
Lan
thu
thanh
trong
dĩa
(hay
băng),
Hồng
Nga
thủ
vai
bà
Lan
trên
sân
khấu
và
trên
đài
truyền
hình
nhưng
nếu
nhắm
mắt
lại
để
thưởng
thức
thanh
âm
của
bà
Lan-Hồng
Nga
và
bà
Lan-Út
Bạch
Lan
ta
mới
thấy
tại
sao
có
sự
thay
đổi
khi
tuồng
hát
được
thu
thanh
lại.
Sự
chuyển
đổi
tuy
có
hơi
bất
công
với
Hồng
Nga
nhưng
rất
đúng,
rất
thích
hợp.
Một
sự
lựa
chọn
hoàn
hảo,
làm
tăng
thêm
giá
trị
của
một
vai
tuồng
vốn
dĩ
đã
xuất
sắc.
Qua
sự
diễn
tả
quá
tài
tình
của
Út
Bạch
Lan,
ngày
nay
nhiều
người
vẫn
lầm
tưởng
rằng
đó
là
vai
ruột
của
cô
trên
sân
khấu.
Sau
nầy
cô
có
đóng
vai
bà
Lan
trên
sân
khấu,
được
trung
tâm
Thúy
Nga
phát
hành
trên
DVD
tại
hải
ngoại.
Tôi
chưa
được
xem
nên
không
có
ý
kiến
tại
đây
nhưng
đó
là
một
vấn
đề
khác
mà
tôi
có
thể
nói
đến
trong
một
lần
sau.
Hồng
Nga
diễn
vai
bà
Lan
rất
hay
nhưng
giọng
ca
của
cô
hơi
khàn,
không
có
được
cái
êm
dịu,
ngọt
ngào,
mùi
mẩn
của
Út
Bạch
Lan.
Chất
giọng
của
Hồng
Nga
thích
hợp
hơn
với
các
vai
bị
đè
ép,
uất
hận,
đau
khổ
kêu
gào
đòi
hỏi
(công
lý)
hơn
là
một
đào
thương.
Bà
Lan
trước
kia
là
một
cô
giáo
nên
người
nghe
thường
theo
cliché
cho
là
bà
phải
có
một
giọng
êm
đềm,
dịu
dàng
hơn
dù
rằng
không
có
bằng
chứng
nào
cho
thấy
rằng
các
cô
giáo
đều
phải
có
giọng
êm
đềm,
dịu
dàng
cả.
Giọng
cô
Út
Bạch
Lan
đã
vô
cùng
khích
khao
vào
cliché
đó.
Ngoài
ra
vào
thời
điểm
đó,
nhân
vật
Lê
Thị
Lan
chỉ
vào
khoảng
trung
tuần
40,
và
ông
Hương
chừng
50
tuổi
nhưng
giọng
của
Hồng
Nga
lại
già
trước
tuổi,
hơi
khó
thuyết
phục
người
nghe.
Trong
khi
đó
giọng
Út
Bạch
Lan
tuy
đằm
thắm,
nhẹ
nhàng
hơn
nhưng
không
kém
phần
cay
đắng,
diễn
tả
hoàn
toàn
nổi
lòng
đau
khổ
của
một
người
đàn
bà
quá
thương
chồng,
phải
chịu
đựng
trong
kiếp
“làm
thân
vợ
bé,
chồng
đã
bỏ
về
với
vợ
lớn
phải
vất
vả
nuôi
con
mà
bia
đời
còn
nguyền
rủa.”
Mối
quan
hệ
tuy
bất
chánh
nhưng
không
ai
đành
lòng
trách
cứ
mà
cứ
“xót
thương
cho
một
kiếp
hồng
nhan
khổ
lụy
vì
tình.”
Thính
giả
tuy
không
nhìn
thấy
nhưng
cũng
nín
thở,
hồi
hộp
chờ
đợi
như
cùng
bà
Lan
nhìn
vào
người
đàn
ông
đối
diện:
"Chiếc
cà
rá
ấy...
bàn
tay...
và
mùi
thơm
da
thịt
của
chồng
tôi
Đây
là
ánh
mắt...”
Và
nước
mắt
của
nhiều
người
đã
tuôn
rơi
khi
bà
Lan-Út
Bạch
Lan
kêu
lên
tiếng “Mmmmình!” trong
nghẹn
ngào
nức
nở.
Đây
là
một
trong
những
đoạn
bất
hủ
của
cải
lương
Việt
Nam.
