Gió
đưa
bụi
chuối
sau
hè;
anh
mê
vợ
bé
bỏ
bè
con
thơ,
con
thơ
tay
ẵm
tay
bồng,
tay
nào
xách
nước
tay
nào
vo
cơm.”
Nhưng
ba
tôi
lại
ru
con,
không
bằng
ca
dao
mà
bằng
bài
ca
vọng
cổ:
“Sầu
Vương
Biên
Ải”
Út
Trà
Ôn
phát
trên
đài
phát
thanh
Pháp
Á:
...
“Thâu
canh
hồn
ngơ
ngẩn
nhìn
bóng
trăng
khuya
lặng
lẽ
giữa
đêm…
trường…”
Út
Trà
Ôn
Những
năm
50,
miền
Nam
thanh
bình,
trù
phú,
thạnh
trị.
Đêm
không
giới
nghiêm.
Nhà
tôi
có
cái
ra-dô
chạy
đèn,
lúc
đó
chưa
có
ra-dô
tran-sit-to
như
sau
này.
Thời
đó
có
cái
ra-dô
như
vậy
là
“oách”
lắm
rồi.
Tối
Thứ
Bảy
bà
con
lối
xóm:
bà
dì,
bà
cô,
bà
thiếm
xách
theo
giỏ
trầu
đến
nằm,
ngồi
trên
bộ
ngựa
trong
nhà,
vừa
nhai
trầu
bỏm
bẻm
vừa
thả
hồn
theo
câu
xàng
xê,
câu
vọng
cổ
của
tuồng
cải
lương
trực
tiếp
truyền
thanh
trên
đài
phát
thanh
Sài
Gòn.
Ba
tôi
là
người
nghệ
sĩ
mần
văn.
Năm
1957,
ông
Trần
Tấn
Quốc,
chủ
báo
Tiếng
Dội,
phụ
trách
trương
kịch
trường
đầu
tiên
của
làng
báo
Việt
Nam
Cộng
Hòa,
khuyến
khích,
thân
phụ
tôi
viết
kịch
trường,
phê
bình
những
vở
cải
lương
cùng
với
Thanh
Tâm,
bút
hiệu
của
ông
Trần
Tấn
Quốc,
Phong
Vân,
Nguyễn
Ang
Ca
và
Việt
Định
Phương.
Cách
phê
bình
của
thân
phụ
tôi
hơi
khác,
hơi
lạ.
Thay
vì
nhận
xét
về
tuồng
tích,
phê
phán
khen
chê
soạn
giả
và
diễn
viên
thì
ba
tôi
lại
lượm
lặt
những
cảm
xúc
chân
thành
của
bà
con
khán
giả:
bà
Năm,
cô
Bảy,
chị
Hai,
em
Ba
gom
lại
thành
bài
viết…
Ông
đóng
vai
kép
độc
như
Việt
Hùng
chẳng
hạn
mà
khán
giả
kêu
ông
bằng
“thằng”,
chửi
ông
tắt
bếp
thì
ông
đã
thành
công
xuất
sắc
trong
vai
trò
kép
độc.

Ngọc
Nuôi
và
Việt
Hùng
Còn
“Sầu
Nữ
Út
Bạch
Lan’
xuống
một
câu
vọng
cổ
mà
ai
nấy
đều
thút
thít
khóc
thì
xứng
danh
với
“Đệ
Nhứt
Đào
Thương”.
Những
mỹ
danh
này
đều
do
ký
giả
kịch
trường
đặt
cho
họ.
Út
Bạch
Lan
Cách
viết
đó,
nửa
thế
kỷ
về
trước,
là
mới.
Còn
bây
giờ
là
xưa
rồi.
Bây
giờ
họ
“comment”
bài
viết
của
mình
đôi
khi
chửi
tác
giả
như
tát
nước…
thôi
hết
biết
đường
nào
mà
kể...?!
Tôi
được
ba
dẫn
theo
đi
coi
cải
lương.
Ba
mặc
áo
dài
tay,
gài
nút
măng-sét,
thắt
cà
vạt.
