Từ
năm
1990,
sân
khấu
cải
lương
mất
dần
khán
giả
vì
không
có
tuồng
mới,
tuồng
do
cán
bộ
văn
nghệ
của
Sở
VHTT
và
của
Hội
Sân
khấu
sáng
tác
theo
định
hướng
chính
trị
của
đảng
không
được
khán
giả
tán
thưởng
nên
nhiều
đoàn
hát
tập
thể
như
đoàn
cải
lương
Saigon1,
2,
3,
đoàn
Hương
Mùa
Thu,
đoàn
Thanh
Nga,
đoàn
Phước
Chung,
đoàn
Huỳnh
Long,
đoàn
Minh
Tơ..
phải
chịu
rã
gánh.
Sở
VHTT,
Hội
Sân
Khấu
nghĩ
là
muốn
vực
dậy
sân
khấu,
phải
làm
theo
như
các
nghệ
sĩ
xưa
đã
làm.
Họ
cho
là
«đàn
ca
tài
tử
»
thu
hút
khách
mộ
điệu
nên
phát
triển
thành
Carabộ
rồi
tiến
dần
thành
ra
sân
khấu
cải
lương.
Sân
khấu
cải
lương
trước
năm
1975,
ở
miền
Nam
có
hơn
sáu
chục
đoàn,
nghệ
sĩ
có
hàng
ngàn
và
hát
đêm
nào,
rạp
cũng
đông
nghẹt
khán
giả.
Vậy
nên
muốn
vực
dậy
sân
khấu
cải
lương
thì
phải
làm
cho
phong
trào
đàn
ca
tài
tử
phát
triển
đến
các
làng,
xã,
phường,
khóm...
ở
các
cuộc
lễ,
đám
cưới,
đám
ma,
họp
bạn
hay
các
buổi
trà
dư
tửu
hậu,
đàn
ca
tài
tử,
nhứt
là
ca
vọng
cổ
là
một
sinh
hoạt
văn
nghệ
không
thể
thiếu.
Từ
lập
luận
đó
mới
có
Chương
trình
Vầng
Trăng
Cổ
Nhạc
ỏ
khu
giải
trí
Đầm
Sen
-
quận
11,
chương
trình
Đêm
Rầm
Ca
Hát
ở
khu
dưỡng
lão
nghệ
sĩ
-
quận
8,
chương
trình
Tuyển
Giọng
ca
Vàng
Vọng
Cổ
của
Nhà
Hát
Trần
Hữu
Trang,
thi
tuyển
chọn
Chuông
Vàng
Vọng
Cổ
ở
Đài
Truyền
Hình,
Đài
Phát
Thanh.
Từ
năm
1990
đến
nay
04
/
2016,
hai
mươi
lăm
năm
qua,
chuông
vàng
vọng
cổ
tuyển
chọn
được
nhiều,
nhưng
không
làm
cho
sân
khấu
cải
lương
có
thêm
sinh
khí.
Nhà
cầm
quyền
lại
dùng
đến
chiêu
:
cuộc
thi
«
giọng
ca
cải
lương
»
cho
người
cao
tuổi
(
đợt
1)
(
sinh
năm
1961
trở
về
trước
)
Thí
sinh
55
tuổi,
Huỳnh
Thị
Phương
Thúy
được
hạng
nhứt
trên
Đài
Tiếng
Nói
ND
TP
HCM
).
6
gương
mặt
xuất
sắc
được
lựa
chọn
từ
hơn
200
thí
sinh
tham
gia,
tuổi
đời
từ
55
đến
61,
đặc
biệt
có
bà
Nguyễn
Hữu
Huệ
85
tuổi
người
Bến
Tre.
Đã
hơn
25
năm
tổ
chức
thi
tuyển
chọn
huy
chương
vàng
vọng
cổ,
những
nghệ
sĩ
đoạt
huy
chương
vàng
vọng
cổ
đều
không
có
sắc
thái
riêng
biệt,
nếu
người
nghe
không
nhìn
thấy
người
ca
thì
không
phân
biệt
được
giọng
ca
đó
là
giọng
của
n/s
Võ
Minh
Lâm
hay
của
Nguyễn
Thanh
Toàn.
Các
nghệ
sĩ
huy
chương
vàng
vọng
cổ
này
cũng
không
tạo
được
ảnh
hưởng
gì
đối
với
tuồng
hát
hay
đoàn
hát.
