13/4
đến
rồi
13/4
về
cũng
như
ngày
Tết
vậy,
sinh
nhật
web
lần
thứ
22
của
web
cailuongvietnam.com
lại
đến,
xin
chúc
trang
web
và
Àdmin
luôn
được
nhiều
sức
khoè.
được
sự
tin
yêu
của
bạn
đọc
và
luôn
là
nơi
dừng
bước
của
khách
mộ
điệu
nghệ
thuật
cải
lương,
quá
khứ
vàng
son
hay
một
tương
lai
vô
định
với
những
giấy
phút
tìm
về,
trăn
trổ
hướng
đi,
phát
triển...
hay...
Xem
tiếp...
CHO
ĐẾN
BÂY
GIỜ,
NHỮNG
KHÁN
GIẢ
LỚN
TUỔI
CŨNG
NHƯ
THẾ
HỆ
ĐƯỢC
XEM
LẠI
BĂNG
ĐĨA
CẢI
LƯƠNG
CỦA
CỐ
NSUT
THANH
NGA
CA
DIỄN,
KHÔNG
AI
KHÔNG
KHỎI
MỀM
LÒNG
CẢM
ĐỘNG,
TIẾC
THƯƠNG
MỘT
NGHỆ
SĨ
TÀI
HOA
BẠC
MỆNH.
MỘT
NỮ
NGHỆ
SĨ
CẢI
LƯƠNG
TÀI
SẮC
VẸN
TOÀN,
ĐƯỢC
CÔNG
LUẬN
TÔN
TẶNG
LÀ
"NỮ
HOÀNG
SÂN
KHẤU",
"CÀNH
VÀNG
LÁ
NGỌC
VIỆT
NAM",
"CÔ
ĐÀO
THƯƠNG
QUÝ
PHÁI"...
DÙ
BÀ
ĐÃ
VỀ
VỚI
TỔ
NGHIỆP
ĐÃ
HƠN
30
NĂM,
NHƯNG
CHÚNG
TÔI
MUỐN
GHI
LẠI
NHỮNG
TINH
HOA
NGHỆ
THUẬT,
NHÂN
SẮP
KỶ
NIỆM
34
NĂM
NGÀY
MẤT
CỦA
BÀ
(26.11.1978
-
26.11.2012).
TÀI
NĂNG
TUỔI
MỚI
MƯỜI
HAI
Cố
NSUT
Thanh
Nga
gốc
ở
Tây
Ninh,
nhưng
sinh
ra
và
lớn
lên
tại
Sài
Gòn
(1942),
trong
một
gia
đình
có
truyền
thống
ca
kịch
Cải
lương.
Thân
mẫu
của
Thanh
Nga
là
bà
bầu
Thơ
nổi
tiếng
trong
"Tứ
đại
bà
bầu
Cải
lương",
kế
phụ
của
bà
là
nghệ
sĩ
tiền
phong
-
danh
ca
Năm
Nghĩa,
em
trai
cùng
mẹ
là
NSUT
Bảo
Quốc,
cháu
là
NS
Hữu
Châu,
con
trai
là
diễn
viên
hài
Hà
Linh.
Cố
NSUT
Thanh
Nga
là
một
trong
những
cô
đào
thương
của
Cải
lương
sớm
thành
đạt
nhất,
mới
16
tuổi,
bà
đã
đoạt
HCV
duy
nhất
giải
Thanh
Tâm
đầu
tiên
(1958).
Năm
12
tuổi
bà
bắt
đầu
hát
đào
chánh
và
nổi
ngay
với
vai
diễn
đầu
tiên
Sơn
nữ
Phà
Ca
trong
vở:
"Người
vợ
không
bao
giờ
cưới"
của
soạn
giả
Kiên
Giang;
lúc
đó,
vai
này
ăn
khách
lắm
và
đã
đưa
Thanh
Nga
lên
đài
danh
vọng
HCV
-
Thanh
Tâm.
Cố
NSUT
Thanh
Nga
đã
để
lại
dấu
ấn
khó
phai
trong
lòng
khán
giả
mộ
điệu
Cải
lương
bằng
nhiều
vai
diễn.