Có
lẽ
vì
Út
Bạch
Lan
là
cô
đào
thương
thượng
hạng
nên
tiếng
khóc
của
cô
nghe
quá
tự
nhiên
và
sao
mủi
lòng
quá.
Có
thể
nói
rằng
từ
trước
đến
nay
trên
sân
khấu
cải
lương
Việt
Nam
chưa
có
cô
đào
thương
nào
khóc
mùi
mẫn,
khóc
não
nuột,
khóc
bi
thiết
như
Út
Bạch
Lan.
Danh
hiệu
“sầu
nữ”
mà
báo
chí
và
khán
giả
cải
lương
tặng
cho
cô
thật
là
đúng,
thật
là
hay.
Trong
lãnh
vực
phim
ảnh
thế
giới,
có
những
vai
“để
đời”
đã
tạo
cho
người
được
may
mắn
thủ
diễn
một
vinh
dự
bất
tử
trong
lòng
khán
giả
mộ
điệu.
Không
ai
có
thể
quên
được
Vivien
Leigh
trong
vai
Scarlet
O’Hara
của
Gone
With
the
Wind,
Audrey
Hepburn
với
vai
công
chúa
Ann
trong
Roman
Holiday
và
nhất
là
Marlon
Brando
xuất
thần
trong
vai
Vito
Corleone
của
The
Godfather.
Sân
khấu
cải
lương
Việt
Nam
cũng
có
những
trường
hợp
tương
tự:
Út
Bạch
Lan
vai
Hương
trong
Nửa
đời
hương
phấn,
Hữu
Phước
vai
cậu
Tư
Kiên
trong
Con
gái
chị
Hằng,
Thành
Được
vai
tướng
cướp
Thi
Đằng
trong
Tiếng
hạc
trong
trăng,
Việt
Hùng
vai
Thân
trong
Đoạn
tuyệt,
v.v.
Tuy
nhiên,
nổi
bật
nhất
vẫn
là
Út
Trà
Ôn
trong
vai
ông
giáo/ông
cò
Nguyễn
Văn
Hương
trong
vở
tuồng
Tuyệt
tình
ca.
Ông
diễn
hay
và
nhập
vai
đến
độ
sau
này
mọi
người
đều
gọi
ông
là
ông
cò
quận
9.
Nhắc
đến
Út
Trà
Ôn
là
phải
nhắc
đến
ông
cò
quận
9
và
ngược
lại.
Sau
này
tại
hải
ngoại,
vì
nhu
cầu,
vai
này
đã
được
Việt
Hùng
thủ
diễn
trong
một
băng
video
vào
thập
niên
80,
và
Thành
Được
trong
một
trích
đoạn
trên
băng
nhạc
Thúy
Nga
nhưng
cả
hai
nghệ
sĩ
lớn
này
vẫn
không
thể
thay
được
một
Út
Trà
Ôn
hoàn
hảo.
Cứ
thử
xem
hay
nghe
cảnh
mùi
mẫn
và
bi
ai
nhất
của
tuồng
hát
là
lúc
ông
Hương
gặp
lại
bà
Lan
là
ta
đủ
thấy
sự
xuất
sắc
của
Út
Trà
Ôn
và
tất
cả
những
lời
khen
tặng
dành
cho
ông
không
phải
là
quá
đáng.
Việt
Hùng
có
tuổi
tác
hợp
với
vai
nhưng
ông
chưa
bao
giờ
là
một
kép
ca
mùi
nhất
là
không
thể
bằng
Út
Trà
Ôn,
người
được
mệnh
danh
là
Vua
Vọng
Cổ.
Khi
đóng
trích
đoạn
đã
nói
trên
với
Phượng
Liên,
Thành
Được
đã
qua
thời
vàng
son,
không
còn
chất
giọng
để
gánh
vác
được
những
xúc
động
của
vai
trò
trong
lúc
đó.
Một
phần
vì
khi
trình
diển
trích
đoạn
mà
thường
là
các
đoạn
chánh
của
vở
tuồng,
diễn
viên
bị
đưa
vào
ngay
trên
đỉnh
cao
cảm
xúc
của
nhân
vật
mà
không
có
thời
giờ
nhập
vai
như
lúc
trình
diễn
nguyên
tuồng
hát.
Khuyết
điểm
này
thường
thấy
nhất
là
ở
các
vai
mà
diễn
viên
chưa
từng
diễn
qua
lần
nào.