Trước
năm
1975,
khi
nghe
nghệ
sĩ
ca
trên
mặt
dĩa
nhựa
hay
trên
đài
phát
thanh,
không
cần
thấy
mặt,
thính
giả
cũng
nhận
ra
giọng
ca
đó
là
của
Út
Trà
Ôn,
hay
Hữu
Phước,
hay
Thành
Được,
hay
Minh
Cảnh,
Tấn
Tài...Giọng
ca
nữ
cũng
vậy,
nữ
nghệ
sĩ
Thanh
Hương
có
giọng
ca
của
Thanh
Hương,
n/s
Út
Bạch
Lan
có
giọng
đặc
biệt
của
Út
Bạch
Lan,
khi
nghe
nam
hay
nữ
nghệ
sĩ
danh
ca,
thính
giả
không
lẫn
lộn
giọng
ca
của
danh
ca
này
thành
giọng
của
danh
ca
khác.
Mỗi
người
có
một
giọng
nói
khác
nhau.
Nghệ
sĩ
cũng
không
ngoại
lệ
nhưng
nghệ
sĩ
tập
luyện,
biết
cách
làm
cho
giọng
nói,
giọng
ca
tăng
thêm
âm
lượng,
truyền
cảm
hơn,
đi
sâu
vào
lòng
người.
Ngoài
ra
còn
có
kỹ
thuật
ca
vững
nhịp,
hiểu
biết
và
có
tài
thể
hiện
các
thể
loại
ca,
ngâm,
hò,
lý,
các
làn
điệu
Xuân,
Ai,
Bắc,
Oán
trong
câu
ca
vọng
cổ.
Ca
chân
phương,
rõ
lời,
luyến
láy
đúng
chổ,
không
tùy
tiện
uốn
éo
để
tạo
nét
lạ,
không
hú
lớn
hét
to,
không
có
ca
có
kệ
như
kêu
lô
tô,
không
nhừa
nhựa
như
tụng
kinh
Phật,
không
vô
đầu
câu
vọng
cổ
cả
trăm
chữ
không
ngừng
nghĩ,
không
ngắt
câu
theo
ngữ
pháp.
Thập
niên
30
,
thời
kỳ
đàn
ca
tài
tử
còn
đờn
hát
phụ
họa
cho
các
buổi
«
hát
bóng
»,
giúp
vui
thực
khách
tại
các
quán
ăn,
nhà
hàng
đến
lúc
phát
triển
thành
Ca
ra
Bộ
và
hình
thành
loại
hình
hát
sân
khấu
cải
lương
qua
các
gánh
hát
Nam
Đồng
Ban,
Huỳnh
Kỳ,
Trần
Đắc,
Tập
Ích
Ban,
các
danh
ca
nữ
được
ái
mộ
có:
cô
Ba
Đắc,
Ba
Định,
Hai
Nhiễu,
Hai
CÚc,
Bảy
Ngọc,
Bảy
Lung,
Tám
Sâm,
Ba
Diêu…
Cô
Ba
Đắc :
biết
đủ
các
loại
bài
bản
cổ
điển.
Cô
ca
rất
hay
các
điệu
Oán
(
bài
Tứ
Đại
Oán :
Bùi
KIệm
ghẹo
Nguyệt
Nga
),
Cô
Ba
Đắc
ca
thính
phòng
ở
Nhà
hàng
Minh
Tân
Khách
Sạn
ngang
ga
xe
lửa
MỹTho
–
Saigon,
Rạp
hát
bóng
Casino
MỹTho
(
sau
thành
rạp
hát
cải
lương
Thầy
Năm
Tú
),
nhà
hàng
Cửu
Long
Giang
Saigon
đường
Espagne
sau
là
đường
Lê
Thánh
Tôn.
Cô
ca
bài
«
Bùi
Kiệm
ghẹo
Nguyệt
Nga
»
với
một
giọng
điệu
như
có
đối
đáp
nghe
rất
duyên
dáng.
