13/4
đến
rồi
13/4
về
cũng
như
ngày
Tết
vậy,
sinh
nhật
web
lần
thứ
22
của
web
cailuongvietnam.com
lại
đến,
xin
chúc
trang
web
và
Àdmin
luôn
được
nhiều
sức
khoè.
được
sự
tin
yêu
của
bạn
đọc
và
luôn
là
nơi
dừng
bước
của
khách
mộ
điệu
nghệ
thuật
cải
lương,
quá
khứ
vàng
son
hay
một
tương
lai
vô
định
với
những
giấy
phút
tìm
về,
trăn
trổ
hướng
đi,
phát
triển...
hay...
Xem
tiếp...
Cố
NS
Út
Hiền:
MỘT
GIỌNG
CA
CÒN
PHẢNG
PHẤT...
Nói
đến
Cố
Nghệ
sĩ
Út
Hiền,
chỉ
những
người
mộ
điệu
ở
tuồi
trung
niên
trở
lên
mới
có
thể
cảm
nhận
được
giọng
ca
của
ông.
Mặc
dù
ông
về
cõi
vĩnh
hằng
đã
khá
lâu,
tuy
nhiên,
một
số
băng
đĩa
vẫn
còn
lưu
lại
giọng
ca
của
ông,
và
ai
có
dịp
nghe
lại
sẽ
không
khỏi
nao
lòng,
xao
xuyến
về
một
giọng
ca
truyền
cảm,
ngọt
ngào
như
còn
phảng
phất
đâu
đây…
ĐÔI
NÉT
VỀ
THỜI
THANH
XUÂN
Cố
Nghệ
sĩ
Út
Hiền
cùng
thời
với
các
nghệ
sĩ
tài
danh
như:
NS
Thanh
Hải,
Thanh
Tú,
Thanh
Nga,
Ngọc
Hương,
Bạch
Tuyết,
Diệu
Hiền…,
và
có
lẽ
ông
là
một
trong
những
kép
chánh
hát
cặp
với
NSUT
Ngọc
Hương
ở
đoàn
Hương
Mùa
Thu
lâu
dài
nhất.
NS
Út
Hiền
tên
thật
là
Lê
Minh
Khánh,
sinh
ra
tại
Gò
Vấp
–
Gia
Định
(
1940
)
trong
một
gia
đình
nông
dân
(
lúc
đó
Gò
Vấp
còn
là
vườn
ruộng
);
ông
mồ
côi
cha
sớm,
cùng
mẹ
sống
với
nghề
làm
vườn
ruộng,
có
lúc
buôn
bán
nhỏ.
Thiên
phú
cho
Khánh
có
làn
hơi,
chất
giọng
êm
dịu,
ngọt
ngào
nên
hồi
còn
là
một
học
sinh
đã
là
hạt
nhân
nòng
cốt
trong
phong
trào
văn
nghệ
học
đường,
cậu
ca
cả
tân
lẫn
cổ
nhạc.
Vì
thế
mà
trong
trường
Khánh
rất
được
bạn
bè
mến
thích,
hơn
nữa
tính
tình
cậu
hiền
hậu,
vui
vẻ
dễ
hòa
nhập
với
mọi
người.
Về
nhà,
Khánh
được
bà
con
hàng
xóm
yêu
mến,
nhiều
bạn
bè
của
mẹ
cậu
khuyến
khích
cho
cậu
học
ca
Cải
lương.
Điều
đó
là
liều
thuốc
kích
thích
thêm
lòng
đam
mê
của
Khánh
để
cậu
chọn
hướng
đi
cho
tương
lai.
Thế
là
Khánh
“
tìm
sư
học
đạo
“,
cậu
đến
lò
cổ
nhạc
của
nhạc
sĩ
Út
Trong
để
học
ca
Tài
tử
-
Cải
lương.
Ban
đầu,
Khánh
vừa
học
phổ
thông
và
học
ca,
nhưng
sau
đó,
cậu
rời
hẳn
trường
phổ
thông
để
chỉ
học
ca
(1956
-1957
).