Tôi,
áo
trắng
bỏ
vô
quần
sọt,
mang
xăng-đan.
Ba
nói:
mình
ăn
mặc
chỉnh
tề
để
tôn
trọng
người
nghệ
sĩ.
Khi
trình
diễn,
họ
ăn
mặc
đàng
hoàng,
y
trang,
cảnh
trí,
mình
là
khán
giả,
tại
sao
không?
Theo
ba,
tôi
vừa
hào
hứng
vừa
e
dè
khi
vào
hậu
trường,
nơi
có
bàn
thờ
tổ
khói
hương
nghi
ngút.
Có
bàn
trang
điểm,
làm
mặt
của
kép
và
đào.
Có
ban
nhạc
cổ
đang
so
dây,
nắn
phím.
Đàn
kìm
giữ
nhịp
song
lang,
cò,
guitar
phím
lõm,
sáo,
tranh,
bầu,
trống.
Còn
dàn
nhạc
Tây
thì
ngồi
gần
hàng
ghế
danh
dự
chứ
không
ngồi
sau
cánh
gà
như
dàn
cổ
nhạc…
Khi
trình
diễn
thì
có
người
đứng
sau
lưng
phông
màn
nhắc
tuồng
và
người
kéo
micro
theo
cái
ròng
rọc
cho
nghệ
sĩ
hát.
Ký
giả
kịch
trường
được
ngồi
ghế
thượng
hạng,
thường
là
sát
bên
với
soạn
giả,
còn
gọi
là
thầy
tuồng.
Xưa
chỉ
có
soạn
giả
viết
tuồng
rồi
phân
vai
cho
nghệ
sĩ.
Chứ
không
có
đạo
diễn
như
bây
giờ
Năm
1957,
đoàn
Thúy
Nga
Phước
Trọng
về
Mỹ
Tho,
diễn
phúc
khảo
tuồng
hương
xa:
“Khi
Hoa
Anh
Đào
Nở”
của
Hà
Triều
Hoa
Phượng
tại
rạp
Vĩnh
Lợi
đường
Lý
Công
Uẩn
của
thầy
Năm
Tú,
ba
tôi
là
ký
giả
kịch
trường
được
mời
đi
xem.
Cha
con
tôi
ngồi
sát
bên
hai
bác
soạn
giả
Hà
Triều
Hoa
Phượng.
Kép
chánh
đêm
diễn
là
Thành
Được,
năm
ấy
ông
mới
vừa
mười
chín
tuổi,
mặc
áo
kiểu
hiệp
sĩ
Lã
Sanh
Môn,
dắt
gươm
trên
lưng.
Còn
đào
chánh
là
“Kiều
nữ
Bích
Sơn”
mặc
kimono
đi
từng
bước
ngắn
trên
đôi
dép
cao
của
Nhựt.

Thành
Được
Đoạn
cuối
vở
tuồng
còn
ngâm
hai
câu
thơ:
“Cổng
chùa
đã
khép
lại
rồi…”
Dàn
nhạc
tây
thì
chơi
“Ò
e
Robe
đánh
đu,
Tạc
dăng
nhảy
dù,
Zoro
bắn
súng”.
Và
màn
nhung
buông
xuống,
em
trở
lại
đời
thường,
trả
lại
phấn
son.
Ba
tôi
được
hai
bác
soạn
giả
Hà
Triều
Hoa
Phượng
mời
đi
ăn
cháo
khuya
cùng
anh
em
nghệ
sĩ.
Cái
tình
văn
nghệ
thuở
ấy
sao
mà
nồng
ấm
như
tô
cháo
trắng
tép
rang
có
chan
nước
cốt
dừa
của
ngày
năm
cũ.
Vài
hôm
sau,
bài
viết
của
ba
lên
trương
kịch
trường
của
nhựt
báo
Tiếng
Dội,
tạo
dư
luận
háo
hức
chờ
đoàn
hát
nhập
thủ
đô
Sài
Gòn,
rạp
Nguyễn
văn
Hảo
ra
mắt
bà
con
mộ
điệu.