Cô
Bảy
Ngọc
sau
này
qua
sân
khấu
cải
lương
đổi
tên
là
Cô
Bảy
Vĩnh
Long,
nổi
tiếng
với
bài
Hành
Vân
«
Nợ
duyên
gì
là
cái
nợ
duyên
gì
»
trên
sân
khấu
của
rạp
ông
Trần
Văn
Thiệt
ở
VĨnh
Long
khi
cô
đi
hát
cho
gánh
XIếc
–
Ca
Ra
Bộ
Thái
Anh
Tinh
ở
Long
Hồ.
Thập
niên
40,
50,
khởi
điểm
của
thời
vàng
son
của
sân
khấu
cải
lương
và
của
bản
vọng
cổ
với
những
tên
tuổi
lẫy
lừng
ở
sàn
diễn,
dĩa
hát,
đài
phát
thanh.
Trong
phạm
vi
bài
viết
này,
tôi
xin
điểm
phớt
qua
những
đặt
trưng
của
các
danh
ca
vọng
cổ;
trong
những
bài
viết
sau,
tôi
sẽ
viết
rõ
về
tiểu
sử,
sự
nghiệp
ca
diễn
trên
sân
khấu,
ở
dĩa
thu
thanh
và
đài
phát
thanh
của
từng
danh
ca
vọng
cổ
mà
tôi
có
dịp
cùng
cộng
tác
trong
các
đoàn
hát
Tiếng
Chuông,
Kim
Thoa,
Thanh
Minh,
Thanh
Minh
Thanh
Nga,
Dạ
Lý
Hương,
Đoàn
Saigon
1,
2,
3....
Xin
đề
cập
các
nữ
danh
ca:
-
Cô
Tư
Sạng
:
là
diễn
viên
sân
khấu
đoàn
Trần
Đắc,
sau
chuyên
thu
dĩa.
Giọng
ca
rất
khỏe,
truyền
cảm,
chắc
nhịp,
nổi
danh
với
các
dĩa
Tình
mẫu
tử,
Chung
Vô
Diệm,
Mẹ
Dạy
con,
Đêm
Khuya
Trông
Chồng
và
các
bộ
nhiều
dĩa:
San
Hậu
(
vai
Nguyệt
Kiểu
)
Tô
Ánh
Nguyệt
(
vai
Nguyệt
),
Hoa
Rơi
Cửa
Phật
(
vai
Lan).
Cô
Tư
Sạng
được
đánh
giá
là
một
trong
những
giọng
ca
hàng
đầu
trong
địa
hạt
ca
thu
dĩa.
-
Cô
Năm
Cần
Thơ
:
ca
sĩ
chuyên
nghiệp
ở
các
hãng
dĩa,
nổi
danh
không
thua
cô
Tư
Sạng,
đặc
biệt
dĩa
ca
độc
chiếc
Chim
Họa
Mi,
cô
Năm
Cần
Thơ
được
báo
chí
và
thính
giả
tặng
cho
mỹ
hiệu
Chim
Họa
Mi.
Cô
Năm
Cần
Thơ
được
giới
mộ
điệu
thích
qua
các
bộ
dĩa
thu
thanh
Đắc
Kỷ
Thọ
Hình
(
ca
chung
với
nghệ
sĩ
Ba
Giáo
),
bộ
nhiều
dĩa:
Mổ
tim
Tỷ
Cang,
Anh
Hùng
Liệt
Nữ,
Tơ
Vương
Lộn
Mối...
Làn
hơi
ngọt
ngào,
giọng
ca
thật
ấm
áp,
đặc
biệt
khi
cô
Năm
Cần
Thơ
xuống
Xề
dứt
câu
5
vọng
cổ
và
đến
song
lang
đầu
của
câu
6
với
lối
trở
hơi
oằn
xuống
thật
tuyệt
vời,
được
khách
mộ
điệu
khen
«
mùi
có
một
không
hai
».
Trong
chương
trình
Vầng
trăng
cổ
nhạc,
thực
hiện
trên
sân
khấu
ở
tầng
thượng
của
rạp
Rex
trong
đầu
thập
niên
90,
cô
Năm
Cần
Thơ
đã
hơn
tám
mươi
tuổi,
cô
còn
đủ
hơi,
đủ
giọng
ca
trọn
một
bài
Xuân
Tình
đáp
lời
yêu
câu
của
khán
giả.
