13/4
đến
rồi
13/4
về
cũng
như
ngày
Tết
vậy,
sinh
nhật
web
lần
thứ
22
của
web
cailuongvietnam.com
lại
đến,
xin
chúc
trang
web
và
Àdmin
luôn
được
nhiều
sức
khoè.
được
sự
tin
yêu
của
bạn
đọc
và
luôn
là
nơi
dừng
bước
của
khách
mộ
điệu
nghệ
thuật
cải
lương,
quá
khứ
vàng
son
hay
một
tương
lai
vô
định
với
những
giấy
phút
tìm
về,
trăn
trổ
hướng
đi,
phát
triển...
hay...
Xem
tiếp...
Út
Bạch
Lan
-
Hà
Bửu
Tân
bất
tử
với
"Xuân
đất
khách"
Dù
mê
hay
không
mê
tài
tử
cải
lương,
thì
người
Việt
xa
quê
vẫn
ấm
lòng
khi
được
nghe
mấy
câu
vọng
cổ.
Cứ
vào
dịp
Tết
nguyên
đán,
thì
nhu
cầu
được
sưởi
ấm
bằng
điệu
vọng
cổ
du
dương
của
bà
con
lại
trỗi
dậy.
Trong
cái
không
khí
ngày
Tết
ấy,
bài
được
thích
nhất
có
lẽ
là
bài
“Xuân
Đất
Khách”,
một
bài
ca
hoài
niệm
cố
hương,
không
ướt
át
bi
lụy
mà
đủ
đưa
con
tim
người
nghe
vào
trời
thương
biển
nhớ.
Ngoài
nghiệp
cầm
viết,
ông
còn
đeo
mang
cái
nghiệp
cầm
đàn.
Nếu
trong
nghề
soạn
giả
ông
được
tôn
xưng
là
“Vua”,
thì
trong
nghề
đàn,
dân
mê
cổ
nhạc
ai
mà
không
biết
đến
danh
cầm
Bảy
Bá
với
tuyệt
cú
đàn
tranh
độc
nhất
vô
nhị,
ngón
đàn
đã
đưa
ông
vào
danh
sách
“Tam
hùng”
trong
làng
đàn
cổ
nhạc
cùng
với
hai
danh
cầm
Văn
Vĩ
và
Năm
Cơ.
Tản
mạn
về
tác
giả
bài
Xuân
đất
khách
Tay
đàn
thật
ra
là
một
thế
mạnh
đưa
Viễn
Châu
đến
sự
thành
công
trong
soạn
lời
vọng
cổ,
bởi
vì
một
trong
những
con
ách
chủ
bài
giúp
những
bài
vọng
cổ
của
ông
được
đông
đảo
giới
mộ
điệu
yêu
mến,
đó
chính
là
sự
đơn
giản
trong
lời
ca
và
sự
“vào
khuôn”
trong
cách
đặt
câu
sắp
chữ.
Lời
văn
trong
bài
vọng
cổ
của
Viễn
Châu
thường
nằm
gọn
trong
khuôn,
với
cách
bố
trí
âm
bằng
trắc
rất
phù
hợp
tạo
sự
dễ
dàng
cho
người
ca,
giúp
người
ca
có
thể
tựa
vào
đó
để
nhảy
múa
trên
dây
đàn.
Không
chỉ
có
thế,
Viễn
Châu
còn
là
bậc
thầy
“đo
ni
đóng
giày”
bởi
ông
tùy
theo
giọng
ca
và
cách
ca
của
từng
nghệ
sĩ
mà
đặt
lời
văn
phù
hợp,
giúp
cho
người
ca
có
thể
phát
huy
được
thế
mạnh
của
mình
để
chinh
phục
khán
giả.
Bởi
vậy
mà,
hễ
bài
ca
ông
soạn
riêng
cho
một
nghệ
sĩ
ca,
thì
nghệ
sĩ
khác
dù
cũng
thuộc
hàng
cây
đa
cây
đề,
cũng
không
thể
hiện
được
bài
đó
hay
bằng
người
mà
bài
ca
của
Viễn
Châu
nhắm
đến.
Bài
ca
theo
kiểu
đo
ni
đóng
giày
của
Viễn
Châu
đã
đưa
không
biết
bao
nhiêu
nghệ
sĩ
trở
nên
nổi
tiếng.