Sau
“Khi
Hoa
Anh
Đào
Nở”
thành
công
vang
dội,
Hà
Triều
Hoa
Phượng
còn
thêm
“Đợi
Anh
Mùa
Lá
Rụng,
Cầu
Sương
Thiếp
Phụ
Chàng”
.
Năm
61,
tuồng
hương
xa
đã
xa
hương,
Hà
Triều
Hoa
Phượng
chuyển
qua
tuồng
xã
hội
mà
vở
đầu
tiên
là
“Nửa
Đời
Hương
Phấn”.
Hương,
con
nhà
gia
giáo
ở
vùng
Lái
Thiêu,
bị
một
tên
nhạc
sĩ
sở
khanh
dụ
dỗ
đến
mang
thai.
Sợ
dư
luận
đàm
tiếu,
cô
phải
lên
Sài
Gòn
trốn
tránh.
Số
phận
cay
nghiệt
đã
đưa
đẩy
Hương
vào
con
đường
bán
phấn
buôn
hương,
rồi
tình
cờ
gặp
được
Tùng.
Vì
danh
giá
gia
đình
không
cho
phép
Tùng
lấy
một
người
con
gái
bán
phấn
buôn
hương.
Cang,
anh
Tùng
phản
đối
và
bày
kế
chia
rẽ,
khiến
Tùng
cứ
ngỡ
Hương
phản
bội
mình
nên
đã
bỏ
đi
lấy
vợ.
Nhưng
trái
ngang,
đau
lòng,
vợ
Tùng,
Dịu,
là
em
ruột
của
Hương.
Hương
đã
vào
chùa
quy
y
để
quên
đi
mối
tình
dang
dở!
Thân
phụ
tôi
nói:
“Dịu
chứ
không
phải
Diệu
do
Ngọc
Nuôi
đóng.
Vì
Hương,
Út
Bạch
Lan
tên
“The”
trước
khi
thành
gái
giang
hồ.
Tên
mùi
vị
quê
nhà,
mà
The
cho
là
“quê”
nên
đổi
tên
là
“Hương”.
Hương,
tên
đẹp,
nhưng
là
Hương
của
“Nửa
Đời
Hương
Phấn”.
Cách
chọn
tên
của
soạn
giả
thiệt
thâm
trầm!
“Nửa
Đời
Hương
Phấn”,
phảng
phất
Marguerite
Gautier
trong
Trà
Hoa
Nữ
và
Lan
Điệp
trước
cổng
chùa,
đã
lấy
đi
nước
mắt
biết
bao
nhiêu
khán
giả
khóc
thương
cho
một
mảnh
hồng
nhan
bạc
phận!
Đó
là
chuyện
ba
mươi
năm
về
trước,
khi
tôi
còn
thơ
dại…
theo
ba.
Năm
90,
từ
Adelaide,
Nam
Úc…
thằng
Quân,
em
tôi
gởi
giấy
bảo
lãnh
về
cho
thân
phụ
tôi
đi.
Ba
không
muốn.
Vì
ba
già
rồi,
vì
không
muốn
má
tôi
nằm
lại
một
mình,
không
ai
nhang
khói.
Quê
nhà
ai
muốn
bỏ
mà
đi.?!
Tôi
từ
Cần
Thơ
“bay”
về,
nói
“bay”
nghĩa
là
về
thiệt
lẹ
chứ
Cần
Thơ
Mỹ
Tho
giàu
có
gì
mà
đi
máy
bay.
Mà
có
máy
bay
đâu
mà
đi…
Tôi
thuyết
phục
ba
tôi:
“Em
con
lãnh
ba
đi,
chắc
nó
có
ở
hai
bên
rồi,
nên
biết
sướng
khổ
thế
nào,
nó
không
lãnh
ba
qua
đó
mà
chịu
khổ
đâu.
Đi
khó
về
dễ!
Ba
cứ
đi,
nếu
khổ
quá
thì
về…”
Ba
tôi
thấy
tôi
có
lý.
Tiệc
tiễn
hành,
ba
nói:
“Bên
đó
chắc
không
có
cải
lương
đâu
con?!”