-
Cô
Ba
Bến
Tre,
chuyên
ca
dĩa,
ca
đài
phát
thanh
Pháp
Á,
đài
phát
thanh
Saigon,
cô
Ba
Bến
Tre
ca
thu
rất
nhiều
dĩa,
ký
giả
Trần
Tấn
Quốc
có
lần
dự
lễ
cúng
Tổ
của
đoàn
Thanh
Minh
tại
rạp
hát
Thành
Xương,
anh
Trần
Tấn
Quốc
cho
mượn
vài
dĩa
hát
xưa
để
hát
cho
ông
bầu
Năm
Nghĩa,
bà
Bầu
Thơ
và
nghệ
sĩ
chúng
tôi
nghe,
trong
đó
có
dĩa
ca
độc
chiếc
«
Khóc
Bạn
»
của
cô
Ba
Bến
Tre
ca.
Tiếng
ca
như
giục
dặc,
đứt
quảng,
như
thể
hụt
hơi,
như
gắng
gượng,
dằng
nén
nổi
đau
từng
lúc
trào
dâng
trong
lòng.
Một
nghệ
thuật
ca
hết
sức
điêu
luyện,
một
lối
ca
truyền
cảm
đến
lạ
lùng.
Nghe
cô
Ba
Bến
Tre
ca
tưởng
như
người
ca
không
hề
bị
ràng
buộc
nhịp
đàn,
không
cố
tình
luyến
láy.
Một
lối
ca
khúc
chiết,
tưởng
không
màn
đến
âm
thanh,
diễn
xuất.
Vậy
mà
giọng
ca
hết
sức
giản
dị,
chân
chất
như
dân
ca
lại
vương
vấn
mãi
trong
ký
úc
của
người
mộ
điệu.
-
Cô
Tư
Bé :
về
kỹ
thuật
nhịp
nhàng,
cô
Tư
Bé
có
thể
nhường
các
cô
Tư
Sạng,
Năm
Cần
Thơ,
Ba
Bến
Tre
nhưng
sức
rung
động
trong
lời
ca,
giọng
điệu
thật
là
tuyệt
vời.
Giọng
cô
Tư
Bé
trong
mà
bi
thảm,
thính
giả
ái
mộ
cô
qua
bộ
dĩa
Phạm
Công
Cúc
Hoa
(
vai
Cúc
Hoa
).
-
Cô
Ba
Trà
Vinh :
Cô
thu
thanh
cho
hãng
dĩa
Asia
20
câu
vọng
cổ
«
Bên
Bờ
Hồ
»
và
một
số
bài
bản
khác;
thu
cho
hãng
diã
Việt
Nam
–
Lê
Văn
Tài
bộ
dĩa
Máu
Nhưộm
Chinh
Y,
Tô
Ánh
Nguyệt
(
cùng
với
Minh
Chí,
Ba
Bến
Tre,
Tám
Thưa);
thu
cho
hãng
dĩa
Tri
Âm
tuồng
«
Sống
Cao
Đẹp
»,
«
Bổn
phận
làm
trai
»
và
nhiều
bài
vọng
cổ
ca
độc
chiếc;
thu
cho
hãng
dĩa
Hương
Quê
các
tuồng
Lá
rụng
về
cội,
Kiếp
Hồng
Nhan,
Đời
tôi
chỉ
có
một
lần.
Thời
gian
này
cô
Ba
Bến
Tre
là
ca
sĩ
trong
Đài
Phát
Thanh
Pháp
Á
chung
vơi
các
nghệ
sĩ
Kim
Cúc,
Tư
Bé,
Chiêu
Anh,.
Cô
Ba
Trà
Vinh
cũng
là
thành
viên
trong
Ban
cổ
nhạc
Cửu
Long
của
Đài
Phát
Thanh
Sàigòn
với
các
ca
sĩ
Tám
Thưa,
Ba
Bến
Tre,
Văn
Chung,
Bảy
Quới,Kim
Nguyên,
Bạch
Huệ.
Ngoài
ra
cô
Ba
Trà
Vinh
còn
là
ca
sĩ
của
các
tửu
quán
có
cổ
nhạc
Kim
Chung(
Cầu
Ông
Lãnh),
Đại
Thế
Giới
quận
5,
quán
Lục
Cảnh
Cầu
Muối.
Cô
ca
ba
Nam
sáu
Bắc,
các
bài
Oán
đều
hay.