Điểm
lại
những
nghệ
sĩ
bậc
nhất
của
thế
hệ
vàng,
thử
hỏi
có
mấy
ai
“thoát
khỏi
tay”
của
Viễn
Châu:
Út
Trà
Ôn-Tình
Anh
Bán
Chiếu,
Út
Bạch
Lan-Lan
và
Điệp,
Diệu
Hiền-Tần
Quỳnh
Khóc
Bạn,
Lệ
Thủy-Cô
gái
bán
sầu
riêng,
Mỹ
Châu-Hòn
Vọng
Phu,
Minh
Cảnh-Tu
là
cội
phúc,
Thanh
Sang-Người
đánh
đàn
trên
Bắc
Mỹ
Thuận,
Minh
Vương-Lòng
dạ
đàn
bà
….
Vừa
rồi,
các
nghệ
sĩ
từng
được
bài
ca
Viễn
Châu
chấp
cánh
đã
cùng
nhau
tổ
chức
một
đêm
cổ
nhạc
tại
quê
hương
Trà
Vinh
của
ông.
Trên
sân
khấu
bé
nhỏ
ngoài
trời
đêm
ấy
đã
xuất
hiện
hầu
như
tất
cả
những
nghệ
sĩ
bậc
nhất
của
thế
hệ
vàng
và
những
nghệ
sĩ
hàng
đầu
trong
các
thế
hệ
kế
cận.
Có
người
hỏi
vui
:
Mời
một
lần
mà
nhiều
nghệ
sĩ
gạo
cội
như
thế
thì
chắc
phải
bán
ba
cái
chung
cư
mới
đủ
trả
tiền
thù
lao
?
Thế
nhưng,
tất
cả
những
nghệ
sĩ
này
đều
tình
nguyện
tham
gia
hát
không
nhận
thù
lao,
bởi
vì
họ
hát
cho
chính
người
thầy
thân
yêu
của
họ.
Chỉ
nói
cái
công
Viễn
Châu
chấp
cánh
cho
những
nghệ
sĩ
này
thôi
thì
cải
lương
biết
lấy
gì
đền
ơn
ông
cho
vừa,
cho
đủ
!
Xuân
đất
khách,
một
tuyệt
phẩm
của
Viễn
Châu
Nếu
phải
xếp
hạng
trong
gia
tài
hơn
2000
bài
vọng
cổ
của
Viễn
Châu,
thì
Xuân
đất
khách
quả
thật
phải
được
lọt
vào
«
tốp
ten
».
Còn
nếu
nói
về
những
bài
vọng
cổ
viết
về
tâm
sự
người
xa
xứ,
thì
Xuân
đất
khách
của
Viễn
Châu
phải
được
xếp
số
1,
về
tính
văn
học
và
tính
súc
tích
của
lời
ca,
về
sức
hấp
dẫn
đối
với
người
nghe
và
về
sức
sống
của
nó
trong
thời
đại.
Chúng
ta
biết
rằng
một
trong
những
nét
đặc
trưng
trong
phong
cách
Viễn
Châu
đó
là
ca
từ
của
ông
rất
vô
khuôn
và
rất
dễ
nhớ.
Bài
Xuân
đất
khách
đã
thể
hiện
được
nét
đặc
trưng
này.
Chính
cũng
vì
thế
mà
những
người
dạy
và
người
học
ca
vọng
cổ
thường
chọn
sử
dụng
bài
của
ông.
Xuân
đất
khách
cũng
vậy,
đây
là
một
bài
hát
có
ca
từ
đẹp
mà
lại
còn
dễ
cho
người
ca
trong
cách
sắp
chữ,
nên
người
ca
và
người
nghe
đều
có
thể
thể
hiện
và
theo
dõi
dễ
dàng.
Ở
đây
có
một
điểm
đáng
chú
ý,
đó
là
:
Vọng
cổ
là
tự
sự,
tức
một
bài
vọng
cổ
phải
có
cốt
truyện
rõ
ràng,
người
nghệ
sĩ
thể
hiện
bài
ca
tức
là
đang
kể
lại
cho
người
nghe
một
câu
chuyện
gì
đó,
bởi
vậy
mà
người
ca
cũng
dễ
nhớ
và
người
nghe
cũng
dễ
theo
dõi,
không
bị
lan
man.
