Đang
truy
cập
:
511
•Máy chủ tìm kiếm : 8
•Khách viếng thăm : 503
Hôm
nay
:
30698
Tháng
hiện
tại
:
3063348
Tổng
lượt
truy
cập
:
121331380
13/4 đến rồi 13/4 về cũng như ngày Tết vậy, sinh nhật web lần thứ 22 của web cailuongvietnam.com lại đến, xin chúc trang web và Àdmin luôn được nhiều sức khoè. được sự tin yêu của bạn đọc và luôn là nơi dừng bước của khách mộ điệu nghệ thuật cải lương, quá khứ vàng son hay một tương lai vô định với những giấy phút tìm về, trăn trổ hướng đi, phát triển... hay...
Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9: Đàng hoàng nhất trong những kẻ đàng hoàng
Trong
góc
quán
cà
phê
đầy
cây
xanh
đó,
người
nghệ
sĩ
già
đã
ngồi
sẵn
từ
bao
giờ
với
điếu
thuốc
cháy
dở
trên
tay.
Dù
tôi
đã
dè
chừng
đến
sớm
so
với
giờ
hẹn
nhưng
có
vẻ
ông
còn
cẩn
thận
hơn.
Cái
sự
lịch
lãm,
không
muốn
để
phụ
nữ
phải
chờ
đợi
thế
này
chắc
chỉ
còn
sót
lại
ở
những
nghệ
sĩ
già
như
ông,
những
người
đã
đi
qua
hết
thời
vàng
son
của
nhạc
Việt,
trở
thành
một
phần
của
nó
nhưng
lại
khiêm
nhường
vô
cùng.
Với
Nguyễn
Ánh
9,
âm
nhạc
đã
trở
nên
thân
gần
như
hơi
thở,
đến
độ
từng
có
thời
ông
tâm
niệm
“âm
nhạc
luôn
là
trên
hết,
sau
mới
tới
gia
đình”.
Bỏ
gia
đình
để
theo
âm
nhạc
Chú
có
nhớ
mình
bắt
đầu
làm
quen
với
cây
đàn
piano
từ
khi
nào
không
ạ?
Đó
là
thời
gian
tôi
học
ở
Đà
Lạt.
Cuộc
sống
phố
núi
cho
tôi
một
nhân
sinh
quan
khác,
khung
cảnh
thơ
mộng
tại
đó
giúp
tôi
nhận
ra
cuộc
đời
sao
đẹp
và
thi
vị
quá.
Mê
mẩn
cây
đàn
piano
nên
tôi
mày
mò
học,
chẳng
ngại
khó
dù
không
có
thầy
nào
dạy.
Tự
học
nhạc
lý,
rồi
vẽ
phím
đàn
lên
tấm
giấy
cạc-tông
để
tập.
May
mắn
sao
ở
Đà
Lạt
tôi
gặp
được
nhạc
sĩ
Phạm
Nguyên,
ông
dẫn
dắt
tôi
đi
đàn
một
số
bài
hát
thiếu
nhi.
Chú
từng
nói
âm
nhạc
là
ưu
tiên
số
một
rồi
mới
đến
gia
đình,
phải
chăng
có
một
biến
cố
nào
buộc
chú
phải
chọn
lựa?
Cái
thời
của
tôi,
mọi
người
vẫn
nghĩ
“xướng
ca
vô
loài”
nên
cha
mẹ
rất
khắt
khe
với
những
đứa
con
có
thiên
hướng
nghệ
thuật.
Nhưng
tôi
lại
nghĩ
rằng,
nghề
nào
cũng
có
cái
đẹp
nếu
mình
sống
đúng
với
cái
tâm
và
niềm
đam
mê.
Nghĩ
vậy,
năm
18
tuổi,
dù
gia
đình
không
chấp
nhận
nhưng
vì
mê
nhạc,
mê
đàn,
tôi
bỏ
hết
mọi
ràng
buộc,
bổn
phận
làm
con
để
đi
theo
con
đường
tâm
nguyện.
Tôi
muốn
chứng
minh
cho
gia
đình
thấy
công
việc
đàn
ca
không
có
gì
xấu.
Với
lại
ra
đi
cũng
là
cách
để
gia
đình
không
bị
tổn
thương
vì
lựa
chọn
của
mình.
.
Đang
là
công
tử
quen
được
chu
cấp,
chú
xoay
xở
thế
nào
với
cuộc
đời
“đi
bụi”?
Tôi
là
dân
học
trường
Tây
nên
đã
được
rèn
luyện
và
quen
với
lối
sống
tự
lập.