Em
gái
tôi
tìm
được
cuộn
cát
sét
“Nửa
Đời
Hương
Phấn”
cho
ba
mang
theo…
Cả
nhà
nghe
bài
Phụng
Hoàng
với
Út
Bạch
Lan
vai
Hương,
Thành
Được
vai
Tùng
và
Ngọc
Nuôi
vai
Dịu.
“Dù
em
có
thành
hôn
với
ai
đi
nữa,
thì
chị
cũng
ráng
về
với...
em;
để
mừng
ngày
em
xuất
giá.
Cho
vui
lòng
ba
má
chị
cũng
nở
mặt
nở
mày
với
lối
xóm
bà
con…
Còn
dượng
ba
đây-
là
một
thanh
niên-
có
học
thức
lại
đàng
hoàng.
Chị
vô
cùng
sung
sướng;
thấy
em
có
một
tấm
chồng
đúng
như
lòng
chị
đã
ước
mong!
Cha
con
tôi
nghe
hết
mấy
câu
Phượng
Hoàng
này
thì
lại
nhớ
về
hình
bóng
một
thời
thơ
mộng
cũ.
Thời
có
ba,
có
má,
có
anh,
có
em,
có
cải
lương,
có
thanh
bình
mà
không
có
tham
vọng
của
một
lũ
điên.
Thời
ba
làm
ký
giả
kịch
trường
dắt
con
thơ
dại
theo
coi
hát.
Ba
nói:
“Mai,
ba
đi,
mang
theo
hình
ảnh
quê
nhà,
hình
ảnh
má
con
và
kỷ
niệm
nầy.
Không
biết
ba
còn
có
dịp
trở
về
quê
cũ
nữa
hay
không?”
Ba
tôi
suốt
một
đời
lao
khổ
vì
con,
chỉ
hưởng
được
năm
năm
ở
chốn
thiên
đường
rồi
vướng
vào
bạo
bịnh,
chiến
đấu
với
bệnh
tật
ba
năm
nữa
rồi
thua
cuộc.
Trước
khi
đi
vào
hôn
mê,
ba
trăng
trối:
“Hết
giặc,
tụi
con
mang
tro
than
của
ba
về
quê
cũ.
Ba
muốn
về
cạnh
má
con!
Sao
đành
bỏ
má
con
một
mình
cho
được…!”
“Nhà
thương
thí
miền
Tây
con
đâu
ngờ
lần
cuối,
ráng
chiều
cháy
chân
mây,
ngày
cuối
cùng
hấp
hối,
quê
nhà!
trái
tim
ba!
ba
nhìn
con
trăng
trối...”
“Mộ
má
nhìn
ra
lộ
Đông
Dương,
như
trông
như
ngóng
người
thương
trở
về;
người
thương
nay
đã
trở
về,
dẫu
tro
than
vẫn
câu
thề
ngày
xanh:
‘chừng
nào
xe
lửa
Mỹ
bung
vành;
tàu
Tây
kia
liệt
máy
anh
mới
đành
xa
em’*
Ba
tôi
mất
hơn
mười
năm
lẻ,
anh
em
tôi
vẫn
chưa
thực
hiện
được
lời
trăng
trối
tha
thiết
của
phụ
thân;
vì
lẽ
đêm
quê
nhà
dài,
dài
quá
cho
tới
bây
giờ
mà
sao
bình
minh
vẫn
còn
diệu
vợi.
Vậy
là
hằng
năm
tới
ngày
giỗ
ba,
em
tôi
bay
từ
Adelaide
lên,
cả
nhà
đoàn
tụ
nhắc
về
kỷ
niệm
xưa
của
gia
đình.
Phượng,
em
gái
tôi,
mang
cuộn
cát
sét
kỷ
vật
“Nửa
Đời
Hương
Phấn”
ra
hát
lại.
Thời
gian
hủy
hoại
dần
tất
cả.
Cuộn
băng
nhão
đi,
chỉ
còn
nghe
được
câu
đầu:
“Dù
em
có
thành
hôn
với
ai
đi
nữa,
thì
chị
cũng
ráng
về
với
.....
em!”
Và
nước
mắt!
ĐXT
-
Melbourne
Ý kiến bạn đọc