Ca
sĩ
hải
ngoại
ồ
ạt
về
nước
làm
liveshow
–
Họ
đã
hết
thời
nơi
xứ
người?
Những
năm
gần
đây,
bên
cạnh
làn
sóng
chuyển
sang
hải
ngoại
sinh
sống
và
biểu
diễn
của
các
ca
sỹ
trong
nước,
người
ta
nhận
thấy
ngày
càng
nhiều
ca
sỹ
hải
ngoại
về
nước
tổ
chức
liveshow
và
thậm
chí
tái
lập
nghiệp
ngay
tại
nơi
trước
kia
mình
đã
ra
đi.
Thật
ra
đây
là
chuyện
hết
sức
bình
thường.
Ca
sỹ
trẻ
ra
đi,
là
bởi
họ
muốn
lo
cho
cuộc
sống
của
mình
và
của
gia
đình,
khi
mà
điều
kiện
sinh
hoạt
cũng
như
học
hành
cho
trẻ
con
ở
bên
kia
tốt
hơn
trong
nước.
Chứ
ở
hải
ngoại,
nhất
là
ở
Mỹ,
thì
điều
kiện
cũng
như
cơ
hội
để
họ
biểu
diễn
là
không
nhiều.
Bên
đó,
ít
show
hơn
trong
nước,
đa
phần
lại
chỉ
tổ
chức
vào
hai
ngày
cuối
tuần,
bởi
trong
tuần
khán
giả
và
cả
ca
sỹ
đều
bận
rộn
với
công
việc
chính
của
mình.
\
Ca
sĩ
Khánh
Ly
mấy
năm
qua
về
nước
làm
nhiều
show
rất
ăn
khách,
bà
còn
ra
sách
tại
Việt
Nam
Còn
trở
về,
đa
phần
là
các
ca
sỹ
thành
danh
trước
năm
1975.
Thẳng
thắn
mà
nói,
họ
đã
qua
thời
đỉnh
cao
của
mình.
Thầy
đờn
già,
con
hát
trẻ,
âu
cũng
là
quy
luật
của
tạo
hóa.
Tất
nhiên
nhiều
ca
sỹ
vẫn
giữ
được
giọng
hát,
một
điều
đáng
quý.
Là
bởi
bên
cạnh
đó,
nhiều
ca
sỹ
đã
hỏng
giọng
hay
mất
giọng,
do
nhiều
lý
do
khác
nhau.
Lý
do
họ
trở
về,
mà
nếu
chúng
ta
có
cơ
hội
được
đọc,
thì
đều
giống
nhau
ở
chỗ,
là
được
hát
trên
quê
hương
mình,
cho
đồng
bào
mình
nghe.
Tất
nhiên,
lý
do
ấy
rất
dễ
thương.
Người
viết
văn
cũng
muốn
văn
mình
được
đồng
bào
đọc,
người
diễn
kịch
cũng
chỉ
muốn
kịch
của
mình
đến
với
đông
đảo
khán
giả
mình.
Cho
dù
các
ca
sỹ
ấy
đã
qua
thời
đỉnh
cao,
họ
vẫn
có
khán
thính
giả
riêng
của
mình.
Đa
phần,
lứa
khán
giả
ấy
ở
lứa
tuổi
trung
niên.
Và
có
thể
kể
đến
một
lượng
không
nhỏ
thanh
niên
say
mê
dòng
nhạc
ấy,
bên
cạnh
việc
vẫn
lắng
nghe
dòng
nhạc
đang
thịnh
hành.
Lớp
khán
giả
ấy
đã
qua
lứa
tuổi
chạy
theo
nhạc
thị
trường,
ổn
định
trong
gu
nghe,
và
cực
đoan
trong
sự
trải
nghiệm
của
mình.
Khi
họ
đã
mặc
định
rằng
những
bài
nức
nở
chỉ
có
thể
nghe
được
từ
giọng
ca
Chế
Linh,
thì
sẽ
là
như
vậy.