Út
Trà
Ôn
được
may
mắn
là
vai
ông
cò
quận
9
đến
đúng
vào
lúc
tuổi
đời
tương
xứng
với
vai
trò,
giọng
ca
vẫn
còn
đang
độ
ở
hàng
đầu
của
sâu
khấu
cải
lương
miền
Nam.
Út
Trà
Ôn
không
phải
là
kép
đẹp
như
Hùng
Cường,
Thành
Được,
Dũng
Thanh
Lâm
nhưng
ông
có
vóc
dáng
khá
oai
vệ
của
một
ông
Cảnh
sát
trưởng
nhưng
không
đến
độ
quá
“ngầu”
hay
“lạnh
như
tiền”
nên
người
xem
cảm
thông
ngay
được
với
những
nỗi
khổ
nội
tâm
của
ông
trong
suốt
vở
tuồng.
Đúng
là
chỉ
có
Út
Trà
Ôn
mới
diễn
được
một
cách
hoàn
toàn
ông
cò
quận
9.
Không
phải
các
nghệ
sĩ
khác
không
thể
diễn
được
nhưng
chắc
chắn
không
ai
bằng
được
Út
Trà
Ôn.
Thử
tưởng
tượng
Hùng
Cường
(lúc
đó
cũng
là
kép
chánh
của
đoàn
Dạ
Lý
Hương)
hay
Hữu
Phước
trong
bộ
áo
ông
cò
thì
ta
sẽ
thấy
sự
hợp
lý
trong
việc
chọn
Út
Trà
Ôn
vào
vai
ấy.
Như
đã
nói
trên,
vở
tuồng
trước
được
đặt
tên
là
Người
Đối
Diện
Lương
Tâm.
Tên
Tuyệt
Tình
Ca
có
mùi
mẫn
và
đầy
chất
cải
lương
hơn
thật
nhưng
theo
tôi,
“Người
Đối
Diện
Lương
Tâm”
diễn
tả
đúng
đắn
hơn
cốt
truyện
và
tâm
lý
nhân
vật.
Phân
tích
kỷ,
ta
thấy
rằng
vai
ông
giáo
và
sau
này
là
ông
cò
Nguyễn
Văn
Hương
là
vai
chánh
độc
nhất
của
vở
tuồng.
Các
vai
khác
như
Nhân,
Lê
Thị
Trường
An,
Lê
Long
Hồ
hay
bà
Lê
Thị
Lan
tuy
đôi
lúc
có
bật
sáng
trong
các
màn
diễn
hoặc
có
những
thời
khắc
đáng
kể
trên
sân
khấu
nhưng
vẫn
là
các
vai
“vệ
tinh”
(satellite)
xoay
quanh
ông
Hương.
Ông
Hương
là
chủ
chốt,
là
xương
sống
của
vở
tuồng.
Không
có
ông,
không
vai
tuồng
nào
có
thể
đứng
đơn
độc
được.
Nói
theo
giọng
kiếm
hiệp
thì
nhân
vật
ông
Hương
đều
có
ân
oán
giang
hồ
với
tất
cả
mọi
người
và
bởi
vì
vậy
mà
ông
là
người
cô
đơn,
đau
khổ
nhất
của
vở
tuồng.
Với
vợ
lớn,
ông
là
một
người
chồng
thiếu
sót.
Với
các
con
giòng
lớn
như
Nhân,
ông
thiếu
bổn
phận
đến
độ
“thằng
Hiếu”
phải
chết
trong
lúc
ông
đang
ấm
êm
bên
cạnh
bà
thứ
và
Nhân
thì
bê
tha,
lêu
lỏng.
“Tao
làm
cò,
má
mày
chứa
cờ
bạc
còn
mấy
muốn
làm
du
đảng
phải
không?”
Với
ông
Sa,
ông
bị
bứt
rứt
giữa
tình
cảnh
bè
bạn
chí
thân,
bổn
phận
của
người
thi
hành
pháp
luật
và
oái
oăm
nhất
là
giữa
vai
trò
người
cha
với
người
bạn
thân
nhưng
nay
là
kẻ
dụ
dỗ
đứa
con
gái
của
mình.
Với
bà
Sa,
ông
bị
phân
chia
giữa
bè
bạn
ân
nhân
và
lương
tâm
phận
sự.
Với
Lê
Long
Hồ,
ngoài
những
ray
rứt
của
người
cha
đã
ra
đi
khi
con
trai
còn
nhỏ
phải
để
cho
bà
vợ
lo
lắng
trong
hoàn
cảnh
thiếu
hụt
trăm
bề,
ông
còn
phải
đối
phó
với
tính
cương
trực
của
cậu
con
nay
mong
ông
hảy
để
yên,
đừng
gặp
lại
mẹ
cậu,
người
vợ
thứ.