Ban
đêm
tôi
chơi
nhạc
rồi
ngủ
luôn
ở
phòng
trà
Anh
Vũ,
ban
ngày
mượn
đàn
tập.
Thời
gian
làm
ở
đây,
tôi
quen
Trịnh
Công
Sơn,
lúc
này
cũng
đang
đi
“bụi
đời”
giống
tôi.
Đó
là
năm
1958,
anh
Sơn
bắt
đầu
sáng
tác
tình
ca
và
đang
viết
Ướt
mi
cho
Thanh
Thúy
hát.
Khánh
Ly
khi
ấy
chỉ
là
một
ca
sĩ
hát
lót.
Hàng
ngày,
tôi
đệm
đàn
cho
anh
Sơn
hát
nghêu
ngao.
Sau
này
về
Sài
Gòn,
tôi
có
một
người
bạn
là
nhạc
sĩ
Bùi
Quang
Linh.
Anh
ấy
tốt
nghiệp
khóa
piano
đầu
tiên
của
Nhạc
viện
Thành
phố.
Mỗi
lần
đi
chơi
nhạc
ở
phòng
trà,
anh
ấy
rủ
tôi
theo
để
tôi
vừa
học
nghề
và
đàn
giúp
ảnh
một
vài
bài
lúc
rỗi.
Riết
rồi
quen,
khi
anh
Quang
Linh
có
học
bổng
đi
Ý,
vị
trí
của
anh
ấy
trong
ban
nhạc
bị
trống,
những
người
chủ
phòng
trà
thấy
tôi
quen
việc
nên
kêu
thế
chỗ
luôn.
Cứ
như
vậy,
tôi
thành
nhạc
công
từ
lúc
nào
không
hay.
Tôi
cứ
đi
diễn
từ
phòng
trà
này
qua
phòng
trà
khác,
rồi
được
anh
Phạm
Đình
Chương,
anh
Hoài
Bắc
dạy
thêm
về
hòa
âm.
Làm
cách
nào
chú
thoát
khỏi
kiếp
nhạc
công
lang
thang
đó?
Lúc
ấy,
tôi
nghĩ
muốn
vươn
lên
không
thể
đệm
nhạc
ở
phòng
trà
hoài
nên
bèn
qua
các
vũ
trường
để
học
nghề
các
ban
nhạc
Phi
Luật
Tân
(Philippines),
vừa
trau
dồi
thêm
kinh
nghiệm,
vừa
tranh
thủ
xin
đàn
ké
lúc
rảnh.
Một
lần,
ông
nhạc
trưởng
mà
chúng
tôi
thường
gọi
bằng
tên
thân
mật
là
Papa
bảo
với
tôi
rằng:
“Có
một
người
trong
ban
nhạc
phải
về
nước,
mày
có
muốn
vô
không?”.
Tôi
trả
lời
ngay:
“Được
thế
thì
tôi
mừng
quá
xá”.
Bởi
vì
thời
điểm
đó,
nhạc
công
của
Phi
Luật
Tân
“có
giá”
hơn
so
với
nhạc
công
Việt
Nam,
tiền
cát-sê
cũng
cao
gấp
đôi
gấp
ba,
nên
được
vào
một
ban
nhạc
của
họ
là
điều
rất
hãnh
diện.
Lúc
đầu
tôi
chỉ
được
đệm
đàn
thôi,
vì
hễ
xin
Papa
cho
đàn
một
khúc
độc
tấu
là
ổng
lắc
đầu
liền.
Ổng
nói:
“Mày
cứ
lo
phần
đệm
của
mày
đi,
chừng
nào
chắc
chắn
rồi
hẵng
tính.
Khi
ngày
đó
đến,
tao
sẽ
cho
liền,
mày
khỏi
phải
xin”.
Cứ
như
vậy
suốt
3
-
4
năm,
ban
ngày
tôi
tập,
ban
đêm
đàn
đệm,
rồi
dần
dần
Papa
mới
cho
tôi
độc
diễn
4
khuôn
nhạc,
dần
lên
8
khuôn,
rồi
16
khuôn...
sau
đó
mới
được
solo
cả
bài.
Đến
khi
tôi
đạt
trình
độ
cả
ban
nhạc
đệm
cho
tôi
độc
tấu
thì
Papa
nói:
“Bây
giờ
mày
đủ
lông
đủ
cánh
rồi,
cứ
bay
nhảy
đi
chứ
tao
không
giữ
mày
được
nữa.