Cuộc
đời
nghệ
thuật
của
bà
từ
lúc
chạm
đến
sự
thành
công
thì
liên
tục
phát
triển
nghề
nghiệp,
tích
tựu
những
tinh
hoa
cho
đến
ngày
về
với
Tổ
nghiệp.
Sân
khấu
cải
lương
Thanh
Minh
-
Thanh
Nga
trước
năm
1975,
NS
Thanh
Nga
đã
có
nhiều
vai
chánh
nổi
tiếng,
trong
đó
có
những
vai
trở
thành
dấu
son
của
gánh
và
tên
tuổi
của
bà
như:
Trinh
trong
"Con
gái
chi
Hằng",
Điêu
Thuyền
trong
"Phụng
Nghi
Đình",
Thanh
trong
"Tấm
lòng
của
biển",
Hương
trong
"Nửa
đời
hương
phấn",
Thảo
trong
"Bông
hồng
cài
áo",
Kim
Anh
trong
"Đời
cô
Lựu"...
Sau
năm
1975,
trên
sân
khấu
Đoàn
Thanh
Nga,
bà
đã
để
lại
nhiều
vai
không
kém
trước,
đặc
biệt
các
nhân
vật
do
bà
thủ
diễn
sâu
sắc
hơn
về
số
phận,
tâm
lý
tình
cảm
và
cả
bản
ngã
cuộc
sống...
như
những
vai
Vân
trong
"Ánh
sáng
và
bóng
tối",
Quỳnh
Nga
trong
"Bên
cầu
dệt
lụa",
Trưng
Trắc
trong
"Tiếng
trống
Mê
Linh",
Dương
Vân
Nga
trong
vở
"Thái
hậu
Dương
Vân
Nga".
Dương
Vân
Nga
là
vai
sau
cùng
của
bà
(1978),
nếu
không
thì
chắc
chắn
bà
sẽ
còn
nhiều
vai
để
đời
trong
lịch
sử
Cải
lương.
Cố
NSUT
Thanh
Nga
là
một
cô
đào
thương
Cải
lương
có
sắc
vóc
đẹp
toàn
diện,
nét
quý
phái
sang
trọng,
có
gương
mặt
thanh
tân
khả
ái
không
kém
phần
phúc
hậu,
thu
hút
mọi
đối
phương
khi
kiến
diện;
nhất
là
đôi
mắt
mờ
huyền,
nụ
cười
duyên
dáng
một
cách
tự
nhiên
không
cần
làm
kiểu,
đối
má
lại
lúng
đồng
tiền...;
nói
gọn
là
bà
có
khuôn
mặt
kiều
diễm,
quyến
rũ...
Nhiều
người
trước
đây
từng
nói:
"mua
vé
vào
rạp
chỉ
xem
sắc
vóc
Thanh
Nga
cũng
đã
đủ
tiền
vé
rồi,
còn
xem
bà
ca
diễn
là
phần
lãi".
Thêm
vào
đó,
giọng
nói
êm
êm,
đằm
thắm,
âm
điệu
buồn
như
đôi
mắt
bà
lúc
nhìn
xa
xăm;
âm
giọng
tự
nhiên
vốn
đã
có
tâm
trạng
dường
như
luôn
chất
chứa
một
nỗi
niềm
gì
đó...
tất
cả
những
tố
chất
ấy
khi
bà
vào
vai
diễn
khiến
khán
giả
phải
vui
buồn,
cười
khóc
theo
bà.
Những
nhân
vật
mà
NS
Thanh
Nga
diễn
chánh
trước
năm
1975
hầu
hết
có
số
phận
nghiệt
ngã,
đắng
cay;
bà
ca
diễn
bằng
tâm
tư
nỗi
niềm
trắc
ẩn
của
nhân
vật
nên
đã
chiếm
cảm
xúc
khán
giả
thật
sự;
khi
nhân
vật
mỹ
mãn,
hạnh
phúc
là
khán
giả
vui
cười,
khi
nhân
vật
đau
khổ
là
khán
giả
xót
thương
và
không
biết
bao
người
đã
rơi
lệ
khi
xem
vai
diễn
của
Thanh
Nga.