Thầy
Út
Trong
thấy
Khánh
tính
tình
hiền
lành,
nói
năng
nhỏ
nhẹ,
giọng
ca
êm
dịu;
giọng
“
Đồng
pha
Thổ
“,
cách
buông
hơi,
nhả
chữ,
ngân
nga
có
phần
cảnh
hưởng
vua
Vọng
cổ
Út
Trà
Ôn
lúc
bấy
giờ,
nên
thầy
Út
Trong
đặt
nghệ
danh
cho
Khánh
là
Út
Hiền
Sau
một
thời
gian
đào
tạo
tại
lò
thầy
Út
Trong,
Út
Hiền
ca
chuẩn
bài
bản,
nhịp
nhàng,
hơi
giọng
nhiều
thể
điệu
Tải
tử
-
Cải
Lương
nên
thầy
Út
Trong
giới
thiệu
Út
Hiền
vào
gánh
Thanh
Minh
của
bà
bầu
Thơ.
Mặt
khác,
Út
Hiền
có
kỹ
thuật
ca
ngâm
êm
dịu,
ngọt
ngào
có
phần
giống
NS
Hữu
Phước,
mà
NS
Hữu
Phước
mới
rời
gánh
Thanh
Minh
về
với
gánh
Kim
Thoa,
nên
Út
Hiền
về
Thanh
Minh
cũng
có
nghĩa
là
kép
kế
thừa
triển
vọng.
Lúc
đó
gánh
Thanh
Minh
chỉ
còn
NS
Năm
Nghĩa,
Minh
Tấn,
Út
Bạch
Lan,
Thu
Ba
là
trụ
cột,
nên
bà
bầu
Thơ
thu
nhận
lực
lượng
trẻ:
Út
Hiền,
Út
Hậu,
Quang
Nhiều,
Mỹ
Hiền,…
xây
dựng
một
ê
–kíp
với
Thanh
Nga.
Tuy
nhiên,
các
anh
kép
trẻ
vẫn
được
coi
là
kế
thừa
triển
vọng,
chứ
chưa
thật
sự
hát
chánh,
chỉ
hát
những
vai
nhì
thay
phiên
nhau
trong
các
vở:
“
Núi
Liễu
song
Bằng
“,
“
Lửa
hờn
“,
“
Thiên
thần
trên
thiết
mã
“…
Nhưng
đây
là
“
bộ
ba
“
kép
trẻ
đầy
triển
vọng
của
gánh
Thanh
Minh
mà
khán
giả
cũng
như
các
ông
bầu
khách
chú
ý.
TÊN
TUỔI
RỰC
RỠ
Ở
HƯƠNG
MÙA
THU
Bà
bầu
Thơ
là
một
trong
những
bầu
gánh
nổi
tiếng
của
Cải
lương.
Bà
không
chỉ
có
tài
quản
lý
mà
còn
là
người
có
tầm
nhìn
xa
hiểu
rộng
với
nghề,
cũng
như
kinh
nghiệm
nuôi
dưỡng
và
sử
dụng
nhân
tài.
Do
vậy,
khi
ba
kép
trẻ:
Út
Hiền,
Út
Hậu
và
Quanh
Nhiều
mới
nổi
lên,
bà
liền
ký
contract
(
hợp
đồng
)
mỗi
anh
kép
20
ngàn
đồng
(
1958
–
1959
),
trị
giá
khoảng
20
lượng
vàng.
Nhưng
ngay
sau
đó,
ông
bầu
Long
chủ
Công
ty
Kim
Chung
gặp
riêng
ba
anh
kép
này
và
ký
hợp
đồng
cao
hơn,
bồi
thường
cho
bà
bầu
Thơ
gấp
đôi,
tức
là
20
ngàn
thành
40
ngàn
(
ba
người
là
120
ngàn
).
Như
vậy,
qua
một
hợp
đồng,
bà
bầu
Thơ
đã
lời
60
ngàn,
nhưng
bà
không
vì
tiền
mà
muốn
giữ
nhân
tài
lại
cho
gánh
mình.
Cuối
cùng,
bà
không
giữ
được
ba
anh
kép
trẻ
này,
vì
ông
bầu
Long
tìm
cách
để
mua
cho
bằng
được
ba
anh
kép
trẻ.
Vì
thế
lúc
đó
có
một
thời
gian
ông
bầu
Long
không
được
báo
chí
ủng
hộ,
không
viết
bài
giới
thiệu
về
Kim
Chung
và
những
nghệ
sĩ
đang
nổi
ở
Kim
Chung,
công
luận
phản
đối
việc
ông
“
mua
đào
bán
kép
“
cũng
là
một
thiệt
thòi
chung
cho
Kim
Chung
một
lúc.