Với
Lê
Thị
Trường
An,
ngoài
những
khiếm
khuyết
trách
nhiệm
của
một
người
cha
mà
ông
đã
phải
lãnh
lấy
hậu
quả
khi
đứa
con
gái
sa
chân
vào
đường
tội
lỗi,
ông
còn
phải
đối
diện
với
lương
tâm
của
một
người
cha
và
lương
tâm
của
một
ông
Cò.
Chẳng
trách
chi
mà
ông
Hương
cứ
“đêm
đêm
nằm
trằn
trọc
một
mình
đối
diện
với
lương
tâm.”
Cuối
cùng
dù
xót
xa
nhưng
trách
nhiệm
với
công
chúng,
pháp
luật
vẫn
nặng
hơn
trách
nhiệm
và
tình
thương
của
một
người
cha.
Với
bà
Lan,
người
vợ
thứ,
hình
ảnh
đã
theo
đuổi
ông
trong
bao
nhiêu
năm
xa
cách,
tình
yêu
của
ông
không
mờ
nhạt,
vẫn
như
ngày
còn
sống
chung:
“Nỗi
nhớ
thương
dằng
dặc
suốt
hai
mươi
năm
dài,
Ra
bờ
sông
đứng
lặng
mỗi
ngày”
Và
sự
hối
hận
dày
vò
của
ông
đã
thể
hiện
ngay
từ
màn
đầu
của
tuồng
hát
khi
ông
phân
vân
với
người
vợ
lớn
“Mỗi
lần
thấy
bông
ô
môi
điểm
hồng
trong
gió
chướng,
mỗi
lần
nghe
tiếng
quết
bánh
phồng
rộn
rả
đón
xuân
sang.
Mỗi
lần
có
dịp
về
Vĩnh
Long,
đi
ngang
Tân
Ngãi
thấy
nhà
chợ
Trường
An
là
mỗi
lần
tôi
nhớ
đến
mùa
xuân
của
đầu
năm
binh
lửa.
Nhớ
đến
dáng
người
vợ
trẻ
đã
chèo
xuồng
qua
sông
Mỹ
Thuận
để
đưa
tôi
rời
tỉnh
Long...
Hồ”
...
“
Phải
đâu
khi
thuyền
vừa
tách
bến
sông
là
tôi
đã
chấm
dứt
tình
thâm
phụ
tử.”
...
“Chỉ
tội
nghiệp
cho
hai
đứa
kia
Không
biết
nó
sống
chết
ra
sao
Sống
có
được
ấm
no
Chết
có
được
yên
mồ
mã
Trong
khi
ba
của
nó
lên
xe
xuống
ngựa
Một
cũng
ông
Cò,
hai
cũng
ông
Cò
Ôi,
ông
Cò
cũng
là
người
cầm
cân
nẩy
mực
nhưng
đối
với
các
con
tôi
lại
có
sự
bất
công
Quận
này
tôi
có
trách
nhiệm
vụ
giữ
trật
tự
an
ninh
mà
trong
lòng
tôi
lại
không
có
an
ninh
trật
tự.”
Tâm
lý
nhân
vật
được
phơi
bày
rõ
ràng
ra
cho
khán
giả
xem
ngay
từ
lúc
ấy.
Tất
cả
các
diễn
biến
về
sau
đều
xoay
quanh
những
cấu
xé
nội
tâm
đó.
Soạn
giả
đã
đưa
người
thưởng
thức
vào
cảm
xúc
của
vỡ
tuồng
qua
nội
tâm
của
ông
Hương
từ
cuộc
ghen
tương
của
bà
vợ
lớn,
đến
lần
đầu
gặp
cô
Thoa,
sang
cuộc
thẩm
cung
Lê
Thị
Trường
An,
và
đến
đỉnh
cao
nhất
là
cuộc
tái
ngộ
đầy
nước
mắt
giữa
ông
và
bà
Lan.Và
ông
lại
phải
thêm
một
lần
đối
diện
đau
xót
với
lương
tâm.
Tuyệt
Tình
Ca
là
một
tuồng
cải
lương
với
một
đoạn
kết
không“có
hậu”
(happy
ending)
nhưng
cũng
không
đến
độ
bi
thảm.