Khi
họ
chỉ
thích
những
bài
quê
hương
qua
giọng
ca
của
Nhạn
trắng
Gò
Công-biệt
danh
của
ca
sỹ
Phương
Dung-thì
họ
sẽ
không
nghe
được
người
thứ
hai
trình
bày.
Hay
nhạc
của
Trịnh
Công
Sơn
thì
cứ
phải
nghe
qua
giọng
ca
Khánh
Ly,
nhất
là
cuốn
băng
Sơn
Ca
7.
Hoặc
nhạc
mang
âm
hưởng
dân
ca
thì
cứ
phải
là
Hương
Lan
hát
thì
nghe
mới
“phê”.
Hay
nhạc
của
Trúc
Phương
thì
cứ
phải
qua
giọng
ca
Thanh
Thúy
thì
mới
đủ
để
nổi
da
gà.
Hoặc
những
bài
buồn
đến
tê
tái
thì
phải
tìm
cho
được
bản
thu
của
ca
sỹ
Giao
Linh-được
mệnh
danh
là
“Nữ
hoàng
sầu
muộn”.
Tôi
đã
chứng
kiến
cảnh
những
người
chơi
âm
thanh
ở
lứa
tuổi
trung
niên
ngồi
bên
nhau,
lặng
im
cùng
nghe
cuốn
băng
Sơn
Ca
7-giọng
ca
Khánh
Ly,
hay
Hương
Quê
1-giọng
ca
Phương
Dung,
phát
từ
đầu
băng
ma-nghê
hay
còn
được
gọi
là
băng
cối.
Họ
thưởng
thức
từng
nốt
nhạc,
từng
câu
chữ
của
ca
sỹ,
bên
cạnh
việc
chơi
thiết
bị
âm
thanh.
Những
ca
sỹ
ấy,
giai
điệu
ấy,
đã
theo
họ
suốt
quãng
đời
trai
trẻ,
và
còn
theo
họ
trong
suốt
quãng
thời
gian
còn
lại
của
cuộc
đời.
Có
chứng
kiến
những
cảnh
ấy,
mới
hiểu
tình
yêu
của
họ
với
các
ca
sỹ
từ
hải
ngoại
trở
về.
Dù
giọng
ca
không
còn
lảnh
lót
như
thời
đỉnh
cao,
dù
dấu
ấn
của
tuổi
tác
đã
hiện
diện
rất
rõ
ràng
trên
khuôn
mặt,
những
ca
sỹ
ấy
vẫn
được
người
hâm
mộ
của
mình
chào
đón.
Dù
đã
nhiều
tuổi
nhưng
giọng
ca
Chế
Linh
vẫn
còn
sức
hút
mạnh
với
công
chúng
Việt
Nam
Tình
yêu,
bất
cứ
đối
tượng
của
nó
là
gì,
đều
không
bao
giờ
có
thể
lý
giải
được.
Tình
yêu,
không
giống
bất
cứ
tình
cảm
nào
khác
của
con
người.
Với
tình
yêu,
chỉ
đến
khi
nó
xảy
ra,
người
ta
mới
có
thể
chứng
minh
được
sự
tồn
tại
của
nó
là
có
thật
và
có
lý.
Thôi
thì
cũng
cố
mà
tìm
một
vài
lời
giải
thích
cho
tình
yêu
của
người
nghe
với
các
giọng
ca
được
gọi
trìu
mến
là
giọng
ca
nhạc
xưa
ấy,
mặc
dù
đây
là
việc
hết
sức
khó
khăn
và
luôn
không
bao
giờ
đúng.
Là
bởi
người
ta
nghe
nhạc
ở
thời
điểm
còn
dễ
tiếp
nhận,
tức
là
thời
còn
trai
trẻ.