Mày
ra
đời
và
tự
lập
cho
mình
một
ban
nhạc.
Cứ
mạnh
dạn,
nếu
thất
bại
thì
trở
về
đây
với
tao”.
Vậy
là
tôi
đi!
Chú
có
lập
ban
nhạc
riêng
theo
lời
khuyên
của
Papa?
Lúc
đó
dù
nghe
lời
Papa
nhưng
tôi
vẫn
sợ
lắm
vì
còn
trẻ
người
non
dạ.
Tôi
tìm
một
số
nhạc
sĩ
đồng
trang
lứa
như
Duy
Khiêm,
Nguyễn
Văn
Hậu,
Quốc
Thái...
lập
thành
ban
Nguyễn
Ánh
9.
Chắc
trời
thương
nên
chúng
tôi
trở
thành
ban
nhạc
Việt
được
yêu
cầu
đi
diễn
nhiều
nhất
tại
các
phòng
trà,
vũ
trường
Sài
Gòn.
Sau
này,
tôi
có
hợp
tác
với
ban
Shotguns
một
thời
gian
nhưng
không
hợp
nên
quay
lại
với
ban
nhạc
của
mình.
Có
phải
ban
Shotguns
mà
chú
vừa
nói
là
của
Ngọc
Chánh,
Elvis
Phương?
Duyên
cớ
nào
đưa
chú
đến
với
lối
rẽ
này?
Đầu
năm
1970
ở
Sài
Gòn,
phòng
trà
đang
rất
thịnh,
mỗi
ca
sĩ
đóng
đô
một
nơi,
như
Lệ
Thu
hát
ở
Tự
Do,
Khánh
Ly
hát
ở
Kim
Biên.
Tôi
gặp
lại
Khánh
Ly,
lúc
này
đã
nổi
tiếng
nhờ
hát
nhạc
Trịnh.
Ly
rủ
tôi
về
làm
việc
chung
với
cô
ấy
và
ban
nhạc
Shotguns
của
Elvis
Phương,
Ngọc
Chánh
và
Hoàng
Liêm.
Tôi
hợp
tác
thâu
băng
với
Shotguns
và
đệm
đàn
cho
Khánh
Ly
hát.
Tôi
chỉ
là
người
viết
ca
khúc,
đâu
phải
nhạc
sĩ!
Hình
như
cuộc
hội
ngộ
với
Khánh
Ly
cũng
đưa
chú
từ
nhạc
công
trở
thành
nhạc
sĩ?
Trước
tiên,
tôi
nghĩ
mình
không
phải
là
nhạc
sĩ
sáng
tác
mà
chỉ
là
người
viết
ca
khúc
nhẹ
nhàng
thôi.
Làm
nhạc
sĩ
khó
vô
cùng,
phải
uyên
bác,
phải
có
vốn
hòa
âm,
phải
học
hành
về
âm
nhạc...
Lúc
đó,
tôi
cùng
anh
Trịnh
Công
Sơn
và
Khánh
Ly
là
bộ
ba
thân
nhau
lắm.
Trịnh
Công
Sơn
sáng
tác,
Khánh
Ly
hát
còn
tôi
đệm
đàn.
Tháng
8.1970,
Khánh
Ly
được
mời
qua
Nhật
biểu
diễn
ca
khúc
Diễm
xưa,
anh
Sơn
không
đi
được,
nên
chỉ
có
tôi
và
Khánh
Ly
sang
đó.
Trong
lúc
chờ
thang
máy
lên
khách
sạn,
Ly
mới
hỏi
tôi:
“Chứ
mày
còn
yêu
người
đó
không?”.
Ý
cô
ấy
là
tôi
còn
tình
cảm
với
người
yêu
cũ
nữa
không.
Sẵn
đàn
guitar
trong
tay,
tôi
rã
hợp
âm,
ngẫu
hứng
hát:
“Không,
không,
tôi
không
còn
yêu
em
nữa”.
Xong
tôi
và
Khánh
Ly
ôm
nhau
cười.
Khi
về
lại
Sài
Gòn,
Khánh
Ly
được
mời
hát
đại
nhạc
hội
vì
sau
thành
công
của
bài
hát
Diễm
xưa
tại
Nhật,
cô
ấy
trở
thành
hiện
tượng
của
làng
nhạc.
Khánh
Ly
chỉ
chuyên
hát
nhạc
của
anh
Sơn,
trong
khi
không
khí
đại
nhạc
hội
lại
không
hợp
với
nhạc
Trịnh,
vậy
sau
khi
hát
Diễm
xưa
xong
biết
hát
tiếp
bài
gì?