Ca
vọng
cổ,
giọng
trầm
ấm,
luyến
láy
êm
như
lời
nỉ
non
tâm
sự
nên
thính
giả
rất
ưa
thích.
Cô
Ba
Kim
Anh :
Chất
giọng
hiếm
có,
làn
hơi
nức
nở
tự
nhiên.
Cô
ca
mà
như
thở
than,
tâm
sự,
bất
chấp
nhịp
nhàng,
ca
đến
song
lang
bao
giờ
cũng
đúng,
chắc
nhịp,
không
bao
giờ
ca
rớt
hay
xê
xích
nhịp
đàn.
Cô
nổi
danh
với
dĩa
đơn
ca
Phàn
Lê
Huê,
các
bộ
dĩa
Kim
Vân
KIều,
Ngày
Về
Cố
Quận.
Cô
là
đào
chánh
đóng
cặp
với
Út
Trà
Ôn
trên
sân
khấu
đoàn
Thanh
Minh
-
bầu
Nghĩa
và
đoàn
Kim
Thanh
(
bầu
Út
Trà
Ôn,
Kim
Chưởng,
Thanh
Tao,
Thúy
Nga)
Ký
giả
kịch
trường
tặng
cô
Ba
Kim
Anh
danh
hiệu
Quái
nữ
Vọng
Cổ.
Về
giọng
ca
nam
trong
thời
điểm
này
có
thể
kể :
-
Nghệ
sĩ
Tám
Thưa :
là
ca
sĩ
chuyên
thu
dĩa,
thu
Đài
phát
thanh
(
Pháp
Á
và
đài
Saigon),
nổi
danh
trong
bộ
17
dĩa
Tô
Ánh
Nguyệt(
vai
Minh
)
bô
dĩa
Chiêu
Quân
Cống
HỒ
(
vai
Vua
Hán
Đế)
ca
chung
với
cô
Ba
Thanh
Loan
(
vai
Chiêu
Quân).
Chất
giọng
trầm,
khàn,
kỹ
thuật
ca
lòn
hơi
(
giây
đào)
nhất
là
xuống
Xề
câu
5.
Anh
Tám
Thưa
từng
hướng
dẫn
về
nghệ
thuật
ca
vọng
cổ
cho
Hữu
Phước,
Văn
Hường
khi
hai
nghệ
sĩ
này
mới
bước
vào
nghề
ca
kịch
năm
1954
–
1955.
-
Nghệ
sĩ
Út
Trà
Ôn :
nổi
danh
Vua
Vọng
Cổ
từ
thập
niên
50,
đến
ngày
anh
mất,
Út
Trà
Ôn
vẫn
đứng
hàng
đầu
các
danh
ca
vọng
cổ
trong
cả
nước.
Thập
niên
40,
Út
Trà
Ôn
gây
tiếng
vang
như
một
hiện
tượng
độc
đáo
trong
làng
ca
cổ
nhạc
từ
dĩa
ca
lẻ
Sầu
Vương
Biên
Ải,
sau
đó
dĩa
Tôn
Tẩn
Giả
Điên,
anh
ca
chen
hơi
Xuân(
lúc
lên
cơn
điên)
một
phát
hiện
mới
về
cách
ca
vọng
cổ,
điều
này
đưa
anh
đến
đỉnh
vinh
quang.
Bài
Tình
Phụ
Tử
của
soạn
giả
Quy
Sắc
là
một
đóng
góp
vào
bảng
thành
tích
dày
cộm
của
Út
Trà
Ôn
cùng
với
hai
bài
vọng
cổ
để
đời :
Tình
Anh
Bán
Chiếu
và
Gánh
Nước
Đêm
Trăng
của
Viễn
Châu
ở
thập
niên
50.
Làn
hơi
cao
vút
(
hò
6
)
kỹ
thuật
ca
điêu
luyện,
chắc
nhịp,
lời
ca
lắm
lúc
nhảy
múa
trên
chữ
đàn.