Có
lẽ
vai
Hương
trong
"Nửa
đời
hương
phấn"
đã
trở
thành
vai
gây
ấn
tượng
sâu
và
lâu
nhất
mà
Tùng
(NS
Thành
Được),
Hương
và
Diệu
gặp
nhau,
lúc
Diệu
cho
Hương
hay
ngày
cưới
của
Tùng,
mà
Tùng
là
người
yêu
cũ
của
Hương...
Ba
người
cùng
đối
đáp
nhau
trong
12
câu
Phụng
Hoàng
lớp
đầu,
và
thể
điệu
này
được
lưu
truyền
đến
nay
qua
bao
thế
hệ,
hầu
như
giới
Tài
tử
-
Cải
lương
và
ngoài
dân
gian
rất
nhiều
người
thuộc
lòng,
và
thường
ca
ngâm
mọi
lúc
mọi
nơi:
"Chị
Hai,
dù
sao
đi
nữa
thì
chị
cũng
về
với
hai
em,
cho
vui
lòng
ba
với
má,
để
mừng
ngày
em
vu
quy
xuất
giá.
Chị
đây
cũng
đẹp
mặt
nờ
mày
với
lối
xóm
bà
con.
Còn
dượng
Ba
đây,
là
một
thanh
niên
có
học
thức
lại
đàng
hoàng.
Chị
vô
cùng
sung
sướng,
khi
thấy
em
mình
có
tấm
chồng
như
lòng
chị
ước
mong..."
...
Nghệ
thuật
biểi
diễn
của
NSUT
Thanh
Nga
song
hành
với
giọng
ca,
mỗi
lời
ca
có
ánh
mắt
của
bà
dõi
theo
để
biểu
đạt
cảm
xúc.
Lúc
nào
bà
cũng
đặt
trạng
thái
của
nhân
vật
thành
tâm
trạng
của
mình.
Trong
lớp
Phụng
Hoàng,
Thanh
Nga
ca
diễn
với
hai
tính
cách:
một
là
chị
Hai
của
Diệu,
nhìn
Diệu
và
ca
những
lời
rất
mừng
là
thấy
em
mình
hạnh
phúc,
đã
chọn
đúng
người
chồng
lý
tưởng,
mặc
dù
mình
trong
ruột
héo
sầu,
cõi
lòng
tan
nát...
Cái
nhìn
của
Hương
trìu
mến
với
em
mình
(Diệu)
khi
ca
câu:
"...
Chị
đây
vô
cùng
sung
sướng
khi
thấy
em
mình
có
một
người
chồng
như
lòng
chị
ước
mong...".
Với
Tùng
(người
yêu
cũ)
bà
đối
diện
một
cách
bình
tĩnh,
nét
mặt
vô
tư
để
Diệu
không
nhận
ra
Hương
đang
bối
rối,
để
Tùng
không
băng
khoăn
là
về
cảnh
tình
ngang
trái;
đôi
lúc
Hương
nghiệm
nghị
để
ngầm
cho
Tùng
biết
là
mình
đã
vì
tình
yêu
của
em
gái
mình,
đôi
mắt
và
giọng
nói
bà
trở
nên
cứng
cỏi
như
một
lời
ngầm
thầm
gởi
trách
nhiệm
Tùng
phải
chăm
lo
hạnh
phúc
cho
Diệu...;
"...
Nếu
có
thương
người
xin
đừng
có
nói
ra
mà
làm
khổ
em
của
người
ta,
thà
đau
khổ
một
mình
chứ
đừng
để
sầu
cho
ai...
Sự
thật
đây
là...
Chị
Hai
đây
chính
là
chị
ruột
của
hai
em."...
Những
vai
diễn
mùi,
bi
thương
của
NS
Thanh
Nga
thời
ấy
đã
làm
rung
động
biết
bao
trái
tim
mến
mộ
bà.
Một
nét
riêng
của
bà
đã
cuốn
hút
khán
giả
dù
là
vai
diễn
-
nhân
vật
đau
khổ,
số
phận
nghèo
nàn
thế
nào
đi
nữa
thì
người
ta
vẫn
thấy
bóng
dáng
của
Thanh
Nga
ẩn
hiện
bên
cạnh
nhân
vật
một
vẻ
nhân
hậu
bao
dung,
từ
vai
Trinh,
vai
Hương,
vai
Thảo
đều
là
phog
cách
ấy;
nét
kiềm
diễm
lẫn
chứa
trong
nỗi
đau
thương,
nghiệt
ngã
của
nhân
vật;
một
Thanh
Nga
duyên
dáng
đằm
thắm
gắn
với
nhân
vật,
khiến
hình
tượng
nhân
vật
càng
thắm
sâu
vào
ký
ức
người
xem
hơn.