Thế
rồi
đâu
cũng
vào
đó,
Út
Hiền
về
Kim
Chung
1
hát
kép
nhì
sau
NS
Thanh
Hải.
Út
Hậu
và
Quang
Nhiều
về
hát
nhì
cho
Kim
Chung
2.
Tuy
là
hát
kép
nhì,
nhưng
Út
Hiền
vẫn
đứng
bên
cạnh
Thanh
hải,
khi
cần
thiết,
hoặc
Thanh
Hải
bận
thì
Út
Hiền
có
thể
đảm
nhận
việc
thay
vai
cho
Thanh
Hải;
và
ông
cũng
tạo
những
cảm
tình
với
khán
giả
thời
đó
trong
nhiều
vở
ở
Kim
Chung
1
như:
Tiếng
trống
sang
canh;
Chiếc
lá
mùa
thu,
Trăng
lên
ngoài
cửa
ngục,
Sầu
quan
ải,
Hai
chiều
ly
biệt,
Cô
gái
sông
Đà,
Nắng
chiều
trên
sông
Dịch,
Nửa
bản
tình
ca,…
Có
thể
nói
rằng,
NS
Út
Hiền
có
những
nét
thu
hút
khán
giả
tiêng,
ông
có
vóc
dáng
khá
lý
tưởng
với
kép
mùi,
gương
mặt
sáng
và
phúc
hậu,
nhưng
khi
vào
vai
diễn
thì
tùy
theo
tính
cách
nhân
vật
mà
ông
bộc
lộ
tâm
lý,
tính
cách
khác
với
tính
tình
thường
ngày
của
ông,
như
nhận
vật
hùng
–
oai
phong,
hung
dữ
và
thâm
độc…
Đặc
biệt,
NS
Út
Hiền
có
làn
hơi
,
chất
giọng
trời
cho
,
với
cái
hay
khác
lạ
so
với
NS
Thanh
Hải
đang
là
cái
bóng
lớn
trước
ông.
Út
Hiền
có
thể
ca
êm
dịu,
ca
bốc,
và
hùng
hồn,
nên
khi
Thanh
Hải
ca
mùi
pha
âm
hưởng
ngâm
Tao
đàn
thì
Út
Hiền
ca
lối
hùng
tráng
hay
tự
sự.
Thanh
Hải
ca
hùng
và
bốc
thì
Út
Hiền
ca
mùi
êm
dịu,
với
kỹ
thuật
buông
hơi
nhẹ
hàng
cho
âm
giọng
vừa
buồn
-
mùi,
vừa
trữ
tình
–
mướt
mát…Út
Hiền
cũng
nhờ
kỹ
thuật
ca
ngâm
đó
mà
ông
được
ông
bầu
Ba
Bản
chiếu
cố,
mời
thu
nhiều
dĩa
hát
và
tên
tuổi
ông
nổi
lên
lúc
đó
(1962
–
1963
).
Vì
nhờ
ông
Ba
Bản
lăng
xê
mà
NS
Út
Hiền
nổi
tiếng.
Ông
nổi
tiếng
nhờ
giọng
ca,
chứ
không
phải
vai
diễn
nào
đặc
sắc,
vì
suốt
mấy
năm
vào
nghề
hầu
như
NS
Út
Hiền
chỉ
hát
vai
nhì
nhiều
nhất,
thỉnh
thoảng
mới
được
chia
vai
hay
thay
vai
chánh
vài
lần.
Khi
ông
hết
hợp
đồng
với
Kim
Chung,
ông
Ba
Bản
mời
ông
về
hát
cho
Thủ
Đô,
và
Út
Hiền
vẫn
hát
kép
nhì,
vì
lúc
đó
Thủ
Đô
có
vua
Vọng
cổ
Út
Trà
Ôn
và
vua
Tao
Đàn
Thanh
Hải.
Lúc
đó,
NSUT
Ngọc
Hương
cũng
hát
đào
thương
cho
Thủ
Đô,
và
Thu
An
là
soạn
giả
thường
trực.
Sau
đó,
soạn
giả
Thu
An
tách
ra
thành
lập
gánh
Hương
Mùa
Thu
(
1964
),
NS
Út
Hiền
mới
hát
chánh.