Bài
Xuân
đất
khách
dù
có
chủ
đề
rõ
ràng
là
thể
hiện
nỗi
nhớ
quê
hương,
nhưng
nó
lại
không
hề
theo
trình
tự
của
một
câu
chuyện
cụ
thể,
tức
không
có
thứ
tự
tình
tiết
câu
chuyện,
mà
chỉ
là
sự
thố
lộ
tâm
tình
của
người
nhớ
quê
hương,
tức
là
người
ca
khó
mà
dựa
vào
một
lô
gích
gì
đó
để
nhớ
bài
ca,
còn
người
nghe
thì
cũng
không
thể
bám
vào
thứ
tự
các
tình
tiết
cốt
truyện
để
theo
dõi.
Thế
mà
lạ
thay,
Xuân
đất
khách
lại
có
lời
văn
rất
dễ
nhớ,
người
ca
rất
dễ
thuộc,
người
nghe
rất
dễ
theo
dõi
!
Đó
chính
là
cái
thần
tình
của
Viễn
Châu.
Cũng
đúng
thôi,
vì
ông
không
dựa
vào
cái
lô
gích
kể
chuyện
chung
chung
mà
là
vào
“lô
gích”
tình
cảm,
mà
«
lô
gích
»
tình
cảm
thì
lại
không
có
lô
gích.
Nói
cách
khác
Viễn
Châu
đã
đứng
trong
cái
tình
cảm
chung
nhất
của
người
Việt
xa
quê
để
viết
Xuân
đất
khách
bằng
việc
gợi
lên
những
sự
vật
mà
khi
còn
sống
ở
quê
hương
thì
người
ta
thường
thấy
nó
bình
thường,
còn
khi
xa
xứ
thì
bỗng
nhiên
thấy
nhớ
thương
da
diết,
như
hình
ảnh
của
những
dưa
hấu
Gò
Công,
bưởi
Biên
Hòa,
rượu
bà
Điểm,
cành
mai
nở
ngày
Tết
…
Một
bí
quyết
cho
sự
thành
công
của
Viễn
Châu
như
ông
đã
thú
nhận,
đó
là
khi
viết
mỗi
bài
hát
ông
đều
cố
gắng
hóa
thân
thành
nhân
vật
trong
bài
hát
đó.
Và
như
vậy
thì
Viễn
Châu
đã
hóa
thân
thật
sự
thành
công
trong
bài
Xuân
đất
khách
!
Một
bí
quyết
mà
theo
ông
thì
«
chả
có
gì
là
bí
quyết
»,
nhưng
không
phải
soạn
giả
nào
làm
cũng
được.
Xuân
đất
khách
là
một
bài
vọng
cổ
rất
ăn
khách,
nhất
là
đối
với
nghệ
sĩ
lưu
diễn
ở
nước
ngoài
mỗi
dịp
tết
Nguyên
Đán.
Nội
dung
bài
ca
này
không
quá
bi
ai
mà
chỉ
là
nỗi
lòng
nhớ
quê
hương
da
diết,
lời
văn
bài
ca
gợi
nhớ
đến
những
điều
gần
gũi
thân
thương
nơi
quê
cha
đất
tổ,
lại
không
có
mang
yếu
tố
tôn
giáo
hay
chính
trị,
bởi
vậy
ai
nghe
cũng
được,
nghe
xong
rồi
thích,
thích
xong
rồi
nhớ,
nhớ
xong
rồi
lại
tự
ca
trong
lòng
mỗi
lúc
xuân
về.
Ca
không
phải
để
làm
cho
ngày
xuân
trở
nên
buồn
bã,
mà
là
để
nhớ
đến
những
gì
thân
thương
mộc
mạc
nơi
chôn
nhau
cắt
rốn,
để
lắng
đọng
tâm
tư
sau
một
năm
bôn
ba
làm
lụng,
để
tạm
gát
lại
mọi
bồn
bề
của
của
sống
mà
nhớ
về
cội
nguồn
gốc
rễ,
bởi:
“Cây
có
gốc
mới
nở
cành
xanh
cội,
nước
có
nguồn
mới
bể
rộng
sông
sâu”.
Sầu
nữ
Út
Bạch
Lan
“sầu”
cùng
Xuân
đất
khách
Út
Bạch
Lan
được
xem
là
người
thể
hiện
thành
công
nhất
bài
Xuân
đất
khách.