Út
Trà
Ôn
còn
ca
rất
hay
các
bài
Oán,
Nam
Ai,
Nam
Xuân,
Xàng
Xê,
Phú
Lục,
Duyên
Kỳ
Ngộ…Có
ưu
thế
về
chất
giọng,
Út
Trà
Ôn
còn
chịu
khó
nghiên
cứu
và
tập
luyện
diễn
xuất
trên
sân
khấu
nên
anh
thành
công
lớn
với
các
vai
hát
để
đời
như
vai
Ba
Mõ
Lết(
vở
Lỡ
Bước
Sang
Ngang),
vai
ông
Cò
Hương(
vở
Tuyệt
Tình
Ca)
vai
ông
Út
(
tuồng
Tần
Nương
Thất)…Út
Trà
Ôn
góp
công
tạo
ra
thời
hoàng
kim
của
sân
khấu
cải
lương,
ông
nhiều
lần
thành
lập
đoàn
hát
để
phát
triển
nghệ
thuật
cải
lương
và
ca
cổ
nhạc(đoàn
Kim
Thanh
–
Út
Trà
Ôn,
đoàn
Thống
Nhất
…)
-
Nghệ
sĩ
Năm
Nghĩa :
có
làn
hơi
ngọt
lịm,
ru
hồn,
lối
sắp
chữ
trơn
tru
theo
tiếng
đàn
nên
ca
nghe
rất
du
dương,
êm
tai
và
hòa
quyện
vào
tiếng
đàn.
Đặc
điểm
của
Năm
Nghĩa
ca
là
khi
dứt
lời
ca,
tiếng
ngân
cuối
câu
1,
2…của
anh
là
tiếng
«
hơ,
hơ,
hơ…»
đổ
hột
chớ
không
có
ngân
vuốt
nhẹ
như
các
ca
sĩ
khác.
Dĩa
ca
lẻ
giúp
đưa
tên
tuổi
Năm
Nghĩa
bật
sáng
là
bài
vọng
cổ
Văng
Vẳng
Tiếng
Chuông
Chùa.
Các
vở
thu
dĩa
ăn
khách
mạnh
của
Năm
Nghĩa
là
Hoa
Rơi
Cửa
Phật(
vai
Điệp
–
Năm
Nghĩa),
Đổng
Quý
Phi(
ca
chung
với
cô
Năm
Cần
Thơ),
dĩa
Phạm
Công
Cúc
Hoa(
vai
Phạm
Công)
ca
chung
với
Tư
Bé
vai
Cúc
Hoa.
Nghệ
sĩ
Năm
Nghĩa
thành
công
lớn
khi
lập
đoàn
Hậu
Tấn
–
Năm
Nghĩa,
đoàn
cải
lương
Thanh
Minh
-
bầu
Nghĩa,
sau
là
đoàn
Thanh
Minh
Thanh
Nga
-
bầu
Thơ(
vợ
Năm
Nghĩa),
đoàn
Thanh
Minh
và
đoàn
Thanh
Minh
Thanh
Nga
có
công
hướng
sân
khấu
cải
lương
sáng
tác
và
biểu
diễn
các
tuồng
dã
sử
Việt
Nam
và
tuồng
Xã
hội
Việt
Nam
(
xưa
và
cận
đại)
không
hát
tuồng
Kiếm
hiệp
La
Mã,
tuồng
Tàu,
Hồ
Quảng)
-
nghệ
sĩ
Bảy
Cao :
Bảy
Cao
và
Năm
Nghĩa
cùng
quê
Bạc
LIêu,
cùng
nổi
danh
đồng
thời
cùng
có
khả
năng
sáng
tác
tuồng
và
lập
gánh
hát,
là
hai
người
bạn
thiếu
thời
cùng
đam
mê
đàn
ca
tài
tử
ở
địa
phương.
Giọng
ca
Bảy
Cao
nhừa
nhựa,
chậm
rãi
như
thỏ
thẻ
tâm
tình
nên
được
khán
thính
giả
ái
mộ.
Bảy
Cao
giữ
được
nét
trẻ
trung
lâu
dài,
làn
hơi
cũng
vậy
nhưng
anh
ít
thu
dĩa
hát
vì
các
chủ
hãng
dĩa
cho
là
làn
hơi
của
Bảy
Cao
«
không
ăn
điện
».
Anh
có
sáng
kiến
đưa
kỹ
thuật
thực
hiện
các
tuồng
chiến
tranh
cận
đại
vô
sân
khấu
qua
các
tuồng
Mộng
Hòa
Bình,
Nợ
Núi
Sông,
Đàn
Chim
Sắt…và
phối
họp
điện
ảnh
với
sân
khấu.,
-
Nghệ
sĩ
Thanh
Tao :
giọng
rất
trong,
mạnh,
hơi
rông,
ca
chân
phương
nhưng
rất
truyền
cảm,
nổi
danh
qua
tuồng
Mục
Liên
Thanh
Đề,
lập
gánh
hát
Thanh
Tao.