Là
bởi,
sau
đó
một
thời
gian,
người
ta
chỉ
được
nghe
một
cách
nhỏ
giọt
qua
những
băng
đĩa
xách
tay
từ
bên
kia
về,
lại
không
được
gặp
ca
sỹ
yêu
thích
của
mình
bằng
xương
bằng
thịt.
Thế
cho
nên,
nhu
cầu
được
gặp
gỡ
ca
sỹ
mình
yêu
thích
là
rất
cao.
Mặc
dù,
họ
biết
ca
sỹ
mình
thích
đã
qua
thời
đỉnh
cao
đã
khá
lâu,
nhưng
điều
đó
đâu
có
hề
gì.
Hàng
ngày,
đọc
trên
các
báo,
trên
các
diễn
đàn
âm
nhạc,
người
ta
vẫn
nhắc
về
những
giọng
ca
ấy.
Thôi
thì
mỗi
người
mỗi
cách
nhìn,
điều
đó
là
lẽ
bình
thường.
Người
khắc
kỷ
thì
cho
là
các
giọng
ca
ấy
đã
hết
thời
ở
bên
xứ
người,
nay
về
quê
nhà
để
tìm
lại
ánh
hào
quang
xưa,
làm
mộ
tour
để
thỏa
mãn
sự
tò
mò
của
công
chúng.
Người
lạc
quan
thì
cho
rằng,
âu
cũng
là
lúc
lá
rụng
về
cội,
các
ca
sỹ
trở
về
là
dấu
hiệu
cho
thấy
nền
âm
nhạc
trong
nước
đã
cởi
mở
hơn
rất
nhiều.
Nhưng
dễ
thấy
rằng,
ở
bên
kia,
các
ca
sỹ
ấy
đã
không
còn
nhiều
show
như
trước.
Là
bởi
cộng
đồng
người
Việt
hải
ngoại
tuy
đông
nhưng
rải
rác
khắp
nơi,
chỉ
tập
trung
ở
một
vài
thành
phố,
nên
cơ
hội
biểu
diễn
cũng
không
nhiều.
Thêm
nữa,
lứa
khán
giả
mới
hiện
tại
lại
quen
nghe
với
nhạc
ngoại
quốc,
bởi
nhiều
người
trong
số
họ
còn
không
nói
tốt
tiếng
Việt
chứ
chưa
nói
đến
việc
thưởng
thức
âm
nhạc.
Trong
khi
đó,
lứa
khán
giả
lớn
tuổi
thì
ngày
càng
ít
đi.
Cho
nên,
việc
các
ca
sỹ
lớn
tuổi
và
đã
thành
danh
trong
quá
khứ
tìm
về
với
thị
trường
gần
100
triệu
dân
là
điều
dễ
lý
giải.
Và
khi
cơn
sốt
sắng,
cơn
tò
mò
ban
đầu
qua
đi,
thì
mọi
thứ
lại
trở
về
với
giá
trị
thật.
Chẳng
hạn
như,
dù
thời
đỉnh
cao
đã
qua
đi,
nhưng
nam
danh
ca
Chế
Linh
vẫn
không
có
người
thay
thế
trong
những
bài
hát
đã
gắn
liền
với
tên
tuổi
ông.
Mặc
dù
các
ca
sỹ
sau
này
tìm
cách
thể
hiện
những
bản
tình
ca
buồn
bã
ấy
dưới
mọi
cách,
từ
việc
rập
khuôn
các
ca
sỹ
thế
hệ
trước
đến
việc
làm
mới
bài
hát,
phối
lại
đề
khúc,
nhưng
dường
như
tất
cả
đều
không
đem
lại
thành
công.
Người
ta
có
thể
trầm
trồ
khi
Đàm
Vĩnh
Hưng
hát
Thành
phố
buồn
theo
một
phong
cách
mới,
rồi
quên
ngay.