Út
Bạch
Lan
được
mệnh
danh
là
“Nữ
vương
sầu
nữ”,
và
đến
giờ
này
chưa
ai
thay
thế
cái
vương
hiệu
đó
của
cô.
Vào
những
thập
niên
thập
niên
1950-1960,
Út
Bạch
Lan
và
Thanh
Hương
hợp
cùng
với
đàn
anh
Út
Trà
Ôn
đã
trở
thành
những
giọng
ca
vàng
ăn
khách
nhất
trên
đĩa
hát.
Út
Bạch
Lan
là
người
có
số
lượng
vai
diễn
và
bài
ca
đóng
cặp
với
Út
Trà
Ôn
trên
các
hãng
đĩa
nhiều
nhất
của
thế
kỷ
trước.
Còn
nếu
như
phải
bầu
chọn
cho
những
cặp
đào
kép
thành
công
nhất,
thì
có
lẽ
xếp
hàng
đầu
không
thể
nào
thiếu
được
cặp
đào
kép
Út
Trà
Ôn-Út
Bạch
Lan.
Chưa
hết,
Út
Bạch
Lan
được
xem
là
người
đã
cùng
với
Út
Trà
Ôn
mở
đường
đưa
bản
vọng
cổ
nhịp
32
lên
tới
đỉnh
cao
trong
hệ
thống
bài
bản
cải
lương.
Bàn
về
chất
giọng,
ta
thấy
Út
Bạch
Lan
có
chất
giọng
kim
pha
thổ
(kim
nhiều
thổ
ít)
nên
giọng
trong
trẻo,
lảnh
lót
có
pha
chút
trầm
buồn.
Cô
đã
biết
khai
thác
triệt
để
thế
mạnh
này
để
đạt
đến
danh
hiệu
“Nữ
vương
sầu
nữ”.
Thế
nhưng,
chỉ
có
giọng
ca
thôi
còn
chưa
đủ
để
đạt
đến
vương
hiệu
đó,
bởi
ngoài
giọng
ca
thiên
phú
thì
kỹ
thuật
ca
của
Út
Bạch
Lan
cũng
thuộc
hàng
thượng
thừa.
Bộ
nhịp
của
cô
thì
khỏi
chê.
Cách
hành
văn
sắp
chữ
của
cô
rất
điêu
luyện.
Cô
ca
luyến
láy
một
cách
thần
tình
:
luyến
láy
đúng
nơi
đúng
chỗ
và
vừa
đủ,
không
bị
thô,
luyến
láy
theo
kiểu
«
đứt
dây
đờn
».
Cách
điều
hơi
của
Út
Bạch
Lan
cũng
đáng
nể
:
Nghe
Út
Bạch
Lan
ca,
ta
không
thấy
cô
phải
ráng
hơi,
cô
ca
như
nói,
ca
rất
tự
nhiên.
Đặc
biệt
Út
Bạch
Lan
có
cách
nhấn
dấu
sắc
lửng
rất
hay,
vút
lên
rồi
nhẹ
nhàng
rơi
rơi
một
các
lả
lướt.
Tuy
nhiên
nét
đặc
trưng
nhất
của
Út
Bạch
Lan
mà
đến
giờ
này
chưa
thấy
có
ai
ca
giống
và
ca
hay
như
vậy,
đó
là
cách
cô
xuống
xề
ở
câu
5
và
câu
6
rất
thấp,
rất
trầm,
cô
phát
huy
hết
chất
đồng
trong
giọng
ca
của
mình
và
cô
đã
tạo
ra
cách
xuống
xề
hay
đến
mức
mà
người
nghe
chữ
cô
xuống
xề
như
hòa
tan
vào
tiếng
đàn,
như
biến
mất
trong
chữ
xề
của
cung
đàn,
nói
chung
là
nghe
là
biết
ngay
đó
là
cách
xuống
xề
thần
sầu
của
Út
Bạch
Lan.
Những
năm
gần
đây,
Út
Bạch
Lan
có
nhận
một
đệ
tử
chân
truyền
đó
là
nghệ
sĩ
Phương
Hồng
Thủy.
Và
đến
hiện
tại,
có
thể
nói
lối
ca
của
Phương
Hồng
Thủy
đã
bị
ảnh
hưởng
rất
nhiều
từ
thầy
mình,
nhất
là
lối
xuống
xề
nói
trên.