Lúc
đó,
cô
ấy
nói
với
tôi:
“Ánh,
cái
bài
gì
mà
Không,
không...
mày
hát
hôm
bữa
bên
Nhật,
viết
thêm
khúc
nữa
coi
bộ
ăn
khách
đại
nhạc
hội”.
Nghe
vậy,
tôi
bèn
ngồi
viết
liền
khúc
giữa,
không
ngờ
diễn
xong
khán
giả
thích
quá,
còn
yêu
cầu
hát
lại.
Lúc
đó,
ông
Ngọc
Chánh
trưởng
ban
Shotguns,
nhạy
lắm,
ông
nói:
“Cái
bài
này
ăn
khách
nè,
giờ
in
ra
bán
đi”.
Khi
đó
Elvis
Phương
chỉ
hát
nhạc
nước
ngoài,
mới
quay
ra
tập
bài
Không,
xong
thâu
băng
cối.
Băng
phát
hành,
bài
Không
và
Elvis
Phương
dựa
nhau
nổi
lên
như
cồn.
Đó
cũng
là
lúc
tôi
lấy
nghệ
danh
Nguyễn
Ánh
9.
Có
vài
“truyền
thuyết”
về
số
9
sau
nghệ
danh
của
chú,
nghe
nói
tên
đó
do
người
yêu
cũ
của
chú
đặt
cho?
(Cười)
Tôi
quan
niệm
người
đàn
ông
trước
khi
lập
gia
đình
và
sau
khi
bước
qua
ngưỡng
cửa
hôn
nhân
là
hai
người
đàn
ông
khác.
Một
người
bồng
bột
và
một
người
chín
chắn.
Từ
người
nhạc
công
trở
thành
người
viết
ca
khúc
cũng
như
vậy.
Chữ
Nguyễn
Ánh
cũng
có
9
ký
tự.
Ngày
9
cũng
là
ngày
tôi
cưới
vợ.
Với
tôi,
cưới
được
vợ
là
chuyện
may
mắn
nên
lấy
nghệ
danh
này
tôi
cũng
mong
muốn
mình
sẽ
giữ
được
may
mắn
đó.
Đàn
ông
thành
gia
lập
thất
là
chuyện
thường
tình,
sao
chú
lại
nói
mình
may
mắn
mới
cưới
được
vợ?
Vợ
tôi
là
một
người
nghệ
sĩ,
khi
một
người
nghệ
sĩ
phải
giã
từ
sân
khấu,
cảm
giác
đau
xót
lắm.
Bà
ấy
cưới
tôi,
sinh
con
rồi
nghỉ
làm
ở
nhà
lo
cho
con
cái
luôn.
Mỗi
khi
đi
diễn
ở
phòng
trà,
tôi
thường
rủ
vợ
đi
cùng
nhưng
bà
ấy
cứ
từ
chối,
bảo
mệt
hoặc
viện
cớ
ở
nhà
chăm
con.
Sau
này,
có
thời
gian
tôi
muốn
giải
nghệ,
nhưng
ở
nhà
được
một
tháng
thì
tay
chân
ngứa
ngáy,
nhớ
ánh
đèn
sân
khấu.
Lúc
đó,
tôi
mới
nghiệm
ra
bà
ấy
không
muốn
đi
theo
tôi
vì
nhìn
ánh
đèn
sân
khấu
sẽ
rất
nhớ
nghề.
Tôi
luôn
nhận
ra
mọi
thứ
thật
muộn
màng.
Bây
giờ
làm
được
gì
cho
bà
ấy
vui
tôi
đều
sẵn
sàng
làm.
Hóa
ra
vợ
chú
cũng
từng
là
nghệ
sĩ?
Vợ
tôi
là
một
trong
số
những
người
phụ
nữ
đầu
tiên
ở
Việt
Nam
nhảy
thiết
hài
(còn
gọi
là
tap
dance,
một
kiểu
nhảy
với
giày
có
gót
và
mũi
bọc
sắt,
gõ
mạnh
xuống
sàn
tạo
những
tiết
tấu
phong
phú,
kết
hợp
với
động
tác
cơ
thể).
Tôi
quen
bà
ấy
trong
thời
gian
làm
ở
phòng
trà
Anh
Vũ.
Tôi
đàn,
vợ
tôi
nhảy,
thấy
hợp
nên
đến
với
nhau.