Người
ta
muốn
nghe
lại
Thành
phố
buồn
qua
giọng
ca
Chế
Linh,
là
bởi
chỉ
có
giọng
ca
ấy
mới
tả
được
không
khí
chầm
chậm
mà
bảng
lảng
của
phố
núi,
mới
lột
tả
được
không
khí
của
một
mối
tình
dang
dở.
Nữ
danh
ca
Khánh
Ly
cũng
vậy.
Dù
đã
ngoài
70
tuổi,
nhưng
sức
hút
của
bà
vẫn
chưa
giảm
nhiều.
Là
bởi,
dù
làn
hơi
không
thể
như
trước,
nhưng
dấu
ấn
của
bà
qua
những
ca
khúc
của
Trịnh
Công
Sơn
thì
chưa
thể
phai
mờ
trong
lòng
giới
mộ
nhạc.
Người
ta
đến,
không
chỉ
để
nghe
bà
hát,
mà
còn
để
xem
bà
hát,
để
làm
sống
lại
hình
ảnh
“nữ
hoàng
chân
đất”
ngày
nào
như
biệt
danh
của
bà.
Cùng
với
việc
tổ
chức
live
show,
các
nhà
sản
xuất
cũng
không
quên
việc
phát
hành
đĩa
CD
của
bà,
khi
mà
cái
tên
Khánh
Ly
vẫn
là
số
1
trong
tâm
trí
người
yêu
nhạc
Trịnh
Công
Sơn,
cho
dù
thế
hệ
kế
tiếp
đã
có
những
ca
sỹ
thành
công
với
dòng
nhạc
đã
mang
tên
người
nhạc
sỹ
tài
hoa
ấy.
Điều
dễ
nhân
thấy
ở
thế
hệ
ca
sỹ
ấy,
là
thái
độ
làm
việc
chuyên
nghiệp
của
họ.
Cả
đời
theo
nghiệp
cầm
ca,
họ
làm
việc
với
sự
nghiêm
túc,
tôn
trọng
dàn
nhạc,
và
luôn
cố
gắng
thân
thiện
đến
mức
tối
đa
với
khán
giả
của
mình.
Thêm
nữa,
là
khả
năng
làm
chủ
sân
khấu
của
họ.
Mỗi
lúc
xuất
hiện,
họ
đều
đủ
sức
lấp
đầy
sân
khấu,
chứ
không
để
lại
nhiều
khoảng
trống.
Khả
năng
giải
phóng
cơ
thể
của
lớp
ca
sỹ
ấy
cũng
đáng
để
thế
hệ
sau
học
hỏi.
Dù
cầm
micro
hay
không,
công
chúng
đều
không
có
cảm
giác
họ
bị
thừa
tay
hoặc
có
những
động
tác
gượng
gạo.
Thế
nhưng,
dù
muốn
dù
không,
vẫn
phải
khẳng
định
rằng
việc
các
ca
sỹ
hải
ngoại
về
nước
làm
show
cũng
nói
lên
một
điều,
rằng
thị
trường
âm
nhạc
trong
nước
đang
rất
vắng
lặng
và
ảm
đạm.
Không
có
một
làn
sóng
mới,
một
thế
hệ
ca
sỹ
mới
tiếp
nối.
Công
chúng
vẫn
chỉ
đón
đợi
chương
trình
của
các
ngôi
sao
đã
thành
danh.
Những
ngôi
sao
nổi
tiếng
nhờ
PR,
nhờ
scandal
thì
cũng
chỉ
sáng
lóe
lên
trong
một
thời
điểm,
rồi
chìm
nghỉm
giữa
đám
đông.
Còn
một
khi
có
thực
tài,
thì
dù
đã
ở
bên
kia
sườn
dốc
của
sự
nghiệp,
vẫn
có
khán
thính
giả
của
riêng
mình.
Theo
Nhà
văn
Nguyễn
Toàn
Thắng/
Gia
Đình
Việt
Nam
Ý kiến bạn đọc