Nói
về
bài
Xuân
đất
khách,
thì
những
cái
gì
đặt
trưng
nhất
trong
giọng
ca
Út
Bạch
Lan
đã
được
cô
gói
gọn
trong
bài
ca
này:
độ
sầu
đến
«
quỷ
khốc
thần
sầu
»,
độ
mùi
đến
mùi
mẫn,
lối
ca
điêu
luyện,
cách
hành
văn
sắp
chữ
độc
đáo,
lối
xuống
xề
tuyệt
cú
mèo.
Có
thể
nói
rằng,
nghe
Út
Bạch
Lan
ca
Xuân
đất
khách,
người
xa
quê
không
thể
nào
cầm
được
nước
mắt
mà
chỉ
muốn
mọc
ngay
đôi
cánh
để
bay
về
với
quê
hương,
còn
người
trong
nước
mà
nghe
cô
hát
bài
này
thì
ắt
hẳn
bắt
đầu
lo
sợ
cái
cảnh
làm
thân
xa
xứ.
Xuân
đất
khách
là
một
bài
hát
hay,
nên
có
rất
nhiều
nữ
nghệ
sĩ
bậc
nhất
của
thế
hệ
vàng
thể
hiện,
nhưng
để
đạt
được
độ
mùi
như
Út
Bạch
Lan
thì
quả
thật
là
chưa
có
ai.
Bài
Xuân
đất
khách,
có
thể
nói
rằng,
đó
là
một
trong
những
minh
chứng
cho
‘‘sự
trị
vì”
của
Út
Bạch
Lan
trong
vương
quốc
“Sầu
nữ”
của
sân
khấu
cải
lương.
Hà
Bửu
Tân,
tên
tuổi
bất
tử
cùng
Xuân
đất
khách.
Nhìn
sang
phía
nam
nghệ
sĩ,
ta
thấy
cũng
có
không
ít
người
thể
hiện
bài
Xuân
đất
khách.
Thế
nhưng,
công
tâm
mà
nói
thì
đến
giờ
phút
này,
người
thể
hiện
thành
công
nhất
có
lẽ
là
cố
nghệ
sĩ
Hà
Bửu
Tân.
Đây
là
một
nghệ
sĩ
khá
đặt
biệt
của
sân
khấu
cải
lương,
đặc
biệt
không
chỉ
vì
tài
ca
vọng
cổ
mà
còn
vì
số
phận
“tài
hoa
yểu
mệnh”
của
anh.
Khán
giả
ngày
nay
ít
ai
còn
nhớ
đến
Hà
Bửu
Tân
bởi
anh
đã
giả
biệt
thế
gian
vào
những
năm
1970,
ở
cái
tuổi
ngoài
hai
mươi,
vào
lúc
mà
giọng
ca
và
tài
năng
của
anh
đang
hồi
sung
mãn
nhất.
Làn
hơi
của
Hà
Bửu
Tân
có
nội
lực
rất
mạnh,
đài
từ
rõ
ràng,
ca
đúng
với
chuẩn
mực
«tròn
vành
rõ
chữ
».
Anh
ca
không
lạng
bẻ
mà
ca
rất
tự
nhiên,
rất
nhẹ
nhàng,
khiến
người
nghe
không
cảm
thấy
anh
ráng
hơi
bởi
thế
cũng
cảm
thấy
nhẹ
nhàng.
Đặc
biệt
hơn
hết
là
cách
nhã
chữ
rất
riêng
của
anh,
một
cách
nhã
chữ
nói
chung
là
«
rất
Hà
Bửu
Tân”.
Nếu
bên
nữ
nghệ
sĩ,
Nữ
hoàng
sân
khấu
Thanh
Nga
được
xem
là
người
có
lối
nhã
chữ
sang
trọng,
thì
bên
phía
nam
nghệ
sĩ
ta
thấy
có
Hà
Bửu
Tân.
Làn
giọng
của
anh
cũng
rất
sang
trọng
diễm
tình.
Vì
thế,
có
thể
nói,
Hà
Bửu
Tân
là
nam
nghệ
sĩ
cải
lương
có
giọng
ca
và
lối
ca
sang
trọng
và
diễm
tình
“xưa
nay
hiếm”.