Một
kết
cục
lơ
lửng,
cho
khán
giả
cái
cảm
tưởng
như
mới
chỉ
xem
được
phân
nửa
tuồng
hát
nhưng
vẫn
không
khiến
người
xem
tức
anh
ách
mà
chửi
soạn
giả
là
“thứ
đồ
chết
gian,
vô
duyên,
lảng
nhách.”
Cái
tài
tình
của
soạn
giả
là
ở
đó.
Cái
hay
là
tất
cả
mọi
người
đều
thỏa
mãn
nhưng
vẫn
còn
phải
tự
hỏi:
“Rồi
sao
nữa?”
Chồng
vợ
cha
con
đã
gặp
lại
nhau
sau
bao
nhiêu
năm
ly
biệt
nhưng
rồi
sao
nữa?
Ông
Hương
sẽ
giải
quyết
ra
sao
về
tình
trạng
song
hôn
của
ông?
Ông
sẽ
ăn
nói
ra
sao
với
người
vợ
lớn?
Chuyện
tình
của
ông
và
bà
Lan
vẫn
không
được
giải
quyết
dứt
khoát.
Chỉ
biết
là
ông
sẽ
còn
gặp
gỡ
bà
Lan
nữa
để
“thủng
thỉnh
rồi
tôi
sẽ
nói
cho
mình
nghe”
chuyện
của
cô
An.
Cô
An
có
bị
vào
tù
không?
Bên
nguyên
đơn
(vợ
ông
Sa)
có
chịu
bãi
nại
không?
Với
địa
vị
và
lương
tâm
của
một
người
giữ
trật
tự
an
ninh
thì
ông
Hương
sẽ
xử
sao
để
tránh
việc
“trong
lòng
lại
không
có
an
ninh
trật
tự”?
Và
cuộc
đời
cô
An
sẽ
ra
sao?
Còn
rất
nhiều
câu
hỏi
cần
phải
trả
lời
nhưng
soạn
giả
cứ
lờ
đi
và
để
khán
giả
ra
về
với
bao
nỗi
thắc
mắc
trong
lòng.
Thật
ra
thì
làm
sao
có
một
kết
cuộc
thỏa
đáng
cho
tất
cả
mọi
người,
nhất
là
về
mặt
tình
cảm
giữa
ông
Hương
và
bà
Lan.
Không
lẽ
cho
hai
người
tái
hợp?
Không
được,
vì
vừa
không
hợp
tình
với
bà
lớn
lại
chẳng
hợp
lý
với
pháp
luật
khi
chính
ông
là
một
người
cảnh
sát
trưởng.
Buộc
họ
phải
xa
nhau
lần
nữa
ư?
Nhẫn
tâm
quá.
Hai
người,
nhất
là
bà
Lan,
chưa
đủ
khổ
hay
sao?
Nếu
soạn
giả
dám
cho
kết
cục
“thất
nhân
tâm”
kiểu
nầy
thì
thế
nào
có
ngày
hai
ông
cũng
bị
mấy
bà
già
trầu
xán
guốc
lên
đầu.
Các
ông
soạn
giả
hiểu
tâm
lý
quý
bà
quá
nên
ngừng
ở
đây
là
phải.
Ai
muốn
vở
tuồng
kết
thúc
ra
sao
thì
tự
mình
thêm
vào
cái
kết
cục
riêng
như
mình
mong
muốn.
Hai
đứa
tôi
(soạn
giả)
đã
hoàn
thành
nhiệm
vụ
lấy
hết
nước
mắt
của
các
bà,
nay
xin
phép
rút
lui.
Bà
nào
có
chồng
theo
vợ
bé
muốn
trả
thù
thì
cứ
cho
bà
Lan
lui
đi,
hay
để
cậu
Hồ
ngăn
cha
đến
gặp
hoặc
nặng
hơn
nữa
là
cho
bà
Lan
chết
vì
căn
bệnh
trầm
kha
hết
thuốc
chữa,
bình
oxygen
hết
khí
không
kịp
mua.
Còn
bà
nào
“cảm
thương
một
kiếp
hồng
nhan
khổ
lụy
vì
tình”
thì
cứ
để
ông
Hương
tiếp
tục
đến
gặp
bà
Lan
dài
dài,
hay
nếu
độ
lượng
hơn
thì
cho
bà
vợ
lớn
đón
bà
thứ
về
ở
chung
luôn
như
trong
tuồng
Lấy
chồng
xứ
lạ.
Một
kiểng
hai
quê
như
truyện
Tàu.