Người
ta
nói
xướng
ca
vô
loài,
nên
hai
đứa
thử
xáp
lại
coi
có...
vô
loài
không
(cười).
Đó
cũng
là
câu
trả
lời
tôi
dành
cho
gia
đình.
Cho
tới
bây
giờ
tôi
vẫn
hãnh
diện
trong
giới
nghệ
sĩ,
tôi
là
người
đàng
hoàng.
Đàng
hoàng
nhất
trong
những
kẻ
đàng
hoàng,
chứ
không
phải
đàng
hoàng
nhất
trong
những
kẻ
bê
bối.
Tôi
trở
về
nhà
sau
chừng
đó
năm
để
xin
phép
cưới
cô
ấy
làm
vợ.
Tôi
nghĩ
có
những
cuộc
sắp
xếp
của
tạo
hóa
để
mình
có
cơ
hội
trở
về
với
gia
đình.
Chú
vì
âm
nhạc
mà
sẵn
sàng
bỏ
nhà
ra
đi,
nhưng
khi
cưới
vợ
vẫn
quay
về
xin
phép?
Không
phải
mình
sống
tự
do
rồi
quên
mất
truyền
thống
của
ông
bà
để
lại.
Đâu
thể
thích
thì
cưới,
không
biết
hai
bên
tôn
ti
họ
hàng.
Tôi
nghĩ
ai
cũng
có
quyền
hãnh
diện
khi
lấy
vợ
và
được
cha
mẹ
dẫn
đi
hỏi
cưới.
Gia
đình
chấp
nhận
đón
chú
trở
về
ngay
mà
không
trách
cứ
gì
sao,
vả
lại
con
dâu
cũng
là
nghệ
sĩ,
chẳng
lẽ
ba
mẹ
không
phản
đối
?
Cũng
có
nhiều
tranh
cãi
nhưng
nước
mắt
chảy
xuôi
mà,
đâu
có
bố
mẹ
nào
trách
cứ
con
cái
mãi.
Có
một
chuyện
thế
này,
nói
ra
để
hiểu
lòng
bậc
làm
cha
mẹ.
Trong
thời
gian
tôi
đi
bụi,
mẹ
thường
trốn
ba
chạy
xuống
phòng
trà
xem
tôi
ăn
ở
thế
nào,
lâu
lâu
dúi
cho
một
ít
tiền.
Nhưng
ba
tôi
thì
nghiêm
khắc
lắm,
ông
không
nhìn
mặt
tôi.
Ngay
cả
sau
này
ông
cũng
chẳng
sốt
sắng
gì
trong
việc
tôi
trở
thành
nhạc
công,
rồi
người
viết
ca
khúc
nổi
tiếng.
Ngày
ông
mất,
tôi
vừa
sang
Pháp
được
mấy
ngày
để
viết
nhạc
cho
một
bộ
phim.
Người
nhà
gọi
qua
nhưng
tôi
đâu
có
bỏ
về
liền
được.
Một
tháng
sau
trở
về,
tôi
mới
biết
trong
ngăn
tủ
ở
căn
phòng
của
ba
là
tất
cả
những
bài
hát
tôi
viết.
Ông
giữ
lại
hết.
Tôi
vô
tâm
nên
không
biết
đến
tình
cảm
ông
dành
cho
tôi.
Tôi
đã
hiểu
sai,
đã
trách
lầm,
đã
không
biết
rằng
người
cha
nào
cũng
muốn
cho
con
mình
một
cuộc
sống
tốt
đẹp
hơn,
chứ
không
ghét
bỏ
gì
mình
hết.
Đâu
ai
muốn
con
mình
đi
vào
con
đường
không
có
tương
lai.
Đó
là
niềm
ân
hận
lớn
nhất
trong
đời
tôi.
Như
tôi
cũng
đã
nói,
dường
như
khi
mình
nhận
ra
thì
mọi
thứ
đã
quá
muộn
màng...
Cám
ơn
những
chia
sẻ
của
chú.
Mã
an
toàn:

13/4 đến rồi 13/4 về cũng như ngày Tết vậy, sinh nhật web lần thứ 22 của web cailuongvietnam.com lại đến, xin chúc trang web và Àdmin luôn được nhiều sức khoè. được sự tin yêu của bạn đọc và luôn là nơi dừng bước của khách mộ điệu nghệ thuật cải lương, quá khứ vàng son hay một tương lai vô định với những giấy phút tìm về, trăn trổ hướng đi, phát triển... hay chỉ thư giản thôi.
Ý kiến bạn đọc