NS
Út
Hiền
tạo
được
tên
tuổi
rực
rỡ
nhất
lá
lúc
hát
chánh
ở
Hương
Mùa
Thu
với
những
vở:
Tiếng
nhạc
rừng
xanh,
Ảo
ảnh
Châu
Bích
Lệ,
Người
Anh
khác
mẹ,
Con
cò
trắng,
Gánh
cỏ
song
Hàn,
Chuyến
đò
thương,
Sài
Gòn
thác
bạc,
Tiếng
còi
sa
mạc,…
(
hầu
hết
là
kịch
bản
của
soạn
giả
Thu
An
).
Nhưng
rất
tiếc,
lúc
đó
gánh
Hương
Mùa
Thu
thường
xuyên
lưu
diễn
miền
Trung,
nên
tên
tuổi
của
Út
Hiền
hầu
như
gắn
liền
với
sự
mộ
điệu
của
khán
giả
miền
Trung
hơn
là
Sài
Gòn
thời
đó.
Cứ
mỗi
lần
Hương
Mùa
Thu
hành
trình
miền
Trung
là
từ
nửa
năm
đến
tám
tháng
một
chuyến.
Sau
năm
1975,
NS
Út
Hiền
về
hát
cho
Nhà
hát
Trần
Hữu
Trang
vài
vở.
Ông
hát
chánh
với
NS
Phượng
Liên,
nhưng
chỉ
có
một
vai
chánh
khá
tiêu
biểu
là
Lục
Vân
Tiên
trong
vở
cùng
tên
(1980).
Phong
cách
diễn
của
ông
vẫn
còn
phong
độ,
nhưng
giọng
ca
có
phần
vơi
đi
âm
hưởng
thời
vàng
son
như
lúc
ở
Hương
Mùa
Thu.
Theo
nhiều
nghệ
sĩ
lớn
cho
rằng,
NS
Út
Hiền
ca
hơi
giọng
không
như
ngày
trước
là
do
ông
thường
uống
rượu
khá
nhiều,
lúc
ngẫu
hứng
với
bạn
bè,
ông
thường
“
tới
bến”,
và
hậu
quả
sau
đó
là
ông
bị
bệnh
ung
thư
gan,
ông
qua
đời
ngày
16.06.1986
(
10.05
năm
Bính
Dần
)
tại
bệnh
viện
Nguyễn
Trãi,
và
được
an
tang
tại
nghĩa
Trang
Chùa
Nghệ
sĩ
(
Gò
Vấp
)
CÒN
ĐÓ
MỘT
GIỌNG
CA
PHẢNG
PHẤT
Trong
sự
nghiệp
ca
diễn
của
NS
Út
Hiền
còn
đọng
lại
cho
đến
hôm
nay
trong
băng
đĩa
là
giọng
ca.
Một
giọng
ca
đậm
đà
chất
ca
kịch
Cải
lương
của
một
thời
vàng
son
như
nhiều
Nghệ
sĩ
tài
danh
tên
tuổi
khác.
Đó
là
một
giọng
ca
truyền
cảm
,
ngọt
ngào,
đầy
hương
vị
của
Vọng
cổ
Nam
Bộ,
và
rất
thuần
chất
âm
điệu
ca
ngâm
trầm
bổng
để
làn
hơi
chất
giọng
ấy
mãi
mãi
phảng
phất
và
thấm
đậm
trong
tình
tri
âm
của
giới
mộ
điệu.
Vốn
có
hơi
giọng
“
Đồng
pha
Thổ
“,
nên
kỹ
thuật
ca
ngâm
của
Út
Hiền
có
nhiều
thuận
lợi
trong
cach
xử
lý
ngân
nga,
nhấn
nhá.
Chất
đồng
mỗi
khi
ông
ca
bốc,
hay
hùng,
được
bổng
lên,
nhưng
khi
nhận
vật,
hay
tình
huống
bi
ai
,
sầu
não
thì
ông
trầm
giọng,
chất
Thổ
nổi
lên
làm
cho
âm
điệu
ca
ngâm
trầm
lắng,
đượm
buồn,
mùi
mẫn.
Mặc
dù
những
tình
huống
ca
hùng
hay
bốc
,
nhưng
NS
Út
Hiền
đều
tiết
chế
hơi
giọng,
nên
cái
bốc
của
ông
không
quá
rổn
rảng
như
Út
Trà
Ôn
,
không
vang
vang
như
Thanh
Hải,
mà
chất
hùng
tráng
của
hơi
giọng
Út
Hiền
có
âm
hưởng
trầm
hùng
gãy
gọn.