Vì
vậy,
báo
chí
kịch
trường
và
công
luận
tôn
tặng
NS
Thanh
Nga
là
"Cành
vàng
lá
ngọc
Việt
Nam",
"Nữ
hoàng
sân
khấu",
"Cô
đào
thương
quý
phái"...
THỜI
VÀNG
SON
NGẮN
NGỦI
Sau
giải
phóng
15
năm
(1975
-
1990),
Sân
khấu
Cải
lương
hưng
thịnh
nhất
trong
lịch
sử
của
nó
tính
cho
đến
nay,
những
năm
đầu
giai
đoạn
này,
với
những
vở
diễn
nổi
tiếng
của
Sân
khấu
Cải
lương
nói
chung
và
Đoàn
Cải
lương
Thanh
Minh
-
Thanh
Nga
nói
riêng,
có
sự
góp
mặt
rất
đáng
kể
của
cố
NSUT
Thanh
Nga.
Đó
là
những
vai
Vân
trong
"Bóng
tối
và
ánh
sáng",
tiểu
thư
Quỳnh
Nga
trong
"Bên
cầu
dệt
lụa",
Trưng
Trắc
trong
"Tiếng
trống
Mê
Linh",
và
vai
sau
cùng
của
bà
là
Dương
Vân
Nga
trong
"Thái
hậu
Dương
Vân
Nga".
Về
hơi
-
giọng
không
thể
không
nhắc
đến
bài
Vọng
cổ
nổi
tiếng
bà
ca
trên
Đài
TNND
-
TP
HCM
là
bài
"Bông
sen"
của
cố
tác
giả
Trần
Nam
Dân.
Cố
NSUT
Thanh
Nga
có
làn
hơi,
chất
giọng
"nữ
trung".
Loại
giọng
này
có
thể
lên
cao
hơi
âm
cơ
bản
từ
nửa
đến
một
cung
và
khi
hạ
xuống
độ
trầm
có
thể
từ
một
đến
ba
cung.
Nét
riêng
về
cấu
âm
của
cố
NSUT
Thanh
Nga,
tuy
là
giọng
nữ
trung
nhưng
vốn
hơi
giọng
"Thổ
lai",
âm
giọng
không
khàn
khàn,
không
ù
rè
nhưng
lúc
nào
cũng
lai
một
chút
âm
sắc
đục,
khi
nói
cũng
như
ca
nghe
buồn
rười
rượi.
Kỹ
thuật
ca
ngâm
của
bà
là
nhấn
trọng
âm
ở
những
ca
từ
mang
nội
dung
gợi
cảm,
hoặc
nội
dung
trọng
yếu
trong
một
câu.
Khi
nhấn
trọng
âm
như
thế,
bà
phát
âm
bằng
cách
dồn
hơi
gằn
giọng
nhấn
âm
tiết
trọng
điểm,
rồi
thả
nhẹ
hơi
trở
lại
ngân
-
rung
thanh
quản
một
chút,
khiến
âm
giọng
mùi
và
buồn
não
nuột:
"Bông
sen
trắng
nhụy
vàng
xa
xa
lấp
lánh,
lá
xanh
xanh
như
bàn
tay
chị
tay
em
vương
lên
nâng
bổng
ánh
sao...trời.
Đẹp
lắm
sen
ơi,
hương
vị
tuyệt
vời.
Thế
mà
trâm
hoa
thì
thầm
bảo
sen
như
là
hoa
cúc,
hoa
lan..."
(Vọng
cổ
"Bông
sen"
của
cố
tác
giả
Trần
Nam
Dân).