Về
sau
rời
sân
khấu
về
chùa
Nghệ
sĩ
Gò
Vấp
tu,
pháp
danh
Thích
Quảng
Đức.
-
Có
thể
nói
các
nam
nữ
kể
trên
là
những
người
góp
phần
biến
đổi
bài
ca
Dạ
Cổ
Hoài
Lang
từ
nhịp
đôi
thành
nhịp
4,
nhịp
8,
nhịp
16,
rồi
thành
bản
Vọng
cổ
để
được
mọi
người
(
nghệ
sĩ
và
khán,
thính
giả)
xem
là
«
bản
nhạc
vua
»
trên
sân
khấu
cải
lương,
đầy
đủ
tính
chất
hấp
dẫn,
đậm
đà
và
đầy
đam
mê..
Ngoài
ra
còn
có
các
giọng
ca
khác
đã
góp
phần
tôn
vinh
bản
Vọng
cổ
thành
nhạc
Vua
sân
khấu
như
các
nữ
nghệ
sĩ
Năm
Kim
Thoa,
Sáu
Nết,
Sáu
Ngọc
Sương,
Tư
Thanh
Tùng,
Ba
Hui,
Ngọc
Xứng,
Ngọc
Trâm,
các
bạn
Hồng
Châu,
Năm
Phồi,
Văn
Lang,
Paul
Thuận,
Hoàng
An,
Ba
Khuê…
-
Từ
giữa
thập
niên
50
đến
giữa
thập
niên
70
,
một
thế
hệ
đông
đảo
nghệ
sĩ
trẻ
đầy
tài
năng
ca
nở
rộ.
Về
diễn
xuất
còn
thua
kém
các
thế
hệ
nghệ
sĩ
tiền
phong
nhưng
về
mặt
ca
thì
có
phần
nổi
trội
hơn.
Ta
có
thể
kể :
(
nữ
danh
ca)
Út
Bạch
Lan,
Thanh
Hương,
Ngọc
Giàu,
Mỹ
Châu,
Ngọc
Hương,
Thanh
Nga,
Bạch
Tuyết,
Phượng
Liên,
Hồng
Nga,
Diệu
Hiền,
Kim
Ngọc,
Ánh
Hồng,
Lệ
Thủy,
Thanh
Kim
Huệ,
các
nam
danh
ca
Hữu
Phước,
Thành
Được,
Hùng
Cường,
Tấn
Tài,
Thanh
Tú,
Thanh
Sang,
Út
Hiền,
Tài
Bữu
Bửu,
Phương
Quang,
Út
Hậu,
Minh
Cảnh,
Minh
Vương,
Minh
Phụng,
Hoài
Thanh,
Thanh
Tuấn,
và
các
danh
ca
chuyên
thu
đài
Thành
Công,
Chín
Sớm,
Kim
Nguyên,
Lệ
Liễu,
Bạch
Huệ…
-
Nhân
tài
nhiều
quá,
có
thể
tôi
không
nhớ
đủ
hết
nhưng
bằng
vào
bao
nhiêu
danh
ca
vừa
kể,
họ
đã
phả
vào
bản
vọng
cổ
chất
kích
thích
đầy
hương
vị
ngọt
ngào
làm
mê
đắm
hồn
khách
tri
âm,
bản
vọng
cổ
đã
làm
bệ
phóng
đưa
nghệ
sĩ
danh
ca
đến
bến
bờ
quanh
vinh
và
kiến
tạo
một
thời
vàng
son
rực
rỡ
của
nghệ
thuật
sân
khấu
cải
lương
thời
kỳ
trước
năm
1975.
-
Soạn
giả
Nguyễn
Phương
4
/
2016.
-
Chú
ý:
Việc
đăng
lại
bài
viết
trên
ở
website
hoặc
các
phương
tiện
truyền
thông
khác
mà
không
ghi
rõ
nguồn
http://www.cailuongvietnam.com
là
vi
phạm
bản
quyền
Ý kiến bạn đọc