NS
Út
Hiền
ca
ngâm
rất
dễ
nhận
ra
là
lúc
ông
ngân
–
rung
giọng,
khi
dứt
những
câu
ca
thì
ca
từ
cuối
câu
ông
nhấn
một
trọng
âm,
rồi
nín
hơi
lại
một
chút
mới
ngân
–
kéo
dài
hơi,
đưa
hơi
gió
“hơ…ơ…ơ
…..”
chậm
rãi
hơn
NSND
Út
Trà
Ôn
và
NS
Thanh
Hải,
nên
âm
giọng
của
ông
êm
dịu,
dặt
dìu
như
phảng
phất
một
mùi
hương,
mà
mùi
hương
đó
chính
là
cái
âm
điệu
được
ngân
dài
nhỏ
dần
rồi
nhỏ
dần
như
theo
chiều
gió.
Kỹ
thuật
này
được
thể
hiện
lúc
Hầu
Duy
Lễ
đối
đáp
với
nàng
Ái
Cơ
(
Ngọc
Hương
):
“
Tôi
muốn
nói
những
gì
đã
xô
tình
ta
vào
ngang
trái
và
vùi
chôn
ân
ái
xuống
hoang….mồ,
để
tôi
trầm
lặng
ôm
ấp
qua
tháng
đợi
ngày
chờ.
Lòng
quằn
quại
nhớ
nhung
đau
khổ,
khi
được
tin
nàng
vào
hỏa
tịnh
đăng.
Vó
ngựa
chiều
nào
không
muốn
bước,
khi
nàng
rẽ
cõi
mở
bông
lau.
Trông
theo
sầu
hận
dâng
cao,
vì
không
nói
được
một
câu
chung
tình
(
Vọng
cổ
câu
4
trong
vở
“
Lá
của
Rừng
Xanh
“
)
NS
Út
Hiền
còn
có
kỹ
thuật
đưa
hơi
riêng
là
khi
ca
Vọng
cổ,
ông
ngân
trong
lòng
câu
bằng
giọng
“
hơ…ơ…”
ở
cuối
một
số
khuôn
nhịp,
rồi
“
hơ”,
khiến
người
nghe
hồi
hộp
sợ
ông
ca
trễ
nhịp,
nhưng
ông
vẫn
bình
thản,
khéo
léo
dồn
văn
cho
kịp
nhịp
mà
ít
ai
phát
hiện
cách
dồn
văn
đó
của
ông,
nếu
không
muốn
nói
là
ông
chẻ
nhịp
một
cách
điệu
nghệ.
Đó
cũng
là
nét
riêng
của
NS
Út
Hiền
trong
ca
ngâm
về
kỹ
thuật
chẻ
nhịp,
mà
trong
nghề
thường
gọi
là
“
bỏ
nhỏ
“.
NS
Út
Hiền
đã
định
vị
được
làn
hơi
chất
giọng
với
phong
cách
ca
các
thể
điệu
Nam
–
Oán
theo
kỹ
thuật
Vọng
cổ,
còn
ca
Bắc
–
Quảng
thì
ông
không
sử
dụng
kiểu
cách
này,
mà
ông
nhấn
nhá
cường
độ
ở
những
nhịp
chính
hoặc
song
lang
để
biểu
đạt
nội
dung
ca
từ,
nghĩa
là
khi
ấy
kỹ
thuật
ngân
–
rung
giọng
bị
triệt
tiêu
trong
thanh
quản,
bung
ra
những
âm
nổ
hay
còn
gọi
là
bật
hơi.
Các
nghệ
sĩ
tài
danh
ngày
trước,
mỗi
người
một
vẻ
về
làn
hơi
chất
giọng,
kỹ
thuật
ca
diễn
riêng
đã
để
lại
cho
nghệ
thuật
Cải
lương
một
kho
tàng
phong
phú
phong
cach
ca
ngâm,
một
tài
sản
vô
giá
cho
thế
hệ
sau
lựa
chọn
để
học
tập.
Và,
quy
luật
“
sinh-lão-bệnh-tử”
không
ai
có
thể
tồn
tại
mãi
về
thể
xác,
nhưng
giá
trị
nghệ
thuật
thuộc
tinh
thần
thì
vẫn
mãi
trường
tồn,
khi
thế
hệ
sau
biết
quý
mến
và
gìn
giữ
nó.
Tác
giả
bài
viết:
tanconhac
Nguồn
tin:
Đỗ
Dũng
-
BSKTP
Ý kiến bạn đọc