Nhất
gia
đoàn
tụ.
Một
vài
điều
thú
vị
trong
vở
hát:
Các
bạn
hãy
nghe
trong
màn
đầu
khi
bà
Sa
đến
nhờ
ông
cò
Hương
can
thiệp:
Ông
Hương:
“Quận
nầy
mới
thành
lập,
tôi
phải
trừ
đi
cho
tuyệt,
cái
nạn
cờ
bạc
mải
dâm”
Bà
Sa:
“Chú
mà
trừ
được,
thì
tôi
xin
bái
phục”
Lời
tiên
tri
cho
đến
nay
vẫn
còn
hiệu
lực!
Có
lần
tôi
đọc
được
trên
một
bài
báo
tại
hải
ngoại,
tác
giả
dẩn
chứng
một
câu
ca
dao:
“Ví
dầu
cầu
ván
đóng
đinh
Cầu
tre
lắc
lẻo
gập
ghình
khó
đi
Khó
đi
mẹ
dắt
con
đi
Con
thi
trường
học,
mẹ
thi
trường
đời”
Tôi
thích
thú
vì
chắc
có
lẽ
tác
giả
đã
bị
lậm
nặng
tuồng
Tuyệt
Tình
Ca
nên
đã
trích
dẫn
một
câu
hò
trong
tuồng
hát
nhưng
lầm
tưởng
là
câu
ca
dao.
Đó
là
lúc
cậu
Hồ
nói
chuyện
với
mẹ
nhắc
lại
thời
niên
thiếu,
người
mẹ
dẫn
đứa
con
trai
nhỏ
đi
thi
trong
buổi
sớm
tinh
sương
trên
con
đường
lộ
đất,
xa
xa
có
tiếng
người
hát
ru
con
bằng
câu
ca
ấy.
Câu
ca
dao
đúng
phải
là:
“Ví
dầu
cầu
ván
đóng
đinh
Cầu
tre
lắc
lẻo
gập
ghình
khó
đi
Khó
đi
mượn
chén
ăn
cơm
Mượn
ly
uống
rượu
mượn
đờn
kéo
chơi”
nói
lên
bản
tánh
hiếu
khách
của
người
miền
Nam.
Một
chi
tiết
nhỏ
nhưng
lý
thú
về
diễn
viên
của
tuồng
Tuyệt
Tình
Ca:
Phượng
Liên
là
cô
đào
độc
nhất
thủ
cả
hai
vai
con
và
mẹ
trong
vở
hát.
Lê
Thị
Trường
An
trong
DVD
Tuyệt
Tình
Ca
do
Thúy
Nga
phát
hành
và
bà
Lê
Thị
Lan
trong
trích
đoạn
đã
nói
với
Thành
Được.
Một
điều
thường
thấy
ở
các
vở
hát
và
phim
ảnh
là
sự
lẫn
lộn
về
thời
gian
tính.
Tuyệt
Tình
Ca
dù
hoàn
hảo
về
mặt
tình
tiết
cũng
không
tránh
khuyết
điểm
này.
Điển
hình
là
cuộc
chia
tay
giữa
ông
Hương
và
bà
Lan
trên
bến
sông
Mỹ
Thuận.
Chắc
các
bạn
còn
nhớ
bà
Lan
tâm
sự:
“Đây,
bộ
bà
ba
lụa
lèo
mà
chồng
tôi
bận
hai
mươi
năm
về
trước
Lượt
sau
cùng
ảnh
bận
là
buổi
tối
mà
SÁNG
ra
ảnh
ra
bến
Mỹ
Thuận
để
về
tỉnh
Mỹ
Tho”
Và
ông
Hương
đã
nói:
“Tôi
đang
đứng
trước
mặt
mình
đây.
Tôi
đứng
đây
mà
tưởng
như
đang
đứng
trên
bờ
sông
Mỹ
Thuận,
khi
mình
quay
xuồng
tách
bến
để
trở
lại
với
hai
con.
Bờ
cây
xa
mờ
nhuộm
khói
HOÀNG
HÔN,
con
nước
lớn
lục
bình
trôi
rời
rạt.
CHIỀU
đã
xuống
mặt
trường
giang
bát
ngát
mà
bóng
người
thương
lẩn
khuất
giữa
sông…
đầy.”
Bà
nói
ông
đi
buổi
sáng,
ông
nói
ông
đi
Tác
giả
bài
viết:
tancogiaoduyen
Nguồn
tin:
CNCLBS
Ý kiến bạn đọc