Khác
với
nhiều
nghệ
sĩ
khác,
thông
thường
người
ta
nhấn
hay
luyến
theo
thanh
điệu
của
ca
từ
(ngang,
sắc,
huyền,
hỏi,
ngã,
nặng)
ở
âm
tiết
chính
nhịp,
nhưng
NSUT
Thanh
Nga
không
nhấn
như
vậy,
mà
bà
nhấn
trọng
âm
theo
nội
dung
ngữ
nghĩa
của
ca
từ
(những
chữ
in
đậm).
Trong
vai
diễn,
NSUT
Thanh
Nga
khi
ca
thì
vừa
gằn
giọng
nhấn
trọng
âm
ca
từ,
vừa
gằn
giọng
kết
hợp
với
cái
liếc
mắt
biểu
đạt
tính
cách
nhân
vật;
nếu
giận
dữ
thì
gằn
giọng
mạnh
hơn
và
liếc
mắt
lạnh
lùng,
khi
trữ
tình
thì
bà
nhấn
trọng
âm
nhẹ
hơn,
buông
hơi
dài
và
kèm
theo
cái
liếc
mắt
dịu
dàng,
đôi
môi
khép
lại
để
lộ
hai
đồng
tiền
trên
má
rất
duyên
dáng
và
phúc
hậu...
Có
lẽ
một
trong
những
vai
diễn
sau
năm
1975
của
cố
NSUT
Thanh
Nga
là
Quỳnh
Nga
trong
"Bên
cầu
dệt
lụa"
của
cố
soạn
giả
Thế
Châu,
bà
biểu
đạt
theo
phong
cách
vừa
nêu.
Lúc
đưa
tiễn
Trần
Minh
(NSUT
Thanh
Sang)
đi
thi,
lúc
đấu
lý
với
công
chúa
Bích
Vântại
quán
gấm
đầu
cầu
cũng
theo
hai
cách
biểu
diễn
và
ca
ngâm
đặc
trưng
này.
Ca
diễn
đằm
thắm,
trữ
tình
là
lớp
mà
Quỳnh
Nga
tiễn
Trần
Minh
lên
đường
ứng
thí,
NSUT
Thanh
Nga
ca
nắn
nót
từng
lời
như
lời
tâm
sự
của
lòng
mình
đã
thay
cho
nhân
vật:
"
Em
không
dám
học
đòi
với
những
trang
nghĩa
phụ
ngày
xưa,
đã
cắt
tóc
bán
lấy
tiền
cho
chồng
đi
ứng
thí
lai
kinh.
Đây
một
hành
trang
chan
chứa
một
tâm
tình
và
số
bạc
mọn
chắc
chiu
trong
những
ngày
nắng
sương
tần
tảo.
Em
xin
trân
trọng
trao
tay,
ân
cần
đưa
tiễn
kẻ
đăng...
trình.
Gởi
gắm
vào
tay
tâm
sự
của
riêng
mình.
Em
đã
dám
vượt
khuê
môn,
bên
cầu
dựng
quán,
vì
nặng
nghĩa
ân
tình
nên
vượt
dòng
lễ
giáo
thị
phi.
Ngày
bản
hổ
danh
đề
làm
rạng
danh
tông
tổ,
em
không
mong
được
cùng
ai
vui
đạo
phu
thê,
nếu
chàng
nghĩ
suy
chút
nghĩa
tương
tri,
xin
với
cha
em
mà
nhẹ
điều
ân
oán"
(Vọng
cổ
câu
1).
Cũng
với
kỹ
thuật
nhấn
trọng
âm
những
ca
từ
có
nội
dung
trọng
tâm,
bà
không
hề
luyến
láy
hay
ca
cấn
cao
để
phô
diễn
làn
hơi
chất
giọng.
Do
vậy,
âm
sắc
của
NSUT
có
sức
truyền
cảm,
âm
điệu
buồn
buồn
như
ru
ngủ,
và
khi
nhấn
trọng
âm
tạo
thẩm
âm
sâu
lắng
hơn
(những
chữ
in
đậm).
Khác
với
kỹ
thuật
ca
diễn
trữ
tình,
lớp
Quỳnh
Nga
và
công
chúa
Bích
Vân
đối
đáp
tại
quán
gấm
đầu
cầu,
ánh
mắt
sắc
sảo,
đang
thép
và
âm
giọng
của
NSUT
Thanh
Nga
trong
hội
thoại
trầm
hùng:
"Dạ
kính
chào
tiểu
thơ...
Dạ,
buôn
bán
cũng
có
hàng
trăm
ngàn
mặt
khách,
nhưng
cũng
tuỳ
theo
cách
ăn
nết
ở
của
khách
mà
chìu;
cũng
như
nước
ở
biển
khơi,
sông
lớn
thì
rộng,
mà
vào
rạch
vào
mương
thì
hẹp
chứ...".
Rồi
bà
thay
đổi
ngữ
điệu
ca
nửa
cuối
câu
3
Vọng
cổ
bằng
thái
độ
an
ủi,
âm
giọng
nhẹ
nhàng
cùng
với
đôi
mắt
buồn
như
chia
sẻ
tâm
trạng
ngổn
ngang
của
công
chúa
Bích
Vân
từ
kinh
thành
lặn
lội
đến
đây
và
bị
thất
bại
trước
trận
tình:
"Xin
đừng
buồn
chi
nữa
hỡi
công
nương,
tình
yêu
vốn
có
nhiều
lạ
lùng
kỳ
dị,
không
thể
mua
bằng
trân
châu
ngọc
bích,
cũng
không
hề
chuộc
bởi
kim
ngân;
xin
hãy
về
với
điện
ngọc
với
cung
son
mà
ôm
ấp
tình
yêu
ru
cho
ngọt
giấc.
Được
yêu
chưa
hẳn
là
hạnh
phúc,
kẻ
đang
yêu
chưa
hẳn
đã
đau
sầu"...
Có
thể
thấy
lối
ca
tự
sự
của
NSUT
Thanh
Nga
về
kỹ
thuật
buông
hơi
nhả
chữ
có
phần
giống
nét
của
NSUT
Út
Bạch
Lan
và
NSUT
Ngọc
Hương,
nhưng
nét
riêng
là
âm
giọng
buồn
và
mùi
khác
nhau.
Âm
sắc
của
Thanh
Nga
trầm
buồn
hơn,
tiết
tấu
phát
âm
có
phần
chậm
hơn,
và
chính
chỗ
này
là
đặc
điểm
hơi
-
giọng
của
Thanh
Nga
có
sức
lắng
đọng
và
truyền
cảm.
Lối
diễn
đằm
thắm
là
đặc
điểm
nổi
bật
của
bà,
dù
ở
những
tình
huống,
hoàn
cảnh
kịch
sôi
động,
cao
trào,
nhưng
bằng
một
ngữ
điệu
và
thái
độ
bình
thản
không
quá
ồn
ào
hay
tỏ
ra
giận
dữ
như
hò
hét...,
kể
cả
ha
ivai
có
tính
cách
bộc
trật
mạnh
mẽ
hơn
như:
Trưng
Trắc
trong
"Tiếng
trống
Mê
Linh"
và
Dương
Vân
Nga
trong
vở
cùng
tên.
Mặc
dù
mỗi
nghệ
sĩ
có
phong
cách
ca
diễn
riêng,
có
nét
đặc
thù
riêng
và
để
lại
dấu
ấn
riêng
cho
khán
giả
nhớ
đến;
nhưng
từ
sau
năm
1975
đến
nay
chưa
thấy
cô
đào
nào
có
nét
giống
cố
NSUT
Thanh
Nga
về
ca
diễn.
Nét
đằm
thắm
trong
ca
diễn
ít
cô
đào
nào
có
được,
đó
là
tính
trầm
lắng
được
thể
hiện
ở
nội
tâm,
nhưng
sức
mạnh
của
nó
không
thua
gì
một
đội
quân
kỵ
mã,
cũng
chẳng
kém
mạch
sóng
ngầm
trong
bão
tố.
Một
Thanh
Nga
tài
hoa
bạc
mệnh
không
có
người
kế
thừa
về
tài
nghề
ca
diễn,
không
có
những
cô
đào
ca
diễn
đằm
thắm
mà
có
sức
chinh
phục
khán
giả
mạnh
hơn
những
ngọn
sóng
thần;
một
"nữ
hoàng
bạc
phận"
đã
sớm
"băng
hà"...
Ôi,
thật
là
đáng
tiếc!
Tác
giả
bài
viết:
tanconhac
Ý kiến bạn đọc