Nói
về
kỹ
thuật
ca,
Hà
Bửu
Tân
được
dân
trong
nghề
cho
là
có
bộ
nhịp
rất
vững.
Bởi
thế
anh
mặc
sức
tung
hoành
trong
bài
ca
với
một
sự
điêu
luyện
thượng
thừa.
Ở
tuổi
của
Hà
Bửu
Tân
mà
có
được
bộ
nhịp
thượng
thừa
như
vậy
thì
cũng
quả
thật
là
“Xưa
nay
hiếm”.
Đặc
biệt
là
lối
sắp
chữ
của
anh,
anh
sắp
chữ
trong
lòng
câu,
và
xuống
song
lang
«
như
để
»,
nghe
mà
sướng
lỗ
tai.
Nhịp
nhàng
điêu
luyện,
đài
từ
rõ
ràng,
giọng
ca
diễm
tình
và
sang
trọng…
tất
cả
đã
tạo
cho
sân
khấu
cải
lương
một
Hà
Bửu
Tân
có
một
không
hai,
một
Hà
Bửu
Tân
mà
người
nghe
chỉ
nghe
một
lần
cũng
đã
thấy
như
là
«
đã
mê
tự
lâu
rồi
»,
một
giọng
ca
và
một
lối
ca
mang
đến
cho
người
nghe
cảm
giác
nhẹ
nhàng,
êm
dịu,
cho
người
nghe
được
thưởng
thức
nghệ
thuật
nhảy
múa
trên
dây
đàn
của
người
nghệ
sĩ.
Nói
về
độ
mùi,
giọng
ca
Hà
Bửu
Tân
có
độ
thẩm
thấu
cao,
thể
hiện
chất
mùi
của
bài
hát
rất
tuyệt,
khiến
người
nghe
bị
buồn
lây
hồi
nào
mà
không
biết.
Tuy
nhiên,
giọng
ca
Hà
Bửu
Tân
đầy
nam
tính
và
đầy
nội
lực,
trầm
buồn
nhưng
không
tạo
cảm
giác
bi
lụy.
Đó
là
một
lợi
thế
để
anh
tạo
dấu
ấn
riêng
trong
bài
Xuân
đất
khách.
Nếu
như
nghe
Út
Bạch
Lan
ca
Xuân
đất
khách
mà
người
nghe
phải
sa
nước
mắt
và
muốn
mọc
ngay
đôi
cánh
để
bay
về
với
quê
hương,
thì
khi
nghe
Hà
Bửu
Tân
ca
bài
này
ta
sẽ
cảm
thấy
có
một
nỗi
buồn
man
mác
đang
len
lỏi
vào
tâm
trí,
nó
không
đến
độ
khiến
cho
nước
mắt
phải
sa,
nhưng
đủ
để
nỗi
buồn
kia
thấm
khắp
cùng
thân
thể,
giúp
tâm
trí
mọc
thêm
đôi
cánh
để
bay
vào
thế
giới
suy
tư
và
hồi
tưởng.
Đó
là
dấu
ấn
“vô
tiền
khoán
hậu”
của
Hà
Bửu
Tân
trong
bài
Xuân
đất
khách.
Nói
đến
những
điều
«
xưa
nay
hiếm
»
trên,
ta
lại
càng
thêm
nuối
tiếc
vô
cùng
cho
sân
khấu
cải
lương
Nam
bộ,
bởi
vì
sự
ra
đi
của
Hà
Bửu
Tân
thật
sự
là
một
mất
mát
vô
cùng
to
lớn
cho
sân
khấu
cải
lương,
và
nhất
là
cho
bài
vọng
cổ.
Hà
Bửu
Tân
mất
sớm,
nên
hiện
tại
người
ta
cũng
chỉ
có
thể
nghe
được
giọng
ca
của
anh
trong
trong
vài
đĩa
cải
lương,
và
hai
bài
vọng
cổ
là
Xuân
đất
khách
và
Hạng
Võ
Sở
Bá
Vương,
cả
hai
bài
này
đều
do
soạn
giả
Viễn
Châu
sáng
tác.
Tuy
số
lượng
còn
sót
lại
chỉ
vỏn
vẹn
có
hai
bài
vọng
cổ
như
vậy,
nhưng
bấy
nhiêu
thôi
cũng
đủ
để
Hà
Bửu
Tân
khẳng
định
được
tài
năng
ca
vọng
cổ
của
mình.
Đặc
biệt
là
trong
bài
Xuân
đất
khách,
Hà
Bửu
Tân
đã
thể
hiện
được
cái
tầm
thượng
thừa
trong
ca
vọng
cổ.
Thời
gian
thắm
thoát
trôi
qua,
cái
tên
Hà
Bửu
Tân
đã
dần
phai
nhạt
trong
làng
sân
khấu
cải
lương,
thế
hệ
trẻ
mê
cải
lương
ngày
nay
có
lẽ
cũng
chẳng
có
nhiều
người
biết
đến
anh.
Thế
nhưng,
nếu
nhắc
đến
bài
Xuân
đất
khách
của
soạn
giả
Viễn
Châu,
thì
không
thể
không
nhắc
đến
Hà
Bửu
Tân
bên
cánh
nam
nghệ
sĩ,
và
Út
Bạch
Lan
bên
cánh
nữ
nghệ
sĩ.
Nói
cách
khác,
Út
bạch
Lan-Hà
Bửu
Tân
đã
trở
nên
bất
tử
cùng
với
bài
Xuân
đất
khách
của
soạn
giả
Viễn
Châu.
Khi
Hà
Bửu
Tân
chập
những
đi
hát
hồi
đầu
những
năm
1970,
thì
Út
Bạch
Lan
khi
ấy
đã
tiếng
tăm
lừng
lẫy.
Thế
nhưng,
giữa
bậc
tiền
bối
Út
Bạch
Lan
và
người
hậu
bối
Hà
Bửu
Tân
đã
cùng
để
đời
với
bài
Xuân
đất
khách.
Vì
sao
thế
?
Câu
trả
lời
có
thể
là
:
cả
hai
có
những
nét
chung
đưa
đến
sự
thành
công
trong
nghệ
thuật
ca
vọng
cổ.
Những
nét
chung
đó
chính
là
:
cả
hai
đều
có
giọng
ca
thiên
phú
rất
mượt
mà,
cả
hai
đều
là
bậc
thầy
trong
cách
sắp
chữ
trong
lòng
bản,
cả
hai
đều
có
nhịp
nhàng
điêu
luyện,
và
đặc
biệt
là
cả
hai
có
một
lối
ca
“hoa
lá
cành”
trong
cái
chuẩn
mực
“chân
phương
hoa
lá”
của
bài
vọng
cổ.
Nói
cách
khác,
Út
Bạch
Lan
và
Hà
Bửu
Tân
đều
ca
lã
lướt,
lối
luyến
láy
thần
sầu,
thế
nhưng,
họ
lả
lướt
mà
không
quá
điệu
đà,
luyến
láy
mà
không
quá
trớn,
tức
là
luyến
láy
vừa
đủ
để
thể
hiện
bài
ca
chứ
không
phải
để
khoe
giọng,
để
khoe
tài
năng
hay
để
khẳng
định
đẳng
cấp.
Bên
cạnh
đó,
Út
Bạch
Lan
và
Hà
Bửu
Tân
lại
ca
rất
“chân
phương”,
tức
là
ca
như
nói,
có
sao
ca
vậy,
không
bao
giờ
tạo
ra
cảm
giác
bị
ráng
hơi,
hoặc
chẳng
khi
nào
cố
tình
lên
gân
khoe
giọng.
Với
tất
cả
những
điều
trên,
ta
có
thể
khẳng
định
rằng,
“chân
phương
hoa
lá”
vẫn
là
«
cái
chuẩn
rất
chuẩn
»
của
bài
vọng
cổ.
Nói
«
chân
phương
hoa
lá
»
chỉ
có
hai
vế
bốn
từ,
nhưng
để
thể
hiện
được
một
trong
hai
vế
bốn
từ
đó
cho
đúng,
cho
đủ,
thì
quả
là
không
phải
chuyện
dễ
dàng.
Và
Út
Bạch
Lan
và
Hà
Bửu
Tân
đã
thể
hiện
được
tất
cả
những
điều
«
không
phải
chuyện
dễ
dàng
»
đó
trong
bài
Xuân
đất
khách.
Tác
giả
bài
viết:
meoxu
Nguồn
tin:
Lê
Phước
-
RFI
Ý kiến bạn đọc