Đặc
thù
văn
hóa
Nói
về
ăn
cơm
hội
ở
các
gánh
hát
cải
lương,
thì
những
ai
từng
theo
dõi
hoạt
động
của
bộ
môn
nghệ
thuật
sân
khấu
cũng
đều
biết,
bữa
cơm
hội
ngày
Tết
khác
xa
với
bữa
cơm
hội
ngày
thường.
Và
đây
cũng
là
một
đặc
thù
của
văn
hóa
liên
quan
đến
hoạt
động
nghệ
thuật
mà
lịch
sử
cải
lương
của
dân
tộc
chắc
không
bỏ
sót.
Ngày
xưa
cả
gánh
hát
sống
với
nhau,
ăn
cơm
chung
với
nhau
như
một
gia
đình.
Mỗi
suất
hát,
bầu
gánh
trích
một
khoản
tiền
dành
cho
cơm
hội
và
phòng
xa
những
khi
trời
mưa
gió,
hát
ế
ẩm,
nên
dù
có
lúc
gánh
hát
không
mở
màn
được,
chẳng
ai
có
lương,
nhưng
mọi
người
vẫn
có
cơm
ăn
để
sống
qua
ngày.
Gánh
hát
dù
lớn
hay
nhỏ,
dù
diễn
ở
tỉnh
thành
hay
ở
thôn
quê
hẻo
lánh,
các
thành
viên
trong
đoàn
từ
bầu
gánh,
đào
kép,
thầy
tuồng,
thầy
đờn,
công
nhân,
người
bán
vé,
gác
cửa...,
đều
ngày
hai
bữa
ăn
cơm
hội.
Người
ta
không
rõ
biết
cơm
hội
có
từ
bao
giờ,
chỉ
biết
là
có
từ
thời
xa
xưa
lắm
rồi,
từ
thời
các
gánh
hát
còn
rày
đây
mai
đó,
dong
ruỗi
trên
khắp
các
nẻo
đường
quê.
Cái
đặc
điểm
của
cơm
hội
là
nuôi
cơm
tất
cả
thành
viên
trong
đoàn,
không
phân
biệt
nghệ
sĩ,
hay
công
nhân
hậu
đài,
ai
muốn
ăn
thì
nhào
vô,
bằng
không
ăn
thì
thôi
chớ
không
có
vấn
đề
được
trả
tiền
thay
thế
phần
ăn.
Xưa
giờ
là
vậy.
Thời
vàng
son
của
cải
lương,
các
gánh
lớn
thường
hoạt
động
ở
vùng
Sài
Gòn,
Chợ
Lớn,
Gia
Định
như
gánh
Kim
Chưởng
của
bà
bầu
Kim
Chưởng,
Kim
Chung
của
Bầu
Long,
Thanh
Minh
Thanh
Nga
của
bà
Bầu
Thơ,
Dạ
Lý
Hương
của
Bầu
Xuân,
Hương
Mùa
Thu
của
bầu
soạn
giả
Thu
An
thì
các
bữa
cơm
hội
khá
thịnh
soạn,
trên
mâm
có
nhiều
món
ăn
gồm
đủ
canh,
xào,
kho
mặn.
Có
những
lúc
còn
được
ăn
heo
quay,
vịt
quay...
Đó
là
thời
kỳ
thịnh
hành
của
cải
lương
vào
những
năm
cuối
thập
niên
1950
và
đầu
thập
niên
1960.

Con
gái
chị
Hằng
(soạn
giả
Hà
Triều
-
Hoa
Phượng)
với
Tám
Vân
-
Thanh
Nga
-
Hữu
Phước
Cùng
thời
điểm
trên
lại
có
rất
nhiều
gánh
thuộc
dạng
“B”
hay
“C”
mà
thiên
hạ
thường
gọi
là
gánh
hát
bầu
tèo,
quanh
năm
suốt
tháng
chỉ
quanh
quẩn
ở
các
quận
xã,
thường
hát
ở
các
nhà
lồng
chợ,
rất
hiếm
khi
hát
rạp
ở
tỉnh
lỵ
thì
các
bữa
cơm
hội
quá
thê
thảm.
Do
vậy
mà
người
ta
thường
nhìn
vào
bữa
cơm
hội,
cũng
đoán
được
gánh
hát
có
khá
hay
không,
nói
rõ
hơn
là
hằng
đêm
vé
bán
có
nhiều
không.
Từ
lâu
rồi,
các
đoàn
cải
lương
lưu
diễn
rày
đây
mai
đó
không
có
nơi
nào
cố
định.
Cả
đoàn
hát
từ
bầu
gánh
đến
nghệ
sĩ,
nhân
viên
sống
nhờ
đồng
tiền
kiếm
được
do
số
thu
bán
vé
khi
nhiều,
khi
ít,
không
có
gì
chắc
chắn,
mà
thông
thường
là
đa
số
anh
chị
em
đều
thiếu
kém
nếu
không
muốn
nói
là
vất
vả
khổ
sở.
Đồng
lương
mà
đoàn
hát
ấn
định
theo
sự
thỏa
thuận,
nhưng
khi
hát
ế,
vé
bán
không
được
như
ý
muốn
thì
bầu
gánh
áp
dụng
“luật
cải
lương”.
Nghệ
sĩ
thành
viên
đoàn
phải
chấp
nhận,
khi
thì
lãnh
ba
phần
tư
lương,
lúc
còn
phân
nửa
lương,
còn
gọi
là
lương
đờ
mi,
có
lúc
chỉ
một
phần
tư
lương
trên
mỗi
xuất
hát
hàng
đêm.
Và
cũng
lắm
lúc
hát
không
lương,
chỉ
lãnh
tiền
cà
phê
kéo
dài
từ
tháng
này
qua
tháng
nọ,
nghệ
sĩ
cũng
đành
cam
chịu,
bởi
nếu
không
chịu
như
thế
thì
đoàn
rã
rồi
thất
nghiệp
không
nơi
ca
hát
còn
khổ
hơn
là...
có
tiền
cà
phê
và
cơm
hội!
Gánh
hát
“du
mục”
Sau
1975
thì
vấn
đề
cơm
hội
có
khác
đôi
chút,
các
đoàn
hoạt
động
ở
thành
phố,
nghệ
sĩ,
công
nhân
được
phát
tiền
cơm
bằng
một
phần
cơm
bình
dân
lao
động.
Còn
các
đoàn
đi
lưu
diễn
thì
vẫn
là
cơm
hội.
Hình
ảnh
những
gánh
hát
“du
mục”
rày
đây
mai
đó
với
cơm
hội,
tưởng
đã
đi
vào
dĩ
vãng,
nhưng
thỉnh
thoảng
người
ta
vẫn
còn
thấy
ở
miền
Trung,
miền
Tây.
Trong
cái
nắng
chói
chang
giữa
trưa
hè,
cả
đoàn
hát
ngồi
vòng
tròn
dưới
đất
xung
quanh
một
nồi
cơm
bốc
khói
lên
nghi
ngút.
Cái
nồi
to
sứt
quai
đầy
lọ
chắc
hẳn
cũng
thọ
lâu
năm,
cùng
đi
theo
đoàn
từ
nơi
này
sang
nơi
khác.
Bữa
cơm
đạm
bạc
chỉ
có
rổ
rau
luộc,
ít
con
cá
kho
thật
mặn,
thật
cay,
nhưng
họ
ăn
uống
vui
vẻ
như
bữa
cơm
trong
gia
đình
vậy.
Nhiều
người
dân
địa
phương
khi
thấy
bữa
ăn
của
một
số
đoàn
quá
đạm
bạc,
họ
đã
sốt
sắng
“viện
trợ”
cho
đoàn.
Có
khi
họ
kho
sẵn
cả
nồi
cá
kho
mang
lại
tặng
đoàn.
Cũng
có
người
gánh
cả
trái
cây,
rau,
cải
đến
cho
đoàn
ăn
cả
tuần.
Có
lần
ở
Bình
Lâm
tỉnh
Quảng
Nam
người
ta
còn
làm
heo
đãi
đoàn,
rồi
muối
mặn
gửi
cho
đoàn
dự
trữ
ăn
dần.
Nhiều
khi
anh
em
ăn
chay
hoài
cũng
không
nổi
nên
các
thanh
niên
thường
rủ
nhau
đi
câu
cá,
bắt
ếch
mò
cua...
cải
thiện
bữa
ăn.

Gánh
hát
rong
nghèo
ở
miền
Bắc
Việt
Nam,
thập
niên
1930-1940,
ảnh
minh
họa.
Có
lần
một
đoàn
hát
nọ
đi
lưu
diễn
miền
Trung,
trên
đường
di
chuyển
đến
điểm
diễn
mới
thì
xe
bị
hư
ngay
trên
đỉnh
đèo
Cả
(ranh
giới
Phú
Yên
và
Khánh
Hòa).
Bác
tài
hì
hục
sửa
mãi
mà
xe
vẫn
không
chịu
chạy.
Giữa
cảnh
đồi
núi
vắng
vẻ,
không
bóng
cây
che,
không
quán
sá
mà
giờ
tới
bữa
cơm
trưa,
khiến
anh
chị
em
bụng
đói
như
cào.
Nhưng
khổ
nỗi
đoàn
chỉ
có
gạo.
Có
người
nêu
ý
kiến:
Có
cơm
ăn
là
tốt
rồi!
Thế
là
một
nhà
bếp
dã
chiến
được
dựng
lên
nhanh
chóng
giữa
đỉnh
đèo
nắng
như
đổ
lửa.
Chị
bếp
căng
bạt
che
gió,
đặt
ba
hòn
đá
làm
bếp.
Một
số
thanh
niên
lấy
thùng
chạy
đến
khe
núi
để
hứng
nước
nấu
cơm,
đi
kiếm
rau
dại
về
luộc.
Chỉ
một
tiếng
đồng
hồ
sau,
mọi
người
đã
có
cơm
ăn.
Ngồi
bên
ven
lộ,
mỗi
người
một
chén,
một
đôi
đũa
tự
động
bới
cơm,
chấm
rau
luộc
với
nước
muối,
ăn
rất
ngon
lành.
Đói
ăn
rau
cũng
thấy
ngon
nên
chỉ
một
lúc
là
nồi
cơm
đã
hết
sạch.
Các
gánh
nhỏ
hát
đình
hát
chợ
phần
lớn
bữa
cơm
hội
rất
là
đạm
bạc,
tới
bữa
ăn
chẳng
bàn
ghế
gì
cả.
Tôi
từng
thấy
một
gánh
hát
đang
trình
diễn
ở
ngôi
chợ
làng
quê.
Giữa
nhà
lồng
chợ
bỏ
trống,
bữa
cơm
trưa
được
dọn
ra
với
nồi
cơm
to
tướng
còn
bốc
hơi,
cùng
một
tô
nước
mắm
ớt
và
rỗ
dưa
leo.
Chỉ
có
thế
mà
họ
xúm
lại
ăn
ngon
lành,
nồi
cơm
được
bới
liên
tục.
Chẳng
mấy
chốc
nước
mắm
dưa
leo
không
còn
một
miếng,
và
nồi
cơm
thì
cả
cơm
cháy
cũng
hết
luôn.
Rõ
ràng
các
ông
bà
già
xưa
thường
hay
nói:
“ăn
như
hát
bội”
vậy!
Nghe
thế,
tôi
hỏi
ăn
như
hát
bội
nghĩa
là
sao?
Các
ông
bà
trả
lời:
Có
nghĩa
là
ăn
mau
lẹ,
ăn
nhiều,
ăn
sạch
nồi,
ăn
như
chạy
giặc...
Nói
chung,
trừ
một
số
ít
gánh
hát
lớn,
bữa
cơm
hội
khá
hơn,
có
thịt
cá,
còn
đa
số
gánh
nhỏ
bữa
cơm
hội
của
họ
chỉ
cần...
có
cơm
ăn
là
tốt
rồi!
Đó
là
cơm
hội
cải
lương
của
ngày
thường,
còn
ngày
Tết
thì
sao?
Dù
cho
đoàn
hát
quanh
năm
chỉ
sống
cầm
hơi,
nhưng
Tết
đến
thì
bữa
cơm
hội
khá
thịnh
soạn
nhờ
bầu
gánh
bỏ
tiền
túi
ra
lo,
và
quà
Tết
của
gia
đình
nghệ
sĩ
mang
đến,
nào
là
bánh
tét,
dưa
hành,
dưa
hấu,
củ
kiệu,
rượu
thịt...,
nhưng
phải
nói
nhiều
nhứt
là
của
bà
con
ở
địa
phương,
nơi
mà
đoàn
đang
diễn
Tết,
họ
mang
đến
đủ
thứ
tặng
cho
nghệ
sĩ
cùng
ăn
Tết.
Thế
nhưng,
khổ
nỗi
dù
thức
ăn
quá
nhiều,
mà
anh
chị
em
nghệ
sĩ
và
hầu
hết
người
trong
đoàn
ai
cũng
mệt
đừ
ăn
không
vô,
do
bởi
hát
liên
tục,
vừa
vãn
hát
chưa
kịp
nghỉ
ngơi
được
phút
nào
lại
phải
son
phấn
hóa
trang
hát
suất
kế
tiếp.
Ngày
Tết
hát
5,
7
suất
là
chuyện
thường
của
cải
lương,
thành
thử
ra
còn
thì
giờ
đâu
mà
ăn
với
uống.
Do
đó
mà
bánh
tét,
bánh
ít
được
phơi
khô
để
sau
Tết
dùng
xen
kẽ
với
các
bữa
cơm
hội.
Tóm
lại
cơm
hội
từ
lâu
đã
thành
một
nét
đẹp
trong
sinh
hoạt
của
đoàn
hát,
dầu
rất
đạm
bạc
nhưng
vẫn
là
chỗ
dựa
nương
cho
những
anh
chị
em
có
cuộc
sống
khó
khăn
nhứt
–
những
người
lấy
đoàn
hát
làm
nhà,
sân
khấu
làm
tổ
ấm.
Bao
thế
hệ
nghệ
sĩ
từng
có
lúc
sống
qua
ngày
nhờ
cơm
hội
của
các
đoàn.
Không
phải
chỉ
gánh
hát
có
bán
vé
mới
có
cơm
hội,
mà
các
gánh
nhỏ
chỉ
5,
6
người
hát
dạo
bán
thuốc
cao
đơn
hoàn
tán,
cũng
có
cơm
hội.
Nhiều
bữa
thuốc
bán
ế,
tiền
túi
cũng
không
còn,
bầu
gánh
đành
cho
ăn
“cháo
hội”
tức
ăn
cháo
trừ
cơm.
Đó
là
chuyện
của
ngày
xưa,
hình
ảnh
đó
hiện
nay
không
còn
thấy
nữa,
vì
gánh
hát
cải
lương
không
còn
hoạt
động
thì
cơm
hội
kể
như
lui
về
dĩ
vãng.
Có
còn
chăng
là
trong
ký
ức
của
những
người
mang
nặng
nghiệp
cầm
ca,
và
của
những
ai
hằng
lưu
tâm
đến
nghệ
thuật
sân
khấu.
Ngành
Mai
Ý kiến